Tác phẩm kinh điển nước ngoài bị dịch sai: Bởi chưng kém tiếng Việt, mỏng kiến văn…

15:02 01/12/2014

Hiện, khá nhiều kiệt tác của văn chương, triết học thế giới đã được dịch ra tiếng Việt với mục đích khai trí, “mở mắt”, dẫn bạn đọc vào biển kiến thức sâu rộng của nhân loại. Song, trước những bản dịch sai “từng xăngtimét”, bạn đọc không thể “nhắm mắt làm ngơ”…

Hai cuốn sách bị phát hiện là có nhiều lỗi về dịch thuật. Ảnh: Â.T

Chóng mặt vì sự cố ngôn ngữ
 
Mới đây, trong cuộc chuyện trò với một số người bạn Nga, khi nghe chúng tôi giới thiệu về một dịch giả tiếng Nga tương đối nổi tiếng ở nước ta, có nhiều dịch phẩm, góp phần giới thiệu văn học Nga ở Việt Nam, có người bạn Nga bất ngờ hỏi: “Thế nhỡ ông nhà thơ - nhà phê bình - dịch giả ấy, khi dịch, đã phóng tác (sáng tác, sotrinhiat) thì sao?”. Câu hỏi ngược này khơi lên nhiều suy nghĩ về độ tin cậy của một bản dịch, về tay nghề một dịch giả nói riêng, chuyện dịch thuật nói chung ở nước ta hiện nay.
 
Bắt đầu từ ngày 24.11, trên trang mạng xã hội của một người tự nhận là “dịch giả tay ngang, dịch giả số không của Việt Nam”, dưới tài khoản là Thiên Lương đã tiếp tục “mở cuộc tấn công” đợt hai vào một số cuốn sách đủ điều kiện được xếp vào dạng “thảm họa dịch thuật”, bằng việc tổng hợp lại một số ý kiến nhận xét, phê bình của một số nhà văn, nhà nghiên cứu, hay đơn giản, như một số tài khoản tự xưng là người biết ngoại ngữ, hiện đang sống trong và ngoài nước chuyện dịch sai, ẩu,… xung quanh một số cuốn như “Bên phía nhà Swann”, “Emil hay là về giáo dục”…
 
Một ví dụ cụ thể: Liên quan đến cuốn “Bên phía nhà Swann”: Đây là cuốn đầu tiên trong bộ “À la recherche du temps perdu” - một kiệt tác của nhà văn Pháp Marcel Proust, 100 năm trước, từng là chủ đề tranh luận của nhiều diễn đàn văn học thế giới, được đánh giá là “Kinh thánh văn chương cho mọi tác gia và người đọc văn học”, được dịch qua tiếng Việt dưới tên “Phía bên nhà Swann”.
 
Để minh chứng cho việc dịch sai, dịch tối nghĩa, dịch như… google dịch của cuốn “Phía bên nhà Swann” - bản dịch tiếng Việt do bốn dịch giả gạo cội của Việt Nam thực hiện làm mất “chất” văn chương - triết lý của đại văn hào Proust, Thiên Lương đã dẫn nhiều câu văn để so sánh, đối chiếu giữa bản gốc tiếng Pháp, bản dịch tiếng Anh, bản dịch tiếng Việt và kết luận: “Sự khác biệt lớn đến nỗi, có thể nói chúng chỉ còn điểm chung là tên tác giả trên trang bìa”.
 
Còn nhớ, năm 1992, với sự hợp tác của Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, NXB Văn học ấn hành cuốn “À la recherche du temps perdu” với bản dịch của Nguyễn Trọng Định có tên “Đi tìm thời gian đã mất”. Có thể nói, 22 năm qua, với nhiều độc giả Việt không biết Pháp, cuốn “Đi tìm thời gian đã mất” có một ảnh hưởng nhất định.
 
Sự ảnh hưởng của tác phẩm này, đặc biệt với một số người viết lách nước ta có thể thấy rõ ở văn phong, tư duy văn chương. Với một cái nhìn so sánh, đối chiếu dưới góc độ tiếng Việt, có thể nói, tiếng Việt trong bản dịch của Nguyễn Trọng Định so với bản dịch của bốn vị dịch giả cuốn “Phía bên nhà Swann” vẫn sáng rõ và dễ tiếp nhận hơn.
 
Hai, ba năm nay, sau khi một vài tác phẩm văn chương - danh tác thế giới - bị phát giác là dịch sai, ẩu, đã trở nên công khai hơn, với việc có những nhà nghiên cứu người Việt ở hải ngoại, hay một số người biên dịch tự khiêm tốn tự nhận mình là “tay ngang” ở trong nước nhưng đã chỉ ra một cách rất thuyết phục hàng ngàn lỗi sai chết người trong các bản là những cuốn sách dạng khai trí, kinh điển của thế giới có hàng trăm năm nay, nhưng hiện so với mặt bằng trình độ dân trí chung hiện nay của người đọc Việt vẫn được cho là “khó nhằn”.
 
Có những lỗi dịch sai là dạng lỗi ngôn ngữ, nhưng có những lỗi sai thể hiện vốn kiến văn của người dịch có nhiều thiếu sót, dẫn đến lời dịch theo lối suy diễn lung tung, khiến mạch văn càng trở nên rối rắm, khó hiểu.
 
Cùng một tác phẩm, nhiều người dịch, nhiều bản dịch khác nhau - chuyện bình thường. Song, một điều hiển hiện ở đây là qua bản dịch, người đọc thấy vốn tiếng Việt của dịch giả, chất lượng tiếng Việt của một dịch giả. Dịch, nhiều khi cũng có nghĩa là làm mới, làm giàu vốn tiếng Việt cho chính mình và của dân tộc, chứ không phải trưng ra thứ tiếng Việt lổn nhổn, khoe mẽ. Có một thực tế khá “tế nhị” ở đây, là, đọc những cuốn sách bị dịch sai, có những bạn đọc cảm thấy nỗi… mặc cảm ngại ngùng khi phải nảy sinh nỗi nghi ngờ về tiếng Việt và vốn văn hóa của các tay dịch, đặc biệt là những vị cao niên, được coi là cự phách, là “cây đa, cây đề”’ của làng dịch Việt hiện nay…
 
Lỗi dịch giả thường mắc
 
Nói về những cái sai một dịch giả thường mắc phải, Thiên Lương dẫn ra ví dụ: “Trong bài viết “The Art of Translation” (August 4, 1941) mà tờ “New Republic vừa đăng lại, nhà văn Nga V. Nabokov bàn về 3 cấp độ tội lỗi của người dịch (three grades of evil) như sau:
 
1. Lỗi thứ nhất và nhẹ nhất: Sai do dốt, thiếu hiểu biết. Có thể tha thứ được vì nhân vô thập toàn.
 
2. Cố tình bỏ sót không dịch những từ ngữ hoặc đoạn văn xương xẩu khó hiểu. Lỗi này có thể tha thứ được nếu người dịch kém cỏi, không hiểu nổi ý của tác giả; nhưng không thể tha thứ được nếu người dịch tự cho mình biết rõ hơn tác giả mà tự cắt bỏ để khỏi ảnh hưởng tới độc giả.
 
3. Lỗi thứ ba và tệ hại nhất: Người dịch tự tiện thay đổi văn phong của tác giả, làm cho mượt mà hơn, theo thị hiếu của riêng mình, hoặc chiều theo thị hiếu (theo cảm nhận của người dịch) của một đối tượng độc giả nào đó”.
 
Nếu chiểu theo 3 cấp độ tội lỗi của người dịch trên vào một số cuốn được dịch ở nước ta thời gian qua, phần nhiều các dịch giả đều mắc phải lỗi thứ ba, cứ thích “thả” cái tôi của mình vào bản dịch, làm méo mó bản dịch. Điều này, độc giả có thể cảm nhận được khi đọc bản dịch, và chỉ thấy sừng sững một hình ảnh của người dịch mà thôi.

Nguồn: Thùy Ân - LĐ
 
 
Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.

  • Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.

  • Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.

  • “Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.

  • Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.

  • I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.

  • Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.

  • Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.

  • Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.

  • Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.

  • Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.

  • Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.

  • (Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)

  • Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.

  • Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.