Thành phố mới nhìn từ đô thị trung tâm

15:12 01/11/2010
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thành phố Huế trong tương lai là một đô thị độc đáo có rừng, có biển, có đồng bằng, đầm phá với cảnh quan thiên nhiên hết sức phong phú, tài nguyên lịch sử - văn hóa – nhân văn - kiến trúc to lớn và đặc sắc. Huế còn độc đáo bởi tính hiện đại của nó, đô thị hình thành và phát triển là một thành phố sinh thái với một đô thị trung tâm và chùm đô thị vệ tinh, xây dựng hài hòa giữa đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh bằng vùng ven đô, vùng nông nghiệp, những làng quê, thôn bản mang đặc thù của Thừa Thiên Huế. Và theo định hướng đó, Huế là một thành phố hàm chứa một trung tâm văn hóa đặc sắc của đất nước, văn hóa Huế phát triển tương xứng trong mối tương quan kết nghĩa 3 thành phố “Huế - Hà Nội – Sài Gòn” với Hà Nội là trung tâm chính trị, Sài Gòn là trung tâm kinh tế và Huế là trung tâm văn hóa của đất nước.


VỊ TRÍ TRUNG TÂM CỦA HUẾ

Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương khiến không ít người không khỏi không phân vân. Biến một tỉnh trở thành một thành phố trực thuộc Trung ương có thể nói là một sự kiện quá mới mẻ và độc đáo, và Thừa Thiên Huế làm được thì sao các địa phương khác không làm, tại sao không làm được (trong quá khứ thành phố Huế lên loại 2 kéo theo một loạt thành phố lên loại 2, Huế lên loại 1 kéo theo một loạt thành phố lên loại 1 thuộc tỉnh). Điều này dễ dẫn đến những quyết định vội vã, đô thị phát triển không theo quy luật...đô thị phát triển nham nhở. Đổi tên một tỉnh thành thành phố thì quá dễ, nhưng tạo nên sự thay đổi mang tính bản chất thì không dễ chút nào.

Vậy từ đâu để Bộ Chính trị có Kết luận 48 ?. Điều mà ai ai cũng nhận thấy là từ khi có Kết luận của Bộ Chính trị, Thừa Thiên Huế thực sự có bước lột xác, những bức xúc trong phát triển đô thị được giải toả, nhiều bài toán về bảo tồn và phát triển được mở ra, người dân cảm nhận như được cởi trói, thóat khỏi chiếc áo chật chội của mình trong việc xây dựng quê hương đúng tầm vóc của nó.

Có thể nói trên nhiều phương diện Huế đã là trung tâm của miền Trung và đất nước, có vị trí trên trường quốc tế:

- Là một vùng đất văn hiến, có bề dày lịch sử - văn hóa đặc sắc, có 2 di sản văn hóa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của nhân loại, và con số này có thể nâng lên nhiều nếu được đầu tư chăm chút, Huế có gần 1000 di tích bao gồm di tích lịch sử cách mạng, di tích lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh, di tích văn hóa, danh lam thắng cảnh...Trên 500 lễ hội từ lễ hội cung đình đến lễ hội dân gian truyền thống, lễ hội tôn giáo... Nhiều lễ hội lay động tâm linh người dân không chỉ ở Huế, mà còn với người Huế xa quê, người Huế ở nước ngoài... với di sản văn hóa đồ sộ như vậy, cùng với sự kiên trì biến du lịch - dịch vụ trở thành trục xoay nền kinh tế trong mấy chục năm nay của tỉnh nhà, việc tổ chức thành công các kỳ Festival, Huế thực sự là một trung tâm văn hóa du lịch đặc sắc của đất nước.

- Vốn là kinh đô của đất nước, đất thu hút nhân tài vật lực, từ xa xưa Huế đã là đất học mà Quốc Tử Giám là tiêu biểu. Với trường Quốc Học - Đồng Khánh có bề dày lịch sử cả trăm năm, biết bao nhân tài của đất nước xuất thân từ 2 trường này, trong đó có chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại học Huế có trên 50 năm phát triển với cả chục trường đại học, trung tâm nghiên cứu chuyển giao công nghệ... Hàng năm thu hút cả 100.000 sinh viên đang nỗ lực trở thành đại học quốc gia, và từng bước phấn đấu trở thành đại học có tầm cỡ ở khu vực. Rõ ràng Huế là trung tâm giáo dục đào tạo của đất nước sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; là trung tâm đào tạo ứng dụng, chuyển giao công nghệ; tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả nước; góp phần hình thành nền kinh tế tri thức.

- Với trên 115 năm hình thành và phát triển, Bệnh viện Trung ương Huế là bệnh viện Tây Y đầu tiên của Việt Nam và Đông Dương, là một trong 3 bệnh viện đa khoa lớn và hiện đại nhất Việt Nam. Với đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa giỏi; Bệnh viện Trung ương Huế cùng với Đại học Y dược Huế, và ngành y tế Huế phát triển với tốc độ nhanh, cơ sở vật chất ngày càng hiện đại, xứng đáng là một trung tâm y tế chuyên sâu của miền Trung, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao trong chẩn đoán, điều trị, trong đào tạo, chuyển giao công nghệ, nơi đào tạo thực hành có uy tín của ngành y tế Việt Nam. Và trong xu thế hội nhập đang tiến tới hình thành ngành du lịch khám chữa bệnh.

Vị trí trung tâm của Huế còn thể hiện ở các thế mạnh của mình: có cảng nước sâu, có sân bay quốc tế, có cửa khẩu, có hệ thống giao thông đối nội đối ngoại tương đối hoàn chỉnh... Đây là những tiền đề quan trọng, một khi nền kinh tế thế giới phục hồi sẽ làm thức dậy cả vùng Đông Dương, Đông Nam Á.

Chính vị trí trung tâm của Huế là sự khác biệt của Thừa Thiên Huế so với các địa phương khác trong cả nước. Vị trí trung tâm này luôn làm cho thành phố Huế (cũ) luôn cảm thấy bức bối và việc mở rộng Huế ra toàn tỉnh là điều tất yếu.


ĐÔ THỊ TRUNG TÂM

Nhưng để Thừa Thiên Huế thành thành phố trực thuộc Trung ương, tạo nên những thay đổi thực sự về chất không phải là điều dễ dàng. Vấn đề hàng đầu là phải tạo sự bứt phá trong phát triển đô thị. Để tạo sự bứt phá trong phát triển đô thị đòi hỏi phải có một nguồn lực khổng lồ được huy động từ nhiều phía, nếu không sẽ dẫn đến bế tắc và nham nhở. Chúng ta đều biết, việc mở rộng thủ đô Hà Nội cần khoảng 250 đến 300 tỷ đôla cho phát triển đô thị; để đưa Bình Dương trở thành thành phố trực thuộc Trung ương đến năm 2020, Bình Dương đầu tư trên 150.000 tỷ đồng xây dựng nguyên một thành phố mới... Đối với Thừa Thiên Huế cũng cần có một phương án tài chính mạnh mẽ cho phát triển đô thị, rõ ràng khi Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 48 chắc chắn nguồn lực đầu tư của Trung ương phải được tính đến.

Quan điểm của Thừa Thiên Huế là phát triển thành phố theo mô hình chùm đô thị, đa trung tâm, bao gồm đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh. Trong đó thành phố Huế hiện nay là đô thị hạt nhân thúc đẩy toàn tỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Hướng đến năm 2025 là một đô thị cấp quốc gia, khu vực và quốc tế; là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, đào tạo lớn của đất nước và khu vực Đông Nam châu Á, là một thành phố Festival và du lịch đặc sắc, hấp dẫn trên thế giới.

Huế là đô thị trung tâm, đã là đô thị trung tâm phải làm nhiệm vụ trung tâm, nơi chứa đựng các cơ quan Đảng, Nhà nước và một số cơ quan trung ương, nơi các cơ quan kinh tế tài chính lớn, cơ sở vật chất bảo đảm cho các trung tâm y tế, giáo dục, khoa học công nghệ, thể dục thể thao... Điều này đòi hỏi phải có những xây dựng lớn. Nhưng Huế lại là đô thị cố đô, thành phố lịch sử, phát triển theo hướng bảo tồn di sản văn hóa vật thể; phi vật thể, hạn chế phát triển mật độ cao và tăng cường cây xanh khu vực nội thị hiện nay, tiếp tục giãn dân khu vực nội thành, đặc biệt là chung quanh Kinh thành Huế.

Trong đề án đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vừa được HĐND tỉnh thông qua nêu ra 2 phương án cho thành phố trung tâm. Nhưng dù phương án nào đô thị trung tâm cũng bao gồm Huế - Bình Điền - Tứ Hạ - Phú Bài - Thuận An. Điều nay đặt ra là phải kịp thời điều chỉnh các quy hoạch không còn phù hợp với tình hình phát triển đô thị trong mối quan hệ giữa bảo tồn, tôn tạo cảnh quan thành phố, các khu phố cũ và yêu cầu xây dựng phát triển các khu đô thị mới văn minh hiện đại.

Tất nhiên, nhận thức vấn đề này không phải dễ dàng, một sớm một chiều, khi mà địa giới hành chính vẫn đang còn ám ảnh và hiểu biết trong nhiều người còn chưa rõ ràng. Với các phương án của tỉnh, không chỉ Huế, các đô thị Bình Điền, Tứ Hạ, Phú Bài, Thuận An được xác định là các đô thị trung tâm, là một thể thống nhất của đô thị trung tâm. Chính việc mở rộng đô thị trung tâm sẽ giải quyết nhiều bức xúc của Huế, nhiều áp lực đối với Huế, đảm bảo cho đô thị cũ vẫn giữ gìn được bản sắc, không bị pha tạp...

Không gian mới của đô thị trung tâm một khi đã được xác định, đặt ra vấn đề phải có bước đi táo bạo, mạnh mẽ trong phát triển đô thị. Đô thị cũ phát triển trong giới hạn ít biến đổi mà phải đẩy mạnh chỉnh trang làm cho nó đẹp hơn, lung linh hơn, quyến rũ hơn, giữ gìn và phát huy những giá trị hiện có, trùng tu tôn tạo di tích, danh thắng và trong chừng mực nào đó nơi đây sẽ là thiên đường nghỉ dưỡng. Làm được điều này đòi hỏi phải tiếp tục giãn dân ở khu vực Nội thành, duy trì mật độ dân số vừa phải; tôn trọng không gian 2 bờ sông Hương; mặt khác phải có những quyết sách quyết liệt trong sắp xếp lại đô thị, hình thành những đô thị mới như đô thị đại học, trung tâm hội nghị quốc tế và khách sạn khu nghỉ dưỡng cao cấp... Phần đô thị hiện đại này phải được chuyển hướng về các đô thị trung tâm Phú Bài, Bình Điền, Tứ Hạ, Thuận An. Làm sao để đô thị trung tâm thóat khỏi chiếc áo chật về địa giới hành chính, chủ động trong làm mới bộ mặt đô thị của mình.

Tất nhiên, để đưa Thừa Thiên Huế nhanh chóng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị trung tâm phải nhanh chóng được ổn định để làm nhiệm vụ hạt nhân, động lực tăng trưởng cho thành phố mới. Xác định rõ điều này trong 7 chương trình trọng điểm phát triển đô thị của tỉnh, chương trình nâng cấp phát triển đô thị Huế, Hương Thuỷ, Hương Trà, Thuận An là chương trình số 1. Để đô thị ổn định việc giãn dân ở khu vực nội thành, ổn định dân cư vùng xung yếu, vùng di tích phải được triển khai mạnh mẽ, quyết liệt kể cả việc di dời các cơ quan đơn vị, trường học đóng trong Nội thành không còn phù hợp, không bảo đảm quy hoạch; mặc khác phải đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng cơ sở, nhất là việc giải quyết thóat nước và xử lý nước thải, khơi thông hệ thống thủy đạo Kinh thành Huế. Cần nhận thức đầy đủ về phát triển đô thị lành mạnh, có quan điểm rõ ràng trong phát triển đô thị: - Phát triển trước, làm sạch sau hay quan tâm làm sạch ngay từ đầu? Đô thị lúc nào cũng ngổn ngang thì thành phố không thể nói sạch - đẹp được. Thành phố mới mưa đã ngập; sông, hồ, hào lúc nào cũng ô nhiễm thì không thể nói là đô thị văn minh. Đô thị ổn định chính là tiền đề cho thành phố xanh - sạch - đẹp – sáng.

Thừa Thiên Huế đứng trước cơ hội lịch sử; các ngành các cấp, các địa phương đang thực hiện Kết luận 48 của Bộ Chính trị bằng những chuyển động mới với quyết tâm chính trị cao. Tất nhiên, để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương phải có lộ trình, bước đi thích hợp, phải nhận thức đầy đủ đặc trưng của Huế, phải có cái nhìn toàn cục về đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh. Thành phố trong tương lai phải là thành phố mà người dân tự hào về đô thị của mình, có những nét riêng độc đáo mà chỉ Huế mới có.

HẢI LÊ
(SDB 10-2010)


Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.

  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.