Kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2020) và Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2020)
DƯƠNG HOÀNG
Nhân dân Thừa Thiên Huế tham gia giành chính quyền trong ngày cách mạng thắng lợi. Ảnh tư liệu.
Lệnh Tổng khởi nghĩa ban ra cả nước, ngày 17/8/1945, Trung ương Đảng cử đoàn cán bộ gồm các đồng chí Tố Hữu, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Duy Trinh… vào Huế tham gia chỉ đạo khởi nghĩa.
Ngày 20/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên được thành lập gồm 5 người do đồng chí Tố Hữu làm Chủ tịch.
Từ ngày 18/8 đến 22/8/1945, thực hiện quyết định của Tỉnh ủy Thừa Thiên, nhân dân các huyện trong tỉnh đã lần lượt nổi dậy đánh đổ chính quyền bù nhìn, thành lập chính quyền cách mạng.
Ở Huế, từ ngày 21/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình thị uy khắp trong thành phố. Quần chúng cách mạng đã tiến chiếm một số công sở của địch, cầu Trường Tiền, treo cờ đỏ sao vàng lên nóc trụ sở Nha Thông tin, tại số 43 đường Trần Hưng Đạo.
Tối 22/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa gửi tối hậu thư buộc vua Bảo Đại thoái vị.
Sáng ngày 23/8/1945, Bảo Đại - vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, đã chấp nhận những điều kiện của Việt Minh và chịu thoái vị.
Chiều ngày 23/8/1945, một cuộc biểu tình lớn chưa từng có đã được diễn ra tại sân vận động Huế. Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Thừa Thiên được thành lập và ra mắt đồng bào.
Ngày 28/8/1945, cũng tại sân vận động Huế, một cuộc biểu dương lực lượng để chào đón phái đoàn Trung ương do Phó Chủ tịch Trần Huy Liệu làm trưởng đoàn vào chứng kiến lễ thoái vị và tiếp nhận ấn kiếm của vua Bảo Đại.
Để “sống lại” với khung cảnh hào hùng của những ngày tháng 8 năm 1945 lịch sử diễn ra ở Huế, qua nhật báo Quyết Chiến, cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng, số 1 ra ngày 27/8/1945, chúng tôi xin giới thiệu lại nguyên văn những bài viết dưới đây đã được công bố trang trọng trên Quyết Chiến cách đây đã 75 năm.
Mười lăm vạn người, số người đông gấp ba dân số thành phố Huế, đã biểu tình hôm 23/8/1945, tại sân vận động để thành lập chính quyền nhân dân cách mạng.
Từ giữa trưa, khắp các ngõ đường, từng đoàn từng đội mang cờ đỏ sao vàng, lũ lượt kéo đến những khu vực đã định. Thành phố trở nên náo nhiệt phi thường. Sân vận động Huế rộng là thế mà chỉ vừa đủ chứa đúng số người ấy.
Dưới ánh nắng rực rỡ, màu đỏ màu vàng của hàng vạn hàng ức lá cờ càng làm tăng vẻ tưng bừng của cảnh vật và nỗi vui mừng tràn ngập của dân chúng.
Sau những tấm biển lớn đề khẩu hiệu: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” “Cương quyết chống ngoại xâm”, “Cương quyết trừ Việt gian, Hán gian, Pháp gian”, “Cương quyết ủng hộ chính quyền nhân dân cách mệnh”, “Việt Nam cộng hòa nhân dân muôn năm”, đồng bào và đồng chí xếp thành hàng ngũ, khấp khởi chờ đợi giây phút tưng bừng của thành công.
Đúng bốn giờ chiều, sau lễ chào cờ uy nghiêm, Chủ tịch Ủy ban lâm thời nhân dân Cách mệnh Thừa Thiên ra mắt đồng bào giữa sự hoan hô vang dậy. Một đại biểu Việt Minh nói qua tôn chỉ của Việt Nam Độc lập Đồng minh, bày giải ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng, kể đến những nỗi khó khăn trong thời kỳ tranh đấu cùng nhắc rõ bổn phận của đồng bào trong lúc nầy để thực hiện triệt để khẩu hiệu “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”.
Ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Ủy ban lâm thời Nhân dân Cách mệnh, đứng lên đọc lời tuyên bố của Ủy ban lâm thời về kêu gọi đồng bào đồng tâm cố kết để trừ tiệt ngoại xâm và nội phản, tin ở sự thành công vẻ vang của cách mệnh.
Một nhân viên trong Ủy ban nói đến chính sách đối với kiều dân ngoại quốc hiện ở trong nước ta, và một đại biểu phụ nữ hiệu triệu chị em cùng chen vai thích cánh với đồng bào đồng chí đàn ông mà chiến đấu cho kỳ được hoàn toàn “Độc lập, tự do, hạnh phúc”.
Sau đó, đoàn biểu tình, vì đông quá, phải chia ra nhiều toán để đi diễu hành qua các đường phố.
Từ xưa đến nay, ở Thuận Hóa chưa bao giờ có cuộc biểu tình nào lớn lao như cuộc biểu tình hôm 23 tháng 8 của dân chúng quyết tâm chiến đấu dưới bóng cờ Việt Minh để hoàn toàn thực hiện nền dân chủ cộng hòa Việt Nam.1
Và để nhân dân tin tưởng vào tầm vóc và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa, “Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên bố cáo cho đồng bào biết rằng, Chính phủ lâm thời đã thành lập xong. Sự giải phóng cho dân tộc Việt Nam đã gần tới đích. Nhưng chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng và đoàn kết chặt chẽ dưới ngọn cờ đỏ sao vàng. Anh em hãy gia nhập các đoàn tự vệ cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, để phụng sự Tổ quốc và đánh đổ mộng tưởng ngoại xâm, bất cứ của một nước nào. Chúng ta cùng giơ tay thề rằng không bao giờ chịu trở lại thời kỳ đô hộ xưa nữa. Chúng ta hãy cương quyết chống ngoại xâm. Cương quyết tiêu trừ bọn Việt gian bán nước và hết sức ủng hộ nền Dân chủ cộng hòa của nước Việt Nam”.2
Trước khí thế tiến công cách mạng và sự chờ đợi, ngóng trông phái đoàn Trung ương vào Huế chứng kiến lễ thoái vị và tiếp nhận ấn kiếm của vua Bảo Đại của các tầng lớp nhân dân, báo Quyết Chiến viết: “Thành phố Thuận Hóa đã sống một ngày tưng bừng chưa bao giờ thấy. Mới tám giờ sáng, nhân dân thành phố và cả nhà quê đủ các giới, đã đứng chật ních sân vận động, thế mà các đoàn các đội vẫn tuôn đến mãi không ngừng. Đó là chưa kể số người đông như kiến, đứng chờ hai bên lề đường để đón tiếp Đoàn đại biểu.
Dưới lớp cờ biển tưng bừng, người ta chờ đợi từng giờ phút một. Nhưng người ta vẫn kiên nhẫn đợi. Sự kiên nhẫn ấy của anh em chị em càng chứng tỏ quyết tâm của đồng bào ủng hộ chính quyền. Chốc chốc máy truyền thanh báo cho biết Đoàn đại biểu đã đi qua cầu Mỹ Chánh lúc 8 giờ 40, đến Văn Xá 9 giờ 40, đến An Hòa 10 giờ 15. Phái đoàn phải đi chậm vì dọc đường nhân dân đón tiếp đông quá.
10 giờ 45, Đoàn đại biểu vào sân vận động, giữa những tiếng hoan hô vang lừng của quần chúng. Có 5 tiếng súng lệnh chào mừng.
Sau lễ chào cờ và một phút im lặng, để tưởng nhớ đến anh hồn các chiến sĩ cách mạng đã hy sinh cho Tổ quốc, một đại biểu của Tổng bộ Việt Minh cùng quần chúng tung hô chính quyền nhân dân cách mạng, rồi giới thiệu đại biểu của Chính phủ Trung ương lâm thời. Công chúng hoan hô không ngớt.
Ông Trần Huy Liệu, Phó Chủ tịch Chính phủ Trung ương lâm thời, đứng trước máy truyền thanh, tuyên bố với đồng bào rằng ông lãnh sứ mệnh của Chính phủ Trung ương vào Huế để công nhận sự thoái vị của cựu Hoàng Đế Bảo Đại.
Nói đến chính sách đối ngoại, Phó Chủ tịch tuyên bố rằng Phát xít đã tan rã, người Nhật tạm lưu trong đất nước ta không còn là người thù của quốc dân nữa, mà trái lại nên được chúng ta tỏ tình thân thiện.
Còn về việc nước Pháp muốn lăm le đặt lại chủ quyền ở nước ta, ông Phó Chủ tịch nói rằng đó chỉ là một cuộc đua giữa nhân dân cách mạng Việt Nam với De Gaulle chứ ngay dân chúng Pháp cũng đã đả đảo bọn đế quốc xâm lược.
Ông vừa dứt lời, công chúng hoan hô vang: Việt Nam cộng hòa dân chủ muôn năm!
Sau đó, công chúng diễu hành qua khán đài rồi đi ra đường, qua cầu Trường Tiền, vào cửa Đông Ba, ra cửa Thượng Tứ và giải tán trước Thương Bạc. Đoàn biểu tình, cờ biển rợp trời, rậm rộ kéo đi hàng giờ chưa ngớt. Qua các phố lớn, các thương gia nổ pháo chào mừng, làm tăng thêm sự náo nhiệt tưng bừng của thành phố.
Trong lúc tôi viết bài nầy (PV Quyết Chiến), ngoài đường còn rầm rập tiếng chân đi, tiếng cười, tiếng nói, tiếng pháo làm thành một điệu nhạc hùng tráng, điệu nhạc riêng của cả một dân tộc đã biết đứng lên để đòi quyền sống tự do, độc lập3.
Và sự trông ngóng từng phút từng giây đã đến, trang lịch sử mới bắt đầu: “7 giờ chiều hôm qua trên lầu Ngọ Môn, trước 10 ngàn quốc dân đủ các giới, lễ thoái vị của Đức Việt Nam Hoàng Đế Bảo Đại đã cử hành rất long trọng.
Ngỏ lời với quốc dân và đại biểu Chính phủ lâm thời cách mạng, nhà vua đã tuyên bố trước máy truyền thanh bằng một giọng cảm động. Vì quyền lợi chung của xứ sở, và muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ, ngài đặt quyền lợi quốc dân lên trên ngai vàng, nên ngài vui lòng thoái vị để trao chính quyền cho một chính phủ dân chủ cộng hòa.
Đáp lại lời tuyên bố của vua Bảo Đại, đại biểu Chính phủ lâm thời là ông Trần Huy Liệu trước hết tỏ lời cảm ơn tấm thịnh tình của Hoàng Đế, đã vì quốc dân mà hy sinh ngôi báu.
Hôm nay là một ngày đáng ghi nhớ trong lịch sử nước Việt Nam, nền quân chủ đã nhường bước cho chính thể dân chủ cộng hòa, vậy quốc dân đã đoàn kết thì cần phải đoàn kết thêm, đã phấn đấu thì phải phấn đấu thêm để củng cố nền độc lập của Việt Nam.
Sau khi ông Trần Huy Liệu dứt lời, vua Bảo Đại thân hành trao lại Quốc ấn bằng vàng, thanh gươm bằng vàng nạm ngọc, biểu hiện vương quyền, cho đại biểu chính phủ nhân dân.
Năm tiếng lệnh phát, cờ vàng kéo xuống, cờ đỏ sao vàng rút lên trong khi bài Thanh niên cứu quốc4 trỗi giữa một bầu không khí trang nghiêm và cảm động.
Để tỏ lòng thiết tha với nền dân chủ, ngài Bảo Đại ngỏ lời tặng Chính phủ Nhân dân Cách mạng 2 chiếc phi cơ riêng của ngài.
Và đáp lại tấm thịnh tình ấy, đại biểu Chính phủ lâm thời có gắn huy hiệu màu đỏ sao vàng cho công dân Bảo Đại của nước Việt Nam cộng hòa dân chủ.
Trước cử chỉ rất dân chủ của một vị Hoàng Đế, dân chúng hoan hô nhiệt liệt.
Sau khi bế mạc lễ thoái vị của vua Bảo Đại, đoàn thanh niên tiền tuyến, các đội bảo an, chữa lửa và dân chúng sắp hàng trật tự biểu diễn qua trước Ngọ Môn.5
Lễ thoái vị kết thúc, ngày hôm sau, cựu hoàng Bảo Đại đã lên đường ra Hà Nội để nhậm chức Cố vấn Chính phủ theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập” và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
D.H
(TCSH379/09-2020)
-----------------
1. Báo Quyết Chiến, số 2 ra ngày 28/8/1945.
2. Báo Quyết Chiến, số 2 ra ngày 28/8/1945.
3. Báo Quyết Chiến, số 4 ra ngày 30/8/1945.
4. Nhiều tài liệu ghi là “tiếng nhạc Tiến quân ca”. Theo chúng tôi, “Tiến quân ca” được dùng lần đầu vào chiều ngày 2/9/1945, tại Lễ Tuyên ngôn Độc lập. Hơn nữa, chi tiết này được công bố ngay sáng hôm sau, 31/8/1945.
5. Báo Quyết Chiến, số 5 ra ngày 31/8/1945.
Báo Tin Tức Chúa Nhựt, 3.11.1940 mở đầu bằng mấy hàng như sau: “Hai mươi chín tháng Chín Annam (20 Octobre 1940). Thêm một ngày đáng ghi nhớ. Một người đã mất: cụ Sào Nam Phan Bội Châu”
Với giọng văn sinh động, pha chút hài hước, hình minh họa ngộ nghĩnh, phù hợp với lứa tuổi học trò: “Chuyện kể về thầy trò thời xưa”, “Những tấm lòng cao cả” hay bộ văn học teen “Cười lên đi cô ơi”… sẽ đem đến cho độc giả nhiều cung bậc cảm xúc và hoài niệm.
Trong tất cả các Ni sư Phật giáo mà tôi được biết và chịu ơn hoằng pháp vô ngôn, có lẽ người gần gũi với tôi nhất trong đời là Cố Đại Trưởng lão Ni chúng – Sư Bà Cát Tường - nguyên trụ trì chùa sư nữ Hoàng Mai ở Thủy Xuân – Huế.
LTS: Nhà thơ, nhà văn Thanh Tịnh năm 78 tuổi sức khỏe không còn như buổi thanh niên, nhưng ngòi bút của ông vẫn còn cái sung sức của một người đã từng yêu du lịch và làm nghề hướng dẫn khách du lịch toàn Đông Dương. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc những trang hồi ký đầy lý thú của Thanh Tịnh.
NGUYỄN XUÂN HOA
Tôi không có dịp được học với thầy Phạm Kiêm Âu, người thầy nổi tiếng ở Huế, nhưng lại có cơ duyên cùng dạy ở trường nữ trung học Đồng Khánh với thầy trong các năm 1974 - 1975.
Vậy là nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh đã về cõi thiên thu giữa một sáng mùa thu Hà Nội lay phay gió mù u!...Trước khi chưa kịp được vuốt mắt, dường như đôi đồng tử của ông vẫn còn lưu giữ lại hình ảnh đau đáu về con sông Cụt quê nhà.
Với một tướng lãnh võ biền, thì mục tiêu cuộc dẹp loạn là đánh tan loạn quân, rồi ca khúc khải hoàn, ăn mừng chiến thắng.
PHÙNG TẤN ĐÔNG
“Đời của nó như thể bềnh bồng
Cái chết của nó như thể an nghỉ”
F.Jullien
(Dẫn nhập cuốn “Nuôi dưỡng đời mình - tách rời hạnh phúc” - Bửu Ý dịch, 2005)
THANH TÙNG
Hiệp định Genève ký kết, sông Bến Hải tưởng chỉ là giới tuyến tạm thời, không ngờ đã trở thành ranh giới chia cắt đất nước Việt Nam hơn 20 năm. Nỗi đau chia cắt và biết bao câu chuyện thương tâm, cảm động đã diễn ra ở đôi bờ Hiền Lương kể từ ngày ấy. Nhiều cuộc tình đẫm máu và nước mắt. Có những đôi vợ chồng chỉ ở với nhau đúng một đêm. Có người chồng Bắc vợ Nam, khi vợ được ra Bắc thì chồng lại đã vào Nam chiến đấu, đời vợ chồng như chuyện vợ chồng Ngâu.
“Thưởng thức là ngưỡng cửa của phê bình. Chưa bước qua ngưỡng cửa ấy mà nhảy vào cầm bút phê bình thì nhất định mắc phải những sai lầm tai hại. Không còn gì ngượng bằng đọc một bài người ta đem dẫn toàn những câu thơ dở và những câu ca dao dở mà lại đi khen là hay”. (Vũ Ngọc Phan, trích từ Hồi ký văn nghệ, tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 4 năm 1983, trang 168).
VƯƠNG TRÍ NHÀN
I
Hè phố Hà Nội vốn khá hẹp, chỉ có điều may là ở cái thành phố đang còn lấy xe đạp làm phương tiện giao thông chủ yếu này, người đi bộ có phần ít, phía các phố không phải phố buôn bán, vỉa hè thường vắng, bởi vậy, nếu không quá bận, đi bộ lại là cái thú, người ta có thể vừa đi vừa nghỉ, thoải mái.
Gặp người thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm xưa, tôi có dịp biết thêm những tình tiết mới quanh câu chuyện hơn 30 năm về trước khi tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng được tái bản lần đầu.
THẾ TƯỜNG
Ký
"Quê hương là chùm khế ngọt
cho con trèo hái cả ngày"
Một nhà báo Pháp sắp đến Việt Nam để tìm lại một di sản chiến tranh, nhưng ở một khía cạnh nhân văn của nó - đó là những con người, địa điểm từng xuất hiện trong các bức ảnh mà nữ phóng viên chiến trường nổi tiếng Catherine Leroy ghi lại trong cuộc tấn công Mậu Thân vào thành phố Huế.
Thanh Minh là bút danh chính của Nguyễn Hưu(1), người làng Yên Tập, tổng Phù Lưu, huyện Can Lộc, nay là xã Tân Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
LTS: Nhà văn Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh năm Bính Ngọ 1906 ở Tuyên Quang, song lại có gốc gác dòng họ Nguyễn ở Huế. Ông nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ những năm 1930 - 1945, được mệnh danh là “nhà văn đường rừng”, để lại hàng trăm tác phẩm văn học, trong đó có gần 50 cuốn tiểu thuyết.
Thực tế lịch sử gần 70 năm qua đã khẳng định rằng Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ và là kết quả tất yếu từ công lao to lớn của Bác chuẩn bị cho việc tiến hành cuộc cách mạng giải phóng kể từ ngày Bác về nước.
Tháng Bảy âm. Tháng cô hồn. Mồng một âm đã rả rích mưa báo hiệu cho một tháng âm u của Tiết Ngâu. Sắp rằm, tâm trí chợt như hửng ấm khi tiếp được cái giấy Hà Nội mời dự lễ khánh thành nhà bia và Khu tưởng niệm đồng bào ta bị chết đói năm 1945. Chợt nhớ, công việc này đã manh nha từ hơn mười năm trước…
LTS: Nguyễn Hưu, bút danh Thanh Minh, sinh năm 1914, quê huyện Can Lộc, hoạt động báo chí và văn học từ những năm 1934 - 1935. Ông là nhà báo, nhà thơ, dịch giả Hán - Nôm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa văn nghệ có nhiều thành tựu và cống hiến. Ông là Hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh đầu tiên. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông [21.8], VHNA sẽ lần lượt đăng một số bài viết về ông.
Vùng quê nghèo chúng tôi nằm sát chân núi Hồng Lĩnh có Hàm Anh (nay là xóm 1 xã Tân Lộc) từng sản sinh ra một Tiến sĩ xuất thân Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) (1499) đời Lê Hiến tông tên là Phan Đình Tá (1468-?)