Nơi bắt đầu đô thị

14:58 07/10/2009
NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

Minh họa: Đặng Mậu Tựu

Rẻo đất cát bãi ngang Hiền An nằm cuối hệ thống đầm phá nước lợ Thừa Thiên Huế (bao gồm phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Chuồn, đầm Thuỷ Tú, đầm Đá Bạc, đầm Cầu Hai...) liền một mạch từ tỉnh Quảng Trị vào Thừa Thiên Huế, vốn nhiều tôm rằn, cá mú, cá hồng... thích ăn rong tảo, phù du mọc trong trầm tích đá vôi trôi ngoài cửa Tư Hiền vào, có diện tích mặt nước rộng hơn 22.000ha, vùng đầm phá rộng nhất Châu Á. Theo ông Ngô Quang Thảnh cư dân Hiền An cho rằng, làng cũng đã trên dưới 300 năm.

Cửa Tư Hiền nằm giữa xã Vinh Hiền và Lộc Bình nơi thông phá Tam Giang với biển Đông. Bà con ở đây còn gọi là cửa Tư Dung. Ông Ngô Quang Toái, năm nay đã ngoài 80 tuổi kể: "Đất này xưa kia thuộc Châu Ô, cửa này tên là  Ô Long Hải Khẩu. Sư Tử Dung  phái Thiền Tông Trung Quốc sang đây truyền đạo Phật. Sư viên tịch người sùng đạo gọi cửa Tử Dung. Sau này, Công chúa Huyền Trân con vua Trần Nhân Tông em vua Trần Anh Tông trước khi xuất giá trên đường sang Chiêm Thành ghé lên đây bái vọng tổ tiên. Từ đó cửa có tên Tư Dung. Tư Dung do lòng thương nhớ dung nhan kiều diễm của Huyền Trân Công Chúa mà thành. Đây là cửa biển trọng yếu, dãy núi giáp biển thiết lập hệ thống phòng thủ rất mạnh, được gọi: " Bách Nhị Quan Hà", có nghĩa 02 người phòng thủ với tên lửa, gỗ, đá lăn chống được 100 nguời tấn công. Đến đời vua Minh Mạng cửa bị lấp, vua coi đó là điềm lành, kẻ địch không đánh thọc nách kinh thành được, bèn đổi tên cửa Tư Hiền...". Ông Thảnh cho rằng Huyền Trân Công Chúa mở cõi đất này. Ông đọc đoạn đầu bản truờng ông viết:

Thuở Huyền Trân quy Chiêm mở cõi
Đây Ô Lý xứ sở lạ lùng
Trải xuân thu tang điền dâu biển
Lấp, lỗ mấy lần hải khẩu Tư Dung...

Đò máy nổ ục ục chở chúng tôi ra cửa Tư Hiền, bên kia sừng sững dãy núi liền nhau: Gành Quện, gành Lăng, gềnh Con Vội, Đông Đò, bên này lẻ loi núi Rùa. Chiều ngang cửa Tư Hiền tính từ mép cát thôn Hiền An II sang rẻo cát dưới chân núi Lộc Bình chỉ ngoài 120 mét. Anh Tâm chủ đò đang điều khiển chiếc đò chạy vòng vèo tránh cạn rầu rầu nói, cửa chỉ sâu hơn 2 mét, nhưng vì nơi đây linh thiêng và nước chảy rất mạnh, rất xoáy nên chưa có ai dám cả gan lội qua. Đò máy dập dềnh sóng biển chừng 45 phút đưa chúng tôi đến Cảng Chân Mây. Đúng là cảng nước sâu, nước xanh ngắt một màu và kín gió bởi tầm mắt chúng tôi đụng ba bề toàn núi. Cảng đang có tàu Grand Blue PANAMA cặp bến, neo đậu trong Bến số1. Tôi biết công trình Bến số1 - Cảng Chân Mây là một công trình lớn với tổng mức đầu tư 277,47 tỷ đồng, hạng mục kéo dài 120 mét. Bến số1 đã hoàn thành 96% khối lượng công trình. Sáu tháng đầu năm nay, cảng đã tổ chức đón 30 chuyến tàu cập bến ( 5 chuyến tàu ngoại trọng tải từ 15 ngàn - 20 ngàn DWT) với lượng hàng thông qua cảng gần 100 ngàn MT. Chúng tôi về lại Hiền An, ngoài khơi xa trông vào, thấy núi Đông Đò và núi Rùa như hai chú voi phục chầu cửa Tư Hiền. Thế núi, thế biển xứng danh Bách Nhị Quan Hà. Buổi tối, tôi lọ mọ ra ngồi chén chú chén anh với anh Tâm chủ đò. Anh Tâm thiết tha tâm sự: "Cửa Tư Hiền là nơi giao thoa các dòng hải sản, tôm, cá...và tuyến đường thuỷ huyết mạch cho cư dân đi lại đây đó, thông thuơng thương mại, ra lộng vào khơi nhưng nay như gần bị lấp, anh thấy hồi trưa tôi phải chạy chữ u mới vào được đó à. Vì vậy cá tôm ít vào phá nên những gia đình chuyên nghề bủa sáo, giăng câu trong đầm làm suốt đêm, suốt con nước cũng chỉ được vài chục ngàn. Nếu cửa sâu hơn vài chục mét, rộng hơn thì bà con sinh sống trên đầm dễ thở hơn..."

Ngày 17-7-2004 tại km 88+600 quốc lộ 49B thuộc thôn Hiền An, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên đã làm lễ động thổ khởi công công trình thế kỷ cầu Tư Hiền với tổng kinh phí gần 150 tỷ đồng. Cầu sẽ được xây dựng cách cửa biển Tư Hiền 800m về phía đầm Cầu Hai, chiều dài 915,5m, đường hai đầu cầu 1200m, theo tiêu chuẩn đường cấp IV đồng bằng. Khổ cầu 12m cho 2 làn xe. Cầu gồm 6 nhịp chính, 2 nhịp 55m và 4 nhịp 90, thi công theo phương pháp bê tông cốt thép dự ứng lực liên tục bằng phương pháp đúc hẫng cân bằng, mặt cắt ngang dạng hộp. Cầu vượt qua cửa biển Tư Hiền nối với đường quốc phòng Lộc Bình, gặp quốc lộ 1A tại km 869+500 chân đèo Phước Tượng. Thời gian thi công 24 tháng. Đây là công trình quan trọng, nối liền dải đất cát ven biển, ven phá với đất liền bên kia Phú Lộc, Cầu Hai... để nhân dân Khu III không còn cách trở, thoát cảnh ốc đảo ngàn đời nay, vừa đảm bảo an ninh, phòng bão lũ, phát triển kinh tế, nhất là du lịch, nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản và nông nghiệp...


Ở thôn Hiền An I tôi cũng thấy xáng đang nạo vét ven đầm chuẩn bị thi công Cảng cá Vinh Hiền với tổng kinh phí 28 tỷ đồng.Trong thời bình, cảng cho tàu bè nhân dân ra vào trao đổi mua bán sản phẩm; thời chiến cho các tàu quân sự cặp bến sẵn sàng chiến đấu và giữ gìn an ninh trật tự khu vực... Theo cấu trúc cảng có vịnh tránh mưa, tránh gió và bình thường độ sâu từ mặt nước lên đến chiều cao mặt cảng khoảng 3 mét, cho các thuyền nhỏ chui dưới gầm cảng tránh mưa. Độ sâu lòng nước được nạo vét hơn 3 mét, khi mới nạo vét luồng lặch còn thông thoáng cảng có thể đón tàu 400 tấn theo thiết kế kỹ thuật, nhưng trong quá trình nước chảy bồi đắp độ sâu cạn lại nên chỉ đón tàu 200 tấn. Vì những lợi ích của xã nhà, huyện nhà và bà con sinh sống trên đầm phá, trên dải đất cát bãi ngang ven biển mà 33 hộ dân có nhà trên khu vực làm đường vào cầu Tư Hiền và 7 hộ dân sống ven phá trong phạm vi Cảng cá Vinh Hiền thuộc thôn Hiền An I chấp thuận đến tái định cư ở vùng trũng Hiền Hoà thuộc xã, cách nhà cũ 1,5km và 7 hộ chấp nhận xén đất vườn, xén nhà bếp để giải phóng mặt bằng thi công cầu Tư Hiền, xã Vinh Hiền là một xã vùng thấp trũng xa nhất của huyện Phú Lộc. Cũng là một xã trong số 22 xã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là địa phương đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển. Thu nhập bình quân chưa đầy 70ngàn đồng/ người/ tháng. Toàn xã có 1700 hộ, gần 9000 nhân khẩu, trong đó hơn 500 hộ thuộc diện nghèo. Do vậy, Nhà nước đã và đang quan tâm xây dựng Khu đô thị mới nơi đây với nhiều dự án khả thi như cầu Tư Hiền, Cảng cá Vinh Hiền và Khu du lịch sinh thái...để nâng cao, cải thiện đời sống nhân dân Khu III Phú Lộc.

Về mặt du lịch, địa phương có mấy ngọn núi Linh Thái, Hàm Rồng, Thuý Vân và bên kia Lộc Bình, Chân Mây núi non chập chùng, hùng vỹ. Một dải nước non, bờ bãi, mây thuý tuyệt vời. Tôi từng tha thẩn trên bãi cát ven biền chạy dọc theo dải thuỳ dương xanh ngan ngát đến núi Hàm Rồng. Bãi cát này đẹp như cô Công chúa kiều diễm ngủ muộn  trong rừng đang chờ chàng Hoàng Tử hào hoa, đức độ đến đánh thức. Công chúa trở dậy đẹp lồng lộng như bà hoàng thời hiện đại. Và tôi không quên lội bộ lên chùa Thánh Duyên trên núi Tuý Vân, di tích đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận Di sản Văn hoá quốc gia. Gặp thầy Thích Chơn Thành trụ trì chùa đang toạ thiền vào hạ, thầy vui lòng xả thiền giảng tôi nghe sự tích chùa: "Xưa, chùa tên Mỹ Am Sơn Tự. Đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1644) cho đặt nền móng điện Đại Hùng và đặt tên chùa Thánh Duyên. Chúa Nguyễn Phúc Chu tu sửa và chu cấp hương khói hằng năm. Đến triều Minh Mạng, vua cho xây thêm Đại Tự Cát, tháp Phước Duyên và lầu Nghinh Phong. Chùa thành quốc tự và có tên là Thuý Hoa. Năm 1841 vua Thiệu Trị lên ngôi đổi tên chùa là Thuý Ba, cũng như chợ Đông Hoa thành Đông Ba và tỉnh Thanh Hoa thành Thanh Hoá, vì tên mẹ vua là bà Hồ Thị Hoa. Vua Tự Đức cho rằng tây Bạch Mã (ngựa trắng) thì đông mây xanh nên đổi tên chùa là Thuý Vân quốc tự. Sau, nhóm cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế... đổi thành Tuý Vân. Đến ngày nay, nhân dân gọi núi Tuý Vân, chùa Thánh Duyên...". Tôi phì phò leo lên các bậc cấp ngọn núi Tuý Vân có đỉnh cao 60 mét so với mặt nước đầm phá, đã thấy một khu rừng đại ngàn rậm rịt cây lá cổ thụ gần như nguyên sinh, phần lớn cây xoài và mít nài sù sì to bao bọc um xanh, mát mẻ. Người xưa gọi Tuý Vân quả  chính xác!

Năm 2006, sẽ kỷ niệm 700 năm thành lập Thuận Hoá - Phú Xuân. Cùng năm này, cầu Tư Hiền sẽ vươn dài ngang phá nâng bước muôn dân thênh thang đi lại làm ăn, học hành thăm thú đó đây. Cảng cá Vinh Hiền cũng sẽ cập rập đón tàu vào ra thông thuơng, trao đổi, mua bán sản phẩm...Hiện nay, cái cũ và cái mới còn giùng giằng tiễn biệt nhau, rồi mai đây sẽ còn lưu lại trong ký ức mỗi người một dòng kỷ niệm mù mờ xa ngái, nhưng tất cả đều vận hành theo một quy luật, cánh cửa quá khứ khép lại để mở toang cánh cửa hiện tại và tuơng lai, để đón bình minh xán lạn của một khu đô thị mới... Đứng bên cửa Tư Dung gió lộng, ngoảnh về quá khứ, tôi cung kính rưng rưng quỳ lạy đảnh lễ cô Công chúa hiếu trung vì dân vì nước ra đi mở cõi đất này.

N.V.V
(189/11-04)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
                                        Bút ký

    Nếu có một biến động địa chất nào đó xảy ra thật nhẹ nhàng, khiến cho chỉ sau một đêm thức dậy, người ta bỗng thấy hai bờ sông Hương đã líp lại với nhau - nghĩa là thành phố Huế vẫn y nguyên, nhưng sông Hương không còn nữa...

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

    Nhìn trên bản đồ, vùng bờ biển của Huế là một dải đất hẹp, mỏng như lưỡi liềm.

  • LÊ HÙNG VỌNG
                 Bút ký

    Buổi chiều sau giờ làm việc, hai chúng tôi thường tha thẩn đạp xe qua những đường phố cũ.

  • “Ký ức về nội” của Tâm Định Lê Văn Đại là một tạp ghi những câu chuyện mộc mạc ở một làng quê Cố đô Huế dưới dạng nguyên thô.
    Tòa soạn trân trọng tính chân thật của người kể chuyện nên xin được trích đăng nguyên văn một số đoạn trong tập hồi ký nhỏ này, với mong muốn gìn giữ nếp nhà, nét văn hóa làng xã ngày xưa trước sức ép ngày một lớn của sự hiện đại hóa đời sống xã hội. Đây có thể là những đường viền rất nhỏ để bảo vệ sự thuần khiết, tính vĩnh cửu của đời sống văn hóa chúng ta.

  • VĨNH NGUYÊN

    Cung đờn - nghĩa nôm này ở vùng này là tiếng gió. Mùa hè nóng bức, về phá Tam Giang, ngồi lên sàn nhà chồ của dân chài cắm giữa phá, ta mới thấy thắm thía tiếng gió ấy.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCH 

    Lỡ chuyến đò có thể chờ chuyến đò sau. Lỡ mất cung có thể chuộc lại cung từ người nhặt được. Lỡ mất cái không biết tìm ở đâu đâu?

  • NGÔ ĐÌNH HẢI

    Trên núi, có cây cỏ, chim muông. Có ngôi chùa nhỏ. Trong chùa có tượng Phật, có sư. Tất cũng có mõ chuông, tụng niệm. 

  • NGUYÊN HƯƠNG  

    Nhớ có lần An Ni nói, nước một khi chảy sâu, sẽ không phát ra tiếng. Tình cảm con người một khi sâu sắc, cũng sẽ tỏ ra đạm bạc. Chính là sự giản đơn, cần kiệm. Ký ức cũng vậy. Nó không cầu xin sự chải chuốt kỳ cọ. Nó cần nguyên vẹn là mình.

  • TRU SA   

    Mùi khói, có khói. Ai đấy đốt lửa.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
                                        Bút ký

    Chưa cần đến âm nhạc, Huế từ trong tâm hồn nó đã mang sẵn một mêlôđy của riêng mình.


  • LÊ HƯNG TIẾN

  • NGUYỄN QUANG HÀ
                        Bút ký

    Một cuộc hành trình chỉ có thời gian xê dịch. Còn con người thì cứ ở nguyên một chỗ, không đi đâu cả. Vẫn mảnh sân ấy, vẫn ngôi nhà ấy, vẫn khuôn vườn ấy.

  • BÙI KIM CHI

    Ngoài trời bao la xinh tươi bao cô gái đẹp cười trông xinh như hoa. Lập lòe tà áo xanh xanh che bông tím vàng đẹp hơn tiên nga…

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG   
                              Bút ký  

    Tiếng hát năm xưa bay vào không trung, se lại những mùa hoa vàng mấy độ. Trong màu xuân dát cả đất trời, người mở cửa bước ra, diễu chân qua từng ngõ từng nhà, lên đồi xuống phố, băng đồng sang sông…

  • NGUYỄN TRƯƠNG KHÁNH THI  

    Có một ngày nọ tôi nhẹ nhàng đến bên người và hỏi: Đã có bao giờ người đi lạc hay chưa?

  • LÊ BÁ ĐẢNG

    Bài viết do Phạm Thị Anh Nga chuyển ngữ theo đề nghị của Đạo diễn Đặng Nhật Minh và bà Lê Cẩm Tế, nguyên Giám đốc Trung tâm nghệ thuật Lê Bá Đảng, nhằm bổ sung cho cuốn phim tài liệu đang hoàn thiện về Lê Bá Đảng.

  • DƯƠNG THỦY
              Tùy bút  

    Có năm hoa bằng lăng ở Huế nở hết mình. Khắp các ngả đường, cả vùng ven thôn quê, cây bằng lăng đơm hoa tím thẳm một màu. Chưa bao giờ bằng lăng xứ thần kinh nở dồn dập và tưng bừng đến thế.

  • TRẦN BẢO ĐỊNH

    Một
    Sông Bảo Định có nhiều chi lưu, một trong những chi lưu đó là rạch Bà Tàu. Thủy lộ con rạch lớn ròng tùy thuộc con nước rong kém và nó chảy cũng chẳng thẳng thớm gì cho lắm, có đoạn ngoằn ngoèo cong xoắn.

  • NGUYỄN ĐÌNH MINH KHUÊ
                            Tạp bút

  • NGUYÊN SỸ
           Bút ký  

    Sẽ không mấy người tin những ngọn đồi xanh thẳm, những triền đê dài với dòng kênh miên man hoa nắng mỗi chiều và những khoảnh ruộng đứt quãng nối cùng bãi cỏ thênh thang, mỗi chiều đàn trâu vẫn thong dong gặm cỏ dưới trong vắt mây trời, trước kia là một góc chiến trường ngút lửa và nay di chứng vẫn còn nằm dưới lòng đất sâu.