NGUYÊN QUÂN
Khu chợ, những ki ốt bê tông vươn mặt ra phía con suối rộng cả trăm mét, đang cuồn cuộn dòng nước đục ngầu. Đứng ở vị trí này, tì hai tay xuống vai chiếc cầu hiện đại vắt ngang suối, có thể duỗi tầm mắt nhìn suôn suốt đến tận dãy núi cao vút đầu nguồn. Khe Tre là đây. Khe Tre đầy những câu chuyện đường rừng huyền hoặc của thằng Ngạn là đây sao.
Minh họa: Nhím
Tôi bất chợt cười, cái cười hoài niệm ký ức ngớ ngẩn về một thần tượng tôi vẫn gọi là đại ca. Đã là ký ức tuổi thơ bao giờ cũng sâu đậm như một nét bút mực tàu xổ trên tờ giấy trắng, rất khó phai nhạt. Nên cho dù bây giờ tôi đang tận mắt nhìn thấy cái chợ, con khe và xa xa là dãy núi rừng đại ngàn thăm thẳm, cho dù đã đi qua con đường cao tốc láng như trải mỡ chạy ngoằn ngoèo qua bao dốc núi truông khe, và hiện tại sau lưng là một khu thị tứ sầm uất nhà ngang dãy dọc đầy đủ quán xá, những mặt người phởn phơ no đủ, những hình hài xúng xính trang phục hiện đại, lả lướt trên những chiếc xe đời mới.
Đã thấy vậy, nhưng ký ức tuổi thơ cứ vẫn mù mờ về cánh rừng nguyên sinh đầy hoang thú, những bàn chân trần của những cô sơn nữ chấp chới váy hoa thổ cẩm trên những dốc rừng... Những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, xóm tôi bỗng dưng có thêm một thằng nhóc trạc tuổi, nhưng thân hình bự chảng, nó đứng vượt cao hơn tôi cả cái đầu, dù tôi cũng thuộc loại to xác ác hình trong xóm. Mười hai tuổi, cái tuổi vừa bước chân lên trung học, hoang nghịch nổ trời, dại khờ tận mạng, nhưng cũng đầy trí tưởng ú ớ mị mộng. Thằng Ngạn khe tre, đó là biệt danh bọn nhóc cùng lứa ở cái xóm Thượng Thành này đặt cho nhân vật mới, vì theo như những người lớn trạo miệng, gia đình thằng Ngạn ở tuốt trên Khe Tre, vì vùng đó có chiến sự ác liệt nên phải gồng gánh nhau tản cư về xuôi.
Ừ thì cái xóm Thượng Thành chúng tôi, gia đình nào mà chẳng là dân chạy từ những vùng chiến sự khốc liệt về đây, mượn bức tường thành cổ kính vững chải đã tồn tại hàng trăm năm để che tôn kéo bạt làm nơi cư trú. Gia đình thằng Ngạn chỉ có một mẹ, một con. Mẹ hắn, người đàn bà góa bụa, bán cháo lòng gánh rong loanh quanh trong mấy cái ngõ xóm tạm cư toàn ròn lao động nghèo. Thằng Ngạn tuy to lớn dềnh dàng, nhưng tính tình hiền lành, thiệt thà như cục đất. Thời gian đầu tiên hắn mới nhập tịch đứa nào cũng ngán cái thân hình to cao, luôn ở trần trùng trục của nó, dần dần cái tính đặc trưng con nít là chó chùm ỉ đông lấn luôn cái ngán sợ. Vậy là ăn hiếp, rồi phát hiện được cái tính hiền khô nên càng khoái. Thằng Ngạn Khe Tre hình như cũng khoái bị ăn hiếp, dù cả bọn xui dại giao cho bao thứ nhiệm vụ mà bọn trẻ ranh đã sống quen thành phố coi như bất khả thi như trèo cây hái trộm, hù rượt chó dữ, leo xuống bờ thành cao nghệu để nhặt cầu, nhặt banh. Để hắn luôn hăng hái vui vẻ lao đi thi hành mệnh lệnh thì cả bọn lại đua nhau tung hê cổ vũ hắn lên ngôi vị đại ca.
Sự tinh quái của bọn nhóc không dừng lại chỉ chừng đó, thằng Ngạn đôi khi cũng phải biến hóa thành cái bao cát cho cả bọn đấm đá thình thịch lên cái lưng trần đen trùi trũi. Đấm tùy thích, hắn vẫn gồng lên, học đúng kiểu dáng của mấy ông lực sĩ thể hình trên mấy bức hình báo chí, lịch treo tường. Tuy vậy hắn vẫn cười khì khì vẫn hăng say tham gia mọi thứ trò bọn nhóc chúng tôi thời ấy nghĩ ra. Chỉ thỉnh thoảng cả bọn bị mẹ hắn gọi lại, hối lộ cho mấy miếng gan heo ăn nể cùng lời dặn dò ngọt lịm là đừng ăn hiếp thằng Ngạn… Ký ức tôi về thằng Ngạn không chỉ lưu trữ những trò chơi tai quái của bọn nhóc ngày xưa, đó chỉ là một sự dẫn nhập cho một thứ ký ức lạ lẫm kỳ bí đã ám ảnh suốt tuổi thơ. Thằng Ngạn vốn rất thích kể chuyện, những câu chuyện của hắn là một cái thế giới hoàn toàn lạ lẫm về một vùng núi non, đầy ma thiêng nước độc, về những con cọp luôn rình mò theo bước chân người và những giống dân ăn thịt người.
Cái biệt danh Khe Tre dính với tên hắn cũng phát xuất từ những câu chuyện hắn kể dưới tàng cây trứng cá, bên bờ hộ thành hào hay những lúc cả bầy chùm hum ăn cho hết mọi thứ trái cây hái trộm. Khe Tre, hắn luôn bắt đầu cụm từ “hồi tau còn ở khe tre...” Hắn kể về những con cọp rình rập nhà, bị hắn lấy rựa chặt đuôi chạy chí chết; hắn kể về những người thượng cà răng căng tai, những ông thầy mo có bùa phép bắt ma bỏ trong những chiếc hồ lô; hắn kể về những đêm trăng, lũ cọp beo gầm rú đánh nhau bên bờ khe để giành xác con nai; kể về những con chồn có cánh bay lượn vèo vèo như chim từ bờ khe bên này qua bờ khe bên kia, rồi cái khu chợ mà mẹ con hắn sinh sống luôn có những người bản thượng dữ dằn vằn vện, từ rừng sâu mang những con thú hoang dã ra chợ bán. Phải nói những gì hắn kể, như mở ra trong tôi thứ cảm giác thích thú, tôi nuốt lốn mọi chi tiết như người lớn nhấm nháp men rượu mạnh, thích thú thì quá thích thú, nhưng vẫn luôn kèm theo thứ cảm giác sờ sợ. Mà chẳng riêng chi tôi, cả bọn nhóc cũng lấm la lấm lét đùn đẩy ngồi co cụm vào nhau.
Rồi những gã thầy mo, con cọp to như con trâu mộng, tiếng gào rú của bầy dã thú tranh mồi, thanh âm rờn rợn của con ma xó trong góc nhà sàn... từ miệng của thằng Ngạn Khe Tre đi sâu vào từng cơn ác mộng, nhưng cũng ra một thế giới huyền ảo trong tâm thức tôi. Và địa danh Khe Tre trở thành một ám ảnh khát khao trong nhiều năm dài... cho đến bây giờ. Nhìn dòng nước ngầu đục của con khe mùa mưa, cuồn cuộn chảy, tôi liên tưởng đến những câu chuyện xa xưa và nhớ da diết thằng đại ca Ngạn Khe Tre. Không biết hắn đã có lần nào trở về lại nơi đây chưa, cái câu “hồi còn ở Khe Tre” sau mấy chục năm dài có còn vướng vất đầu mỗi câu chuyện hắn kể cho bọn con nít thành phố, bọn con nít hiện tại trên tay đầy phương tiện trực tuyến chạy rong trên xa lộ thông tin toàn cầu có dễ bị dẫn nhập vào cái mị mộng huyền hư rừng rú hoang thiên như bọn nhóc ngày xưa hay không. Quê của hắn bây giờ không như những gì hắn hoài niệm, con cọp tham ăn rình mò chuồng heo bị hắn chém một nhát vào đuôi chạy tít mù đã đánh mất tiếng gào tranh mồi bên bờ khe bởi tiếng nổ ì ầm của những cổ máy xúc, máy ủi san mở con đường cao tốc; gã thầy mo trong căn nhà bê tông, lát gạch hoa sáng trưng cũng chẳng còn cái bếp nhà sàn, để hong khói chiếc hồ lô nhốt lũ ma quỷ hung dữ.
Hắn có lần nào trở về Khe Tre của hắn hay chỉ có tôi đứng đây, trên chiếc cầu bóng loáng dưới cơn mưa mùa đông buôn buốt, để hoài niệm về một thế giới huyền ảo mà thằng Ngạn chấp nhận bị những đứa yếu đuối hơn ăn hiếp để có cơ hội được kể về quê nhà trong mơ của hắn, một quê nhà huyền hoặc lãng mạn đã bị chiến tranh và nền văn minh hiện đại đánh cắp.
N.Q
(SHSDB32/03-2019)
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.
ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.
NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.