NGUYỄN VĂN UÔNG
Tùy bút
Tuổi càng cao càng có nhiều nỗi nhớ vu vơ. Tôi đang trong tình trạng đó. Nhớ cồn cào đến xao xuyến là mỗi dịp xuân về: Nhớ Tết quê tôi. Nhớ tuổi thơ tôi và nhiều nỗi nhớ khác nữa.
Ảnh: internet
Quê tôi ngoài thành phố Huế không xa. Quanh năm, người dân một nắng hai sương bên con trâu và đồng lúa. Tết là dịp để được nghỉ ngơi và vui chơi. “Chẳng thong dong cũng ba ngày tết”. Có nhà thơ đã nói vậy không sai. Để được ba ngày Tết “thong dong”, suốt năm người dân quê tôi phải tích cóp từng đồng xu, cân gạo. Nhớ Tết là nhớ những vất vả, lo toan cả năm làm lụng của mẹ tôi để ngày Tết cho con tấm áo mới, để ngày Tết có nồi bánh tét nghi ngút khói cay mắt đêm ba mươi, có bánh quả dâng cúng ông bà, có mứt trà chiêu đãi bà con nội ngoại đến dâng hương nhà tổ phụ. Nhớ Tết là nhớ cái rét cắt da từ đầu tháng chạp khi lần đầu tiên tôi theo đoàn người trong bổn tộc chạp mộ tổ tiên. Năm ấy, ông trưởng tộc nhắc nhở tôi mấy ngày trước đó: “Mi đã lớn rồi, năm ni theo mấy chú đi chạp mả để biết mộ tổ tiên”. Mười ba tuổi đã lớn rồi sao? Tôi kinh hãi khi phải lội qua mấy vũng nước nhi nhít những con đỉa vũ điệu đung đưa nhịp nhàng, khi ẩn khi hiện trong làn nước đục ngầu màu đất nghĩa trang. Nhưng cũng do “đã lớn rồi”, lần đầu tiên tôi được ngồi vào mâm cỗ xôi thịt khi trở lại từ đường cúng tổ tiên. Năm ấy, tôi không còn phải nhận nắm xôi và “miếng thịt họ” mấy chú phát cho con cháu nhỏ nhân ngày chạp mộ để lẽo đẽo mang về nhà ngồi ăn một mình.
Trưa ba mươi Tết, mẹ tôi từ cánh đồng làng bươn chải trở về nhà. Nhà đã được mẹ dọn dẹp từ trước nên khi xếp gióng gánh lên giàn heo thì nhà đã khá tươm tất cho không khí Tết. Mẹ lễ mễ soạn ra nào nếp, nào đậu, nào thịt thà đã chuẩn bị trước, điều hành chị em tôi phụ mẹ chuẩn bị mâm cơm cúng Tết. Chị em tôi giúp mẹ khối việc và vào khoảng sắp tàn ngày thì trên bàn thờ nghi ngút khói hương đã bày biện đủ mâm cỗ cúng. Mẹ tôi cũng bảo tôi điệp khúc như ông trưởng tộc: “Mi đã lớn rồi, vô thắp hương cúng mời ba và ông bà về ăn Tết”. Đứng trên bức ngựa gõ mun gian giữa nhà tổ phụ, lâm lâm khấn vái, tôi tự nhủ “mình đã lớn rồi!”.
Mẹ tôi chuẩn bị nếp đậu, lá lạt cho nồi bánh tét trong khi tôi hầu ông bà dùng khói hơi mâm cơm cúng. Khi mâm cỗ nguội lạnh dọn xuống chõng tre trải chiếc chiếu hoa mới còn thơm mùi lát, bốn mẹ con tôi thưởng thức hương vị bữa cơm ngày Tết ấm cúng, chan hòa trong khi bên ngoài cái lạnh về đêm vờn vũ theo từng đợt gió bấc, mưa phùn xào xạc.
Gói bánh tét là khó khăn nhất trong công việc của ngày Tết. Không nhiều nhưng năm nào, từ cuối vụ gặt, mẹ cũng chuẩn bị lưng đấu nếp cái, vài lon đậu xanh cho nồi bánh tét. Tất cả mẹ đã sẵn sàng, chỉ chờ khi chị tôi giúp mẹ thu vén xong bữa cơm Tết là bắt tay vào việc. Tôi ngồi bên mẹ, xem mẹ đong nếp vào lá, trải nhân đậu, cuốn lá, bỏ nếp phủ đầu và buộc lạt. Mẹ chỉ cho tôi từng động tác và tôi giúp mẹ cột từng múi lạt, hoàn thành đòn bánh tét. Nồi nấu bánh tét nhà tôi chỉ là cái thùng dầu hỏa tận dụng làm thùng gánh nước mỗi ngày. Có năm, mẹ thêm vài lon nếp thì phải bắt thêm một cái soong cạnh bên. Đêm khuya, tiếng lửa nổ tí tách, nồi bánh sôi sùng sục, chị em tôi thay nhau châm củi thì mẹ tôi chuẩn bị chè bánh cho cỗ cúng giao thừa và dành sáng mai cúng mừng năm mới. Tôi thiếp đi, tỉnh dậy mấy lần trên tấm chiếu trải bên nồi bánh, trời vẫn chưa sáng. Và… và… khi tôi bừng dậy thì đã thấy bánh tét xếp la liệt trên chiếc nong tre. Ngày nguyên đán không có nắng, gốc mai vàng trước ngõ rung cánh lả lơi với ngọn gió xuân và đám mưa bụi mờ ảo mông lung. Tôi mặc áo mới làm “người lớn” cúng lễ đầu năm. Lúc này tôi mới thấy mẹ tôi “thư thái”. Ba gian nhà thờ nghi ngút hương hoa. Tôi xong lễ, mẹ tôi tiếp theo. Những năm trước, chỉ mẹ tôi cúng lễ, nhưng năm nay, mẹ cúng sau tôi. Cái ý thức “đích tôn thừa trọng”, luân lý “phụ quyền” và đạo lý tam tòng “phu tử tòng tử” hình thành trong nếp sống người dân quê tôi sâu đậm đến thế sao?
Dầu sao tôi cũng chỉ là một đứa bé mười ba tuổi còn ham vui với tiếng pháo xuân, với cái súng diêm sinh tự chế bằng van xe đạp và nhúm lông đuôi gà; còn mãi mê với thú chơi đu tiên, đu chùa; còn theo bạn bè nhẩn nha vào các rạp bài chòi, bài ghế nghe ông hiệu hô bài, vào sân đình chen chúc mấy hội bài vụ, nhất lục, bài thai; và đặc biệt năm ấy, mấy cụ bô lão làng tôi tổ chức trò chơi bói Kiều dưới cây sen trước tam quan chùa làng. Cây sen già xanh mướt mới nhú chồi non được treo lủng lẳng những bì giấy hoa màu sặc sỡ. Có đến hàng trăm bì giấy treo cao quá tầm đầu người. Một hương án kê dưới gốc sen, muốn đoán vận hạn năm mới thì khách hãy đến thắp nhang, trịnh trọng khấn vái “ông Kiều, bà Kiều” cho quẻ. Dang tay rút một quẻ Kiều, khách tìm xem thời vận trình phong thư cho người phụ trách diễn giải. Những câu thơ Kiều được diễn ngâm kèm theo lời bình vận hạn tốt đẹp suốt năm làm nức lòng người tìm niềm vui đầu xuân. Tứ thơ đẹp, lời thơ hay, lời bình tâm lý… có niềm vui nào hơn thế trong ngày mới nguyên đán linh thiêng
Tết năm nào nhà tôi cũng là nơi tụ hội của những người thích chơi bài tới. Mẹ tôi và chị tôi là những “con bạc máu me” với thú chơi dân dã này. Cái chõng tre giữa gian nhà dưới lúc nào cũng thừa tay cho một sòng bài. Sáu người trên chiếu còn vài người đứng nhìn bên ngoài. Thăm viếng nhau trong ngày Tết, mừng tuổi ông bà xong nếu rỗi rãi thì cùng ngồi vào chiếu, xoa bài, bốc mấy con ầm, tử, mỏ, đấu, đượng… rồi đi bài, tới bài… cười vui rôm rả ngày đầu năm thì ai mà bỏ qua cho được thú vui này. Thế mà mẹ tôi hay chị tôi đôi khi phải nhường chỗ cho khách để lo lễ vật cúng ba bữa Tết.
Mấy ngày Tết, mỗi ngày mỗi thức cúng, chủ yếu là những thứ mẹ tôi đã chuẩn bị sẵn. Bánh khô, bánh nổ, mứt gừng đã làm cuối tháng chạp. Xôi đường, bánh gói, bánh lá, bánh ít… chỉ việc mang nguyên liệu ra chế biến, nấu hấp là xong. Thời đó đường cát còn là thứ hàng xa xỉ, cao cấp đối với người dân quê. Từ tháng chạp, mẹ tôi đã tinh lọc từ đường bánh màu đen với chất phụ gia là một ít nước bùn, lòng trắng trứng thành một thứ nước đường vàng trong để làm bánh, ngào mứt và dành lại đầu năm hon xôi đường. Mứt gừng thơm cay ngửi đã thấy thèm mà tôi không sao nuốt nổi vì cay nồng quá. Tôi chỉ thích ăn những tảng đường đóng lại trong chảo hay có ăn mứt gừng thì cũng chỉ mút sạch đường rồi nhả gừng ra. Thế mà nay, mỗi lần Tết đến, sao cứ nhớ mãi hương vị cay nồng đó từ những lát mứt gừng ngày Tết của mẹ tôi. Bột làm bánh cũng là một kỳ công của mẹ tôi. Thời ấy đã có bột gạo, bột nếp chế biến sẵn, đóng gói bán ngoài chợ, nhưng mẹ tôi không dùng. Lý do mẹ tôi đưa ra là không ngon và mắc. Những đến cuối tháng chạp, trong giấc ngủ, tôi vẫn nghe tiếng chày tay của mẹ tôi thậm thịch vào cối giã bột. Rồi tiếng lừa bột tách tách trên trẹt tre..., rồi lại tiếng chày..., tiếng lừa bột tách tách... lặp đi lặp lại nhiều lần. Sáng ra, mẹ tôi đã cất kỹ bột đâu đó nhưng trên nền nhà đất, bụi bột còn vương trắng. Những năm gần đây tôi trở lại cảm giác thèm hương vị những cái bánh ít bột nếp. Tôi tìm mua được vài lần nhưng không có lần nào tìm lại được cảm giác như khi ăn những cái bánh ít bột nếp của mẹ tôi ngày xưa.
Thế đó! Tết về tôi lại nhớ vu vơ. Nhớ Tết là nhớ về tuổi thơ, nhớ mẹ tôi. Nhớ cả buổi cúng sao đầu năm ngoài sân, trước gốc mai già với những tranh nam, tranh nữ, tranh bổn mạng, tranh gia súc, tranh dụng cụ nhà nông… Mỗi thứ một thức có đề tên bằng chữ Hán cho người và vật được thế mạng. Trăng đêm đầu tháng giêng chưa đầy, gác nghiêng đọt tre trước ngõ là lúc mẹ tôi “hỏa phần” các tranh cúng và rải cháo thánh xuống gốc mai. Sáng ra, một ngày xuân có nắng ấm, cây mai đã tàn hoa, nhánh bung đầy lá xanh non mơn mởn là tín hiệu báo cho tôi biết không còn Tết nữa. Những lo toan nhà quê lại trở về với người dân quê tôi. Trên đường quê đã có nhiều người nhẩn nha ra đồng. Con trâu đen, sạch láng bóng, miệng nhai trệu trạo, ngúc nguẩy chiếc đuôi với nhúm lông, bước theo sau ông chủ.
Tuổi thơ thì ai cũng chỉ một lần, đã qua rồi, còn lại là hoài niệm. Mẹ xa tôi đã ba mùa Tết. Tôi nhớ những năm tháng cuối đời của mẹ, mỗi kỳ chuẩn bị Tết bên chiếu gói bánh tét, tay yếu nhưng mẹ vẫn mân mê những nút lạt. Quê hương giờ này đã xa vời vợi. Khoảng cách không phải không gian, không phải trở ngại dốc đèo mà chính ngay trong nỗi niềm hoài vọng. Tìm đâu? Biết tìm đâu bóng dáng tháng ngày? Nước chảy xuôi thì ai tắm được hai lần trên một bến sông. Tết lại về! Sờ mái tóc thấy còn mượt mà. Biết mình đã già nên không dám soi gương tìm sợi bạc. Thôi thì… hãy vui với xuân này. Ngày mai nhớ về hôm nay cũng là một hoài niệm. Trên bàn thờ mẹ tôi, hoa cúc vàng cùng khói hương mang Tết về...
N.V.U
(SH288/02-13)
Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc. Nguyễn Du trở về, ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm «Chữ tình chốc đã ba năm vẹn», lưu lại trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương.
Báo Tin Tức Chúa Nhựt, 3.11.1940 mở đầu bằng mấy hàng như sau: “Hai mươi chín tháng Chín Annam (20 Octobre 1940). Thêm một ngày đáng ghi nhớ. Một người đã mất: cụ Sào Nam Phan Bội Châu”
Với giọng văn sinh động, pha chút hài hước, hình minh họa ngộ nghĩnh, phù hợp với lứa tuổi học trò: “Chuyện kể về thầy trò thời xưa”, “Những tấm lòng cao cả” hay bộ văn học teen “Cười lên đi cô ơi”… sẽ đem đến cho độc giả nhiều cung bậc cảm xúc và hoài niệm.
Trong tất cả các Ni sư Phật giáo mà tôi được biết và chịu ơn hoằng pháp vô ngôn, có lẽ người gần gũi với tôi nhất trong đời là Cố Đại Trưởng lão Ni chúng – Sư Bà Cát Tường - nguyên trụ trì chùa sư nữ Hoàng Mai ở Thủy Xuân – Huế.
LTS: Nhà thơ, nhà văn Thanh Tịnh năm 78 tuổi sức khỏe không còn như buổi thanh niên, nhưng ngòi bút của ông vẫn còn cái sung sức của một người đã từng yêu du lịch và làm nghề hướng dẫn khách du lịch toàn Đông Dương. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc những trang hồi ký đầy lý thú của Thanh Tịnh.
NGUYỄN XUÂN HOA
Tôi không có dịp được học với thầy Phạm Kiêm Âu, người thầy nổi tiếng ở Huế, nhưng lại có cơ duyên cùng dạy ở trường nữ trung học Đồng Khánh với thầy trong các năm 1974 - 1975.
Vậy là nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh đã về cõi thiên thu giữa một sáng mùa thu Hà Nội lay phay gió mù u!...Trước khi chưa kịp được vuốt mắt, dường như đôi đồng tử của ông vẫn còn lưu giữ lại hình ảnh đau đáu về con sông Cụt quê nhà.
Với một tướng lãnh võ biền, thì mục tiêu cuộc dẹp loạn là đánh tan loạn quân, rồi ca khúc khải hoàn, ăn mừng chiến thắng.
PHÙNG TẤN ĐÔNG
“Đời của nó như thể bềnh bồng
Cái chết của nó như thể an nghỉ”
F.Jullien
(Dẫn nhập cuốn “Nuôi dưỡng đời mình - tách rời hạnh phúc” - Bửu Ý dịch, 2005)
THANH TÙNG
Hiệp định Genève ký kết, sông Bến Hải tưởng chỉ là giới tuyến tạm thời, không ngờ đã trở thành ranh giới chia cắt đất nước Việt Nam hơn 20 năm. Nỗi đau chia cắt và biết bao câu chuyện thương tâm, cảm động đã diễn ra ở đôi bờ Hiền Lương kể từ ngày ấy. Nhiều cuộc tình đẫm máu và nước mắt. Có những đôi vợ chồng chỉ ở với nhau đúng một đêm. Có người chồng Bắc vợ Nam, khi vợ được ra Bắc thì chồng lại đã vào Nam chiến đấu, đời vợ chồng như chuyện vợ chồng Ngâu.
“Thưởng thức là ngưỡng cửa của phê bình. Chưa bước qua ngưỡng cửa ấy mà nhảy vào cầm bút phê bình thì nhất định mắc phải những sai lầm tai hại. Không còn gì ngượng bằng đọc một bài người ta đem dẫn toàn những câu thơ dở và những câu ca dao dở mà lại đi khen là hay”. (Vũ Ngọc Phan, trích từ Hồi ký văn nghệ, tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 4 năm 1983, trang 168).
VƯƠNG TRÍ NHÀN
I
Hè phố Hà Nội vốn khá hẹp, chỉ có điều may là ở cái thành phố đang còn lấy xe đạp làm phương tiện giao thông chủ yếu này, người đi bộ có phần ít, phía các phố không phải phố buôn bán, vỉa hè thường vắng, bởi vậy, nếu không quá bận, đi bộ lại là cái thú, người ta có thể vừa đi vừa nghỉ, thoải mái.
Gặp người thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm xưa, tôi có dịp biết thêm những tình tiết mới quanh câu chuyện hơn 30 năm về trước khi tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng được tái bản lần đầu.
THẾ TƯỜNG
Ký
"Quê hương là chùm khế ngọt
cho con trèo hái cả ngày"
Một nhà báo Pháp sắp đến Việt Nam để tìm lại một di sản chiến tranh, nhưng ở một khía cạnh nhân văn của nó - đó là những con người, địa điểm từng xuất hiện trong các bức ảnh mà nữ phóng viên chiến trường nổi tiếng Catherine Leroy ghi lại trong cuộc tấn công Mậu Thân vào thành phố Huế.
Thanh Minh là bút danh chính của Nguyễn Hưu(1), người làng Yên Tập, tổng Phù Lưu, huyện Can Lộc, nay là xã Tân Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
LTS: Nhà văn Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh năm Bính Ngọ 1906 ở Tuyên Quang, song lại có gốc gác dòng họ Nguyễn ở Huế. Ông nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ những năm 1930 - 1945, được mệnh danh là “nhà văn đường rừng”, để lại hàng trăm tác phẩm văn học, trong đó có gần 50 cuốn tiểu thuyết.
Thực tế lịch sử gần 70 năm qua đã khẳng định rằng Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ và là kết quả tất yếu từ công lao to lớn của Bác chuẩn bị cho việc tiến hành cuộc cách mạng giải phóng kể từ ngày Bác về nước.
Tháng Bảy âm. Tháng cô hồn. Mồng một âm đã rả rích mưa báo hiệu cho một tháng âm u của Tiết Ngâu. Sắp rằm, tâm trí chợt như hửng ấm khi tiếp được cái giấy Hà Nội mời dự lễ khánh thành nhà bia và Khu tưởng niệm đồng bào ta bị chết đói năm 1945. Chợt nhớ, công việc này đã manh nha từ hơn mười năm trước…
LTS: Nguyễn Hưu, bút danh Thanh Minh, sinh năm 1914, quê huyện Can Lộc, hoạt động báo chí và văn học từ những năm 1934 - 1935. Ông là nhà báo, nhà thơ, dịch giả Hán - Nôm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa văn nghệ có nhiều thành tựu và cống hiến. Ông là Hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh đầu tiên. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông [21.8], VHNA sẽ lần lượt đăng một số bài viết về ông.