Nồi bánh tét

20:13 15/02/2015

NGUYỄN VĂN UÔNG

Tết về là gói bánh tét. Thế mà bây giờ cái mặc nhiên ấy không còn là mặc nhiên. Cái ông già tuổi đã cổ lai hy cứ nhớ vẩn vơ chuyện ấy mỗi khi Tết về.

Ảnh: internet

Vùng quê nông nghiệp của ông ngày ấy nổi tiếng với hai loại nếp Cái Thơm và Đinh Hương. “Thơm” và “hương” thì tính chất cũng là chỉ mùi vị. Nói gọn là nếp Cái, nếp Đinh cho tiện. Nếp Đinh thơm lừng mỗi khi đồng lúa trổ bông, phơi gié ngoài ruộng và khi hạt nếp bay hơi trên chõ đồ xôi. Mấy bà già thường khuyên đám phụ nữ mang thai non phải lánh xa nơi có cái mùi vị quyến rũ ấy. Xôi nếp Đinh thơm dẻo nhưng mau cứng hạt nên không được chuộng cho nồi bánh tét. Hạt nếp Cái mềm lâu, mùi thơm nhè nhẹ, bánh giữ dài ngày vẫn không sống lại hạt nếp. Nếp Cái là lựa chọn tốt nhất để có được nồi bánh tét mừng xuân. Tháng Mười, khi cây lúa đã thối gốc rạ dưới những thửa ruộng sâu thì những đám nếp Cái còn hiên ngang đứng thẳng trên những thửa ruộng cao. Chim từng đàn sà xuống mặc cho thằng bé giữ chim ngồi trong chòi canh kéo giật những con bù nhìn và đánh mõ tre ầm ĩ. Lụt lên, nước xăm xắp nửa thân nếp, cá rỉa lay động từng đám rung rinh, không ai dám vào bắt. Canh tác nếp Cái bất trắc thế mà vẫn có người chịu đầu tư chỉ vì nghĩ đến nồi bánh tét ngày Tết mà thôi.

Vui nhất là ngồi xem gói bánh tét và thức đêm nghe tiếng lửa nổ tí tách bên nồi bánh sôi sùng sục. Việc ngâm đãi nếp, đậu xanh, thái thịt là việc của đàn bà. Việc ra lá, chẻ lạt, gói bánh là việc của đàn ông. Mấy thằng nhóc con ngồi bên xin được làm việc cột bánh. Mà không phải thằng nào cũng được vinh dự này! Phải qua thử thách mới được giao bánh đó nghe. Cả nhà ngồi xuống tấm chiếu trải ra ngay ngắn ở gian giữa trước bàn thờ đèn hương sáng loáng sau cỗ cúng chiều ba mươi Tết, việc gói bánh bắt đầu. Phải xong việc nhanh gọn để cho vào nồi trước khi cúng giao thừa. Không chần chừ, đùa giỡn đâu nghe!

Mấy chục đòn bánh “thắng lợi” đã nằm sóng soài giữa chiếu. Lại một phân công nhiệm vụ ban ra. Đàn ông bắt nồi, chất bánh, chêm nước. Đàn bà thu vén, quét dọn, lau chùi. Mấy thằng nhóc bưng củi... và… đứng chờ sai vặt. Khi nồi bánh đã bén lửa ổn định, người lớn ra nhà trước chuẩn bị cúng giao thừa thì là lúc còn lại mấy thằng bé tếu táo bên nồi bánh nghi ngút khói bay. Năm ấy là cái Tết đầm ấm bên nhà nội. Hình như ông chỉ nhớ lại có một lần ấy thôi!

Mấy năm ông mới lớn, nhà không có đàn ông, mọi việc chỉ một bà mẹ quán xuyến. Ông thường ngồi bên mẹ xem bà gói bánh và giúp bà buộc lạt mềm cho từng đòn bánh. Và rồi khi đã trưởng thành, có gia đình riêng thì gói bánh tét ngày Tết không còn là hoài niệm mà là việc phải làm mỗi khi đón xuân. Lá được xếp, cuốn lại theo từng đòn, nhúng nước sôi trên bếp mềm hai đầu để khi bẻ đầu không rách. Lạt thì ra chợ mua ống giang non về chẻ trước đó. Tìm đâu được nếp Cái Thơm! Bà chọn được thứ nếp gì thì ông gói thứ đó. Ông biết nhiều cách gói bánh tét nhưng cuối cùng ông chỉ sử dụng cách gói cuốn tròn đòn, chồng mép lá lên nhau để đòn bánh chín khi mở ra không có cái “sống trâu” như cách gói bẻ xếp hai mép lá. Nhân bánh ông chỉ dùng thịt ba rọi còn tươi, lóc hết da, thái hạt lựu lớn, trộn đều với đậu xanh đãi vỏ còn sống. Khi nấu bánh, nếp, đậu, thịt cùng chín và trộn lẫn hương vị cho nhau. Miếng bánh ăn vào mặn mà, ấm giậm đến tận kẽ răng.

Bánh tét hình thành từ truyền thuyết hoàng tử Lang Liêu được thần linh mách bảo, tìm thứ quý nhất trong dân gian làm món ăn dâng lên vua cha trong lễ cúng tổ tiên để được chọn nhường ngôi. Truyền thuyết chỉ nói đến bánh dầy và bánh chưng tượng trưng cho trời tròn và đất vuông, ngụ ý cầu cho cha mẹ, nòi giống trường tồn như trời đất. Cái quý nhất trong trần thế không phải là cao lương mỹ vị, trân châu bát bửu mà là những hạt gạo, thứ ngọc nhà trời ban xuống để nuôi sống con người. Ý nghĩa đó làm cho cái bánh ngày Tết cúng tổ tiên thể hiện đầy đủ hiếu đạo con người. Vậy thì bánh dầy, bánh chưng là món ăn không chỉ có giá trị ẩm thực mà hàm chứa nhiều ý nghĩa tâm linh. Làm được một cỗ bánh dầy là một kỳ công. Có thể vì thế chăng mà người nông dân đã cải biên thứ bánh cao cấp ấy để phù hợp hoàn cảnh sống của những con người một nắng hai sương trên ruộng đồng, xa lạ với những ngày giờ rảnh rang, nhàn hạ. Nguyên liệu của bánh chưng được gói tròn, nấu chín rồi cắt ra từng lát tròn như bánh dầy: Bánh tét!

Bánh tét chỉ phổ biến từ miền Trung trở vào Nam. Trong khi ở miền Bắc, có người không gói được bánh tét thì ở miền Trung, miền Nam, ngược lại, có người không gói được bánh chưng. Hai thứ bánh này nguyên liệu hoàn toàn giống nhau nhưng đặc tính ẩm thực lại có phần khác nhau. Bánh chưng nhân nhiều, bánh buộc khó chặt, ăn ngon khi còn mới, để qua ngày lâu, mau chua. Khi đã sống lại khó chiên vì dễ vỡ. Bánh tét bớt đi những hạn chế của bánh chưng. Bánh sống lại còn là nguyên liệu làm ra món khoái khẩu khác: Bánh tét chiên! Thứ mà ai đã một lần nếm thử không thể bỏ qua những lần sau. Lát bánh vàng rộm trên dĩa. Mùi vị “nghi ngút” vừa béo ngậy, vừa thơm bùi qua mũi, xông đến tâm can. Đưa miếng bánh vào miệng, nghe tiếng răng cắn dòn tan, rộp rạo. Nước bọt chuyền qua đầu lưỡi mang hương hoa đất trời vào tận khối óc, buồng tim chứ không phải chỉ xuống dạ dày… Bánh chưng là thứ bánh kinh kiệu, chỉ chọn lá dong, nấu xong phải ép, phải sửa khuôn góc vuông vắn. Cái khó nữa là chọn người gói đẹp. Bánh tét thì “tếu táo, bình dân” ra mặt. “Khéo bánh tày. Vụng quày bánh tét”. Chỉ lá chuối vườn là xong, đâu kén chọn lá đẹp lá xấu, lá to lá nhỏ. Thế đó! Hoan hô bánh tét! Muôn đời bánh tét!

Về cái tên “bánh tét” thì giải thích sao đây? Trong ngôn ngữ Việt Nam, cái âm tiết “tét” chắc chỉ có trong từ bánh tét. Việc cắt bánh tét ra từng lát thì danh từ này đã chuyển thành động từ. Tét bánh tét. Động tác răng cắn chặt sợi lạt bánh đã lóc bỏ phần ruột chỉ chừa phần cật, một tay cầm đòn bánh đã lột lá, một tay cho sợi lạt vòng quanh đòn, rồi kéo… chỉ có đối với bánh tét mà thôi. Không ai nói cắt bánh tét cũng không ai nói tét thịt, tét cá… Có lẽ “tét” là do “Tết” mà ra. Thứ bánh làm cúng Tết thì nói là “bánh Tết”. Nhưng thế thì những thứ bánh khác không phải là bánh Tết hay sao? Thôi! Nói khác một chút cho xong: “Bánh tét”. Bánh tét hình trụ dài, không ai nói “cái bánh tét” mà phải nói là “đòn bánh tét”.

Trải theo chiều dài lịch sử và khoảng cách đất nước, đòn bánh tét cũng có những “dị bản”. Bánh gói hình chóp tam giác kim tự tháp nho nhỏ thì gọi là “bánh ú”. Bánh gói bằng lá “đon” (thứ lá dong ở quê ông) nho nhỏ, dáng khum khum như nhịp cầu Trường Tiền thì gọi là “bánh tày”. Vùng nói “tiếng Quẻng” gói bánh tét chỉ có nếp, không nhân. Miền Nam gói bánh nhân đậu nấu chín, vo thành ống tròn, ôm thêm mấy trái chuối chín làm “nòng”. Lại còn cho thêm nước cốt dừa béo ngậy mà dễ chua. Có nơi tiết kiệm, dùng nhân đậu đen cả vỏ, lát bánh loang lổ màu tím than xứ Huế…

Chuyện bánh tét ở quê, ông còn nhớ thế này khi còn bé xíu: Năm ấy dân làng gói bánh tét sớm để kịp gởi ủy lạo dân quân trên chiến khu ăn Tết. Nồi bánh sôi chưa chín thì có tin “Tây về lùng”. Lính từ phe Đông ập lên. Đạn từ ngoài sông bắn vào. Mọi người hốt hoảng thu vén chạy loạn. Nồi bánh thì tính sao đây? Để lại thì mất bánh và mất luôn cả cái nồi bung đồng cha ông để lại. Chủ nhà quýnh lên, vớt bánh và nồi bung ném xuống giếng cạn góc vườn. Mấy ngày sau, hồi cư, chủ nhà lội xuống giếng mò từng đòn bánh và cái nồi bung. Mở thử xem một đòn! Còn tươi ngon. Ăn được! Thử đòn nữa! Cũng thế! Thế là mười mấy đòn bánh “chạy Tây” ấy mở ra cho dân làng một cách nấu bánh “công nghệ mới”. Bánh nấu sôi vừa chín cơm, ngâm vào nước giữ lạnh thật lâu thành bánh chín tới. Cái giếng cạn góc vườn là kiểu giếng phong thủy ở làng ông ngày ấy. Vườn nhà nào rộng cũng đào hai cái giếng góc vườn sau. Ao chạy men theo hàng tre, nối hai giếng, về mùa mưa luôn đầy nước. Những tháng hè, ao khô, giếng cạn người ta lại đào vét lấy đất đổ vườn và thông mạch phong thủy. Năm ấy vét giếng, chủ nhà tìm thấy một đòn bánh còn sót lại trong lớp bùn giếng. Mở ra. Ăn thử. Vẫn không sao! Lại có hương vị bùi bùi, thum thủm. Nhưng kinh nghiệm này chủ nhà biết vậy mà chẳng truyền cho ai. Bây giờ cậu bé con ngày ấy đã thành ông lão. Ông kể lại, có ai tin thử làm xem sao?

Trở lại chuyện ông già bảy mươi ấy. Mấy năm trước, ông ở trong “cái hóc bò tó” mà nhà, vườn rộng thênh. Năm nào Tết đến ông cũng gói một thùng bánh tét “đại thàng chang”. Con cháu quây quần tíu tít “vui như Tết”. Thế mà cái “con người tiên phong, vui vẻ chấp hành nhận tiền đền bù giải tỏa, nhường đất cho nhà nước xây dựng quảng trường thành phố đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” đó được nhà nước bố trí mấy chục thước đất tái định cư giữa mặt tiền một phố mới. Căn nhà hiện nay ông ở thiết kế kiểu ô hộc, được gọi là “nhà liên kế phố” tù túng như một cái hộp bê tông-xi măng khổng lồ. Ông có muốn trồng một chậu cây xanh làm vui con mắt thì chỉ có một nơi tọa lạc lý tưởng, an toàn là trên sân thượng, sát mái tôn. Thế thì nói chi được chuyện nấu nồi bánh tét. Tết đến, vợ con thương ông, mua về vài đòn bánh tét đặt lên bàn thờ để ông thắp hương. Trước di ảnh người mẹ xa ông đã mấy năm, ông nhớ như in bàn tay mẹ vào nếp, cuốn lá, cột lạt và không khí rét ngọt đêm giao thừa ngoài xa kia. Thì thôi! Thế là Tết cũng đã về.

N.V.U
(SH312/02-15)




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG   
                            Bút ký   

    Nước non ngàn dặm ra đi
    Cái tình chi? 

  • LỮ MAI   
        Bút ký  

    Nơi những mái nhà sàn được phủ lớp rêu dày dễ đến nửa gang tay cứ thôi miên, hút hồn khách lạ. Nơi chim rừng hót vang từ sáng tới chiều.

  • PHẠM XUÂN HÙNG

    Tôi nghĩ chắc hiếm có nhà văn, nhà thơ nào thành danh mà trong sự nghiệp sáng tác lại vắng bóng cây cỏ. Sở dĩ loài thực vật thấp bé như cỏ lại trở thành đối tượng mỹ học là nhờ vào những yếu tính trái ngược, thậm chí phi lý nhưng vẫn tồn tại.

  • HỒ NHIÊN  

    Những ngày mới tinh mơ đã đầy nắng. Nắng thấm vào sương làm rực lên sắc hồng ảo diệu. Thiên nhiên tạo nên vẻ đẹp thật giản đơn, và con người chỉ đủ năng lực chuyển tải thông điệp về cái đẹp đó bằng các loại hình nghệ thuật, và điều đó xem như chiếc cầu nối để đưa mỗi ai trở về chiêm ngắm thứ vốn sẵn trong trời đất.

  • NGUYỄN VĂN DŨNG  
                        Bút ký  

    La Habana là thủ đô của đảo quốc Cuba. Tôi thăm La Habana dịp thành phố rộn ràng chuẩn bị kỷ niệm 500 năm tuổi. Những gì tôi thấy ở đây khác xa với những gì tôi từng mường tượng.

  • ĐÔNG HÀ

    Thường trong thời gian của cuộc đời, người ta hay dành riêng khoảng thời gian đáng trân trọng nhất, đó là những ngày đầu năm mới, để nói về muôn sự.

  • ĐÔNG HÀ  

    Tôi vẫn nhớ, chưa bao giờ quên, bài ca dao Mười quả trứng. Bài ca dao được hát lên từ phiên chợ Kẻ Diên nghèo, một vùng quê Bình Trị Thiên khắc nghiệt.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG  
                               Bút ký   

    Chỉ mấy ngày mưa dồn dập, trắng trời quê hương, tang thương lại gieo lên mảnh đất nghèo khó mỗi lần lũ về.

  • NGUYỄN QUANG HÀ

                            Bút ký

  • ĐÔNG HÀ      
        Tản văn  

    Nếu mỗi đời người dành ra một quãng thời gian để lưu giữ ký ức, tôi tin rằng, ký ức của mỗi người là một cái nhà kho khổng lồ.
     

  • LÊ THỊ MÂY
              Bút ký

    Thật khó lòng quên anh, người bạn cùng đi chuyến tàu Thống Nhất từ Hà Nội vào Sài Gòn.

  • ĐẶNG YÊN
             Bút ký

    Với Hương Trà, những điều tưởng chừng quên lãng về một vùng đất nhiều tiềm năng đã sống dậy. Cái xưa và cái nay trộn lẫn giữa làn ranh văn hóa và ý thức, tính bất toàn và biến đổi, giữa cổ kính và hiện đại.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG  
                                    Bút ký  

    Huế được xem là một thành phố vườn, cả thành phố là một công viên lớn, ở đâu cũng thấy được một màu xanh mát dịu của cỏ cây, sông, hồ, đồi núi.

  • TRUNG SƠN
                 

    Trong đời viết văn làm báo, lần đầu tôi "đi thực tế" không phải với các bạn đồng nghiệp, cũng không có ai đưa rước, mà đi cùng "bà xã" của tôi - một cô giáo đang loay hoay chưa biết tìm việc gì làm thêm để bù đắp khoản tiền lương ít ỏi của mình.


  • LÊ HƯNG TIẾN

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG   

    Ngày cuối năm, tiếng còi tàu vang bên sân ga cũ bận rộn những chuyến đi về. Cái màu vôi đỏ trong đêm, bóng người vội vã dưới hàng sứ trắng nở tàn lặng lẽ.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ  

    Thiên hạ đang náo nức đủ tin sốt nóng, sao lại đi nói chuyện mít? Cũng do trên trang mạng một tờ báo lớn mới đây có bài “Dân mạng thế giới xôn xao vì trái mít”; nguồn tin gốc lại là một trang mạng của Mỹ! Nhiều vùng quê Việt Nam mình đang vào mùa mít, nhà tôi lại sở hữu 2 cây mít năm nào cũng trĩu quả, cần chi tìm xem chuyện bên Mỹ?

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG  

    Thuở bé, mỗi lần đứng trước chiếc tủ gỗ sơn màu xanh ngọc khiêm tốn nép cuối góc nhà, tôi trải hồn mình cùng bức tranh khắc những nét chân phương về một ngã ba sông bằng lặng, mênh mông với những ngọn núi trập trùng cao thấp tầng mây làm hậu cảnh.

  • NGUYỄN QUANG HÀ
                            Bút ký

    Nhắc tới vùng đất miền tây Gio Linh, trước mắt tôi hiện ngay ra những trái mìn nổ bất ngờ trong thời bình.

  • VĨNH NGUYÊN  
                 Hồi ký  

    Boong tàu lau xong sạch bóng. Toàn thể mọi người tập trung boong trước ăn sáng. Ăn xong, tôi cùng một số anh em cụm lại (cũng ở boong trước) nghe đài tiếng nói Việt Nam. Hồi ấy, toàn phân đội, tàu nào cũng được phát một cái đài orionton để nghe tin tức, nghe chương trình ca nhạc vào những giờ nghỉ…