Những gian phòng ở phía sau

15:00 20/07/2018

Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.

Ảnh: internet

NENDEN LILIS A

Chồng tôi và tôi luôn luôn thức dậy lúc 7 giờ 30 khi con mèo đi qua mái ngói nhà hàng xóm tạo thành một cái bóng in trên màn phòng ngủ của chúng tôi. Ai mà biết được tại sao con mèo không được huấn luyện đó lại có được thói quen in bóng lên bức màn của chúng tôi mỗi buổi sáng, để bóng của nó trở thành tín hiệu báo thức cho vợ chồng tôi.

Nói rằng chúng tôi thức dậy lúc 7 giờ 30, nhưng thực ra chúng tôi đã thức từ lúc 4 giờ 30 - trước khi con tôi khóc tiếng đầu ngày và trước hồi chuông cầu nguyện buổi sáng. Sau khi thay tã cho con, cầu nguyện, bơm nước vào thùng chứa ở phòng tắm, chúng tôi thường cố ngủ lại vì chúng tôi thường rất mệt. Cả tôi và chồng đều đi ngủ rất trễ. Đang giữa thời gian phải viết luận án, tôi thường kết thúc việc đọc hay gõ máy khi đêm đã hết ba phần tư. Chồng tôi cũng thế, ngoài việc giúp tôi sưu tầm dữ liệu, còn thường phải viết một bài báo hay một bài chuyên mục để sáng sớm kịp gửi cho tờ báo hàng tuần đã nhận anh làm cộng tác viên.

Thực tế là trong khoảng từ 4 giờ 30 đến 7 giờ 30 chúng tôi thường không ngủ được gì nhiều. Khoảng gần sáng, những người hàng xóm thuê các phòng giáp nhau ở phía sau phòng chúng tôi tranh nhau xách nước ở giếng nước công cộng. Tiếng xô nước thả xuống giếng và giọng nói lanh lảnh của họ làm cho khó ngủ lại được. Đối với họ, nói tức là la. Còn khi họ gây gỗ thì khỏi nói.

Sáng sớm mà đã thấy bà Umi - đó là tên mọi người gọi người hàng xóm trung niên có chồng ngoại tình cãi nhau với con trai, là một học sinh trung học đệ nhất cấp học hành có phần chểnh mảng, khó kiểm soát, và hình như chẳng bao giờ nghe lời bà mẹ.

Đồng thời, hai người hàng xóm khác là một đôi vợ chồng trẻ có đứa con gái mới vào học sơ cấp, đang mở máy cát xét rất lớn - rõ là để che lấp tiếng cãi nhau của họ, dù vậy vẫn nghe được qua tiếng nhạc thình thình. Teh Nining đang càu nhàu vì chồng chị ngáy như trâu. Con họ thì hét rằng nó không muốn tắm.

Thỉnh thoảng, Teh Nining cũng hét to vì cãi nhau với Umi hay vì bị chồng đánh bằng dây nịt.

Chồng của Teh Nining thường đánh chị, thậm chí vì những lý do nhỏ nhặt nhất, đó là một thói quen càng ngày càng tệ sau khi anh ta bị khách sạn nơi anh làm việc sa thải. Tôi không biết lý do anh bị sa thải ngay sau khi chúng tôi thuê chỗ ở này ba tháng trước. Các việc chúng tôi biết về các nhà hàng xóm là gom góp được từ bà chủ khu phòng trọ này và từ Umi, người thích buôn chuyện có những thông tin được thêm mắm thêm muối.

Chúng tôi đã chuyển tới khu này vì nơi đây tiền thuê tương đối rẻ. Phòng của chúng tôi nguyên thủy là một gian phòng chính khá lớn nên chúng tôi dùng một giá sách ngăn thành hai phòng nhỏ. Một làm phòng ngủ, một làm phòng khách. Ở phía sau còn một phòng nhỏ hơn dùng làm nhà bếp và phòng tắm cũng được bố trí ở đó. Với diện tích đó, chúng tôi đã biến nơi này thành một chỗ ở thuận tiện.

Cuối nhà bếp là cửa dẫn ra phía sau. Ngoài cửa là một hành lang cao có bốn bậc tam cấp xuống đất, đối diện với hai phòng tôi nói trên. Có thời, chúng có thể là một khu nhà kho. Cả hai phòng đều có nền đất cứng, bên trong tối tăm và tù túng, không một tia nắng rọi vào. Chỗ của chúng tôi, ở phía trước hai phòng đó và trên nền cao nên hấp thụ hầu hết ánh nắng.

Bởi vì không có nhà bếp riêng, Umi và Teh Nining để bếp lò và dụng cụ nấu ăn của họ trên hành lang phía sau phòng chúng tôi. Vì thế khi họ nấu ăn, tiếng trò chuyện của họ, hay đôi khi, những cuộc tranh cãi của họ là không thể không nghe thấy.

Ở phía sau đó luôn luôn ồn ào. May là con chúng tôi quen với tiếng ồn và hầu như bình thường. Sự ồn ào không dứt cho tới khoảng mười giờ, sau khi bọn trẻ đã đến trường. Lúc đó Umi cũng đi dạo qua các đường trong xóm, hỏi nhận việc giặt giũ và mát xa đồng thời bán các thứ dược thảo đã gói sẵn, cây nhựa thơm, dụng cụ làm đẹp, và các thứ khác mà bà cất trong cái gùi đeo sau lưng. Teh Nining thì đi chợ để mua các thứ làm bánh chiên mà chị bán vào buổi chiều tối, từ năm giờ đến chín giờ, trên chiếc xe đẩy chị đậu ở giao lộ gần bên. Chồng chị thường thì vẫn ngủ từ lúc về nhà vừa khuya vừa say từ đêm trước. Nếu như anh ta dậy sớm và thấy vợ đã đi mà không chuẩn bị sẵn cà phê, anh ta sẽ nổi giận và chửi, rồi bực tức bỏ đi sau khi gửi chìa khóa nhà họ cho tôi.

Hình ảnh chồng của Teh Nining thường làm tôi vừa sợ vừa gớm. Anh ta không có vẻ khỏe mạnh và dơ như một con chuột cống. Mặt anh ta làm tôi hình dung đến một gian phòng đầy mạng nhện. Mắt anh ta có ánh nhìn bệnh hoạn và khi anh ta nói tôi nghĩ đến dạ dày anh ta đầy những con gián gớm ghiếc đang bò lên miệng để tỏa ra mùi hôi của chúng khi anh ta mở miệng. Anh ta sống qua ngày một cách vô tích sự, hoặc là chơi đá gà hoặc chơi đô mi nô với một nhóm thanh niên vô tích sự khác. Anh ta chỉ về nhà để ăn và nếu không có sẵn bữa ăn khi về, thì Teh Nining cứ mà chờ bị anh ta chửi hay đánh.

Vậy thì không có gì lạ khi Teh Nining cứ khen ngợi chồng tôi - rằng anh thì đẹp trai, thông minh và nhân hậu. Chị thường pha trò với chồng tôi khi hai người ngẫu nhiên gặp nhau khi phơi quần áo trước nhà tôi. (Trước khi đi làm buổi sáng, chồng tôi luôn giặt giũ quần áo và tắm cho em bé mới bốn tháng tuổi của chúng tôi). Thỉnh thoảng, cách Teh Nining nói chuyện với chồng tôi có vẻ hơi quá đáng - đó là sự kết hợp lạ lùng của sự trơ tráo và đỏm dáng. Tôi không thích chứng kiến những cảnh tượng đó. Chắc là vì tôi nghĩ chị có vẻ hấp dẫn. Chị có khuôn mặt dễ nhìn, cơ thể gọn gàng, đầy đặn, và có dáng đi đầy sức sống. Không may là cách chị ăn mặc, và hơn thế, cách chị trang điểm, thường là không phù hợp với chị. Chị đẹp hơn nhiều nếu không trang điểm, tôi nghĩ. Nhưng dường như chị bị Umi tác động với những thứ mỹ phẩm chị mua của bà.

Minh họa: Nhím


Khi chúng tôi mới dọn về chỗ ở này, Umi cũng thường mời tôi mua các món hàng của bà. Bà mời tôi những thuốc thảo dược đóng gói sẵn có những nhãn hiệu tôi chẳng hề biết, đồng thời ca ngợi hiệu quả của từng món thuốc.

“Cô phải thử món này! Món này đặc biệt dành cho phụ nữ…”, bà nói như bắt chước một mẩu quảng cáo trên truyền hình, “…để làm cho chồng cô mê mẩn cô! Cô mới có một cháu bé đúng không? Món này có nhiều điểm độc đáo: nó giữ cho cô nguyên si như con gái. Cô biết cô thợ may Enok phải không? Chồng cô ấy định li dị cô ấy - cho tới khi tôi bán cho cô ấy món này! Bây giờ thì anh ta không đi đâu cả. Cô ấy khen, êm và hoàn hảo”.

Tôi cười nhưng không quan tâm gì đến các món của Umi. Theo tôi, con tim đóng vai trò quan trọng trong hôn nhân hơn bất kỳ bộ phận nào khác. Nhưng để không làm Umi thất vọng và hy vọng bà sẽ đi trước khi con tôi thức dậy sau giấc ngủ trưa của nó và tôi có thể làm xong phần nào công việc của mình, tôi đã mua một ít cây nhựa thơm của bà. Nhưng Umi, có vẻ chưa muốn đi. Bà đứng ở cửa nhà bếp, dựa lưng vào đó. Trong khi vừa hút thuốc lá vừa gãi đầu, bà nói về hoàn cảnh của bà từ khi chồng bỏ đi.

“Hiện giờ thì khó khăn. Cha của Iwang thường lo cho tôi đến nỗi tôi sinh hư. Ông ấy chỉ là một nhân viên bảo vệ nhưng tôi thật sự thương ổng. Nếu như ông ấy còn ở đây, tôi sẽ không phải làm việc như bây giờ. Thậm chí ông ấy còn không cho tôi rửa chén. Tự ông ấy làm hết mọi việc - ngoại trừ việc nấu ăn. Ông ấy bảo tôi nấu ăn ngon nhất… Và cô phải luôn nhớ rằng nếu thức ăn một người đàn bà nấu mà ngon, thì cái chuyện đó cũng ngon…!”. Umi gần như hụt hơi sau khi cười giòn.

“Vậy sao bà còn bị ổng bỏ đi?”, tôi tò mò.

Umi lấy cái chày mà tôi đang cầm và bắt đầu giã gia vị mà tôi đã để trong cối. Tôi đẩy cái gạt tàn thuốc về phía bà và bà để điếu thuốc xuống.

“Cô biết đấy… Đàn ông ở đâu cũng như nhau!” Bà ngừng giã cối để hút một hơi thuốc.

“Tôi rất ngạc nhiên! Những thần chú bí mật mà thầy dạy tôi trước đây luôn luôn tỏ ra hiệu quả. Chồng tôi luôn luôn sợ mất tôi - nên ông ấy chăm sóc tôi tốt như thế. Nhưng Maemunah, tôi cho là cô ta có những câu thần chú mạnh hơn của tôi. Với chúng, con quỷ đó lấy mất chồng của tôi. Chính mắt tôi thấy họ hôn nhau trong phòng tôi. Ở đây! Ngay đây! Cô tưởng tượng đi!”

Tôi không hoàn toàn tin câu chuyện của Umi vì tôi đã nghe khác. Tôi cũng có những lý do khác để không hoàn toàn tin bà. Bà thường xin giặt thuê đồ cho nhà tôi nhưng một lần tôi đưa đồ cho bà giặt, thì một số món đã bị mất. Khi tôi hỏi bà về chúng, bà thề - thậm chí bà đã nhân danh Thượng đế - rằng mọi thứ bà được tôi giao đã được bà giặt, phơi, gấp và trả lại cho tôi, không có món nào bị mất. Về sau tôi biết Umi đã đi bán những món đồ y hệt như các món tôi mất cho những nhà hàng xóm trong khu dân cư đằng sau nhà tôi.

Một lần khác, tôi cho Umi mát xa tôi, không phải vì tôi thực sự cần mát xa - bởi vì, chồng tôi thường mát xa cho tôi và ngược lại - mà vì bà mời mọc nhiều lần đến nỗi cuối cùng tôi mệt mỏi vì từ chối. Kỹ thuật mát xa của bà thì được nhưng suốt buổi mát xa bà không ngừng nói. Bà kể về những người hàng xóm khác, luôn luôn thêm mắm thêm muối vào mỗi câu chuyện: Bà A thích gọi cho đàn ông khi chồng đi vắng; chồng của bà B mắc bệnh giang mai vì nhiều lần đi nhà thổ; bà C gặp rắc rối vì không thể trả nợ tiền một người cho vay, và vân vân… Nhưng hơn tất cả trọng tâm những câu chuyện huyên thuyên của bà là về người hàng xóm chung của chúng tôi, Teh Nining.

Nining là vận xui cho chồng chị ta ngay từ lúc bắt đầu, Umi nói. Từ khi Dadang, chồng chị ta lấy chị ta về, mọi cố gắng làm ăn của hắn đều thất bại. Dù là bán những món lặt vặt, giày, hay gì gì khác thì hắn chẳng bao giờ gặp may. Rồi sau cùng, khi kiếm được một việc làm ở một khách sạn, thì hắn lại bị sa thải. Nhưng, Umi nói, chẳng có gì để ngạc nhiên vì chuyện này, vì khi Dadang lấy Nining thì chị ta đã không còn trinh. Có thể chị ta tự cho là may mắn khi lấy được hắn, nhưng rồi chuyện gì đã xảy ra? Sau khi lấy nhau, chị ta tiếp tục lẳng lơ với những người khác. Một phụ nữ thì phải luôn luôn cẩn trọng, Umi nhấn mạnh, vì quỷ dục vọng cư trú trong mắt của mọi người đàn ông. Nếu cha của Iwang, người chồng tốt, là người bà đã bảo vệ bằng những câu thần chú, có thể bị quyến rũ bởi một người đàn bà khác, thì nên tội nghiệp cho người vợ mất chồng. Khi người vợ của ông thợ bánh mì tạt dầu nóng vào mặt Nining, không ai nên ngăn cản. Vì rằng chị ta đã định lấy chồng của người đàn bà kia.

Umi cứ tiếp tục kể về những khiếm khuyết vô bằng cớ của Teh Nining. Và dù giọng bà có sức thuyết phục, tôi không cho những câu chuyện của bà là có giá trị. Để đáp lại những lời buộc tội và ám chỉ, tôi chỉ mỉm cười hay nói những lời vô thưởng vô phạt, không để cho những lời bà nói nhập tâm. Tôi chẳng quan tâm bàn luận những chuyện xa vời. Tôi chắc rằng Teh Nining không tệ như Umi kể. Mặc dù hành vi của chị ta đối với chồng tôi có phần quá đáng, tôi hoàn toàn chắc chị không có ý định hại tôi. Có khá nhiều yếu tố để đánh giá tính cách của một người và tôi ngờ rằng Teh Nining cư xử như vậy là vì chị đồng cảm với cách chồng tôi đối xử với tôi hoàn toàn khác với cách chồng của chị đối xử với chị.

Và dù thỉnh thoảng tôi không thích cách cư xử của Nining, tôi sẽ không vội trách cứ chị chuyện gì. Sự thật là, tôi ngưỡng mộ chị, đặc biệt là về sự kiên quyết và sự làm việc chăm chỉ để lo cho gia đình. Ngoài ra, không như Umi, chị không phải là một người buôn chuyện. Điều duy nhất làm tôi ngạc nhiên là tại sao, là một người trẻ và có đầu óc độc lập như chị, mà lại để cho chồng hành xử khá tệ như thế.

Sáng nay chúng tôi dậy rất sớm, trước khi bóng của con mèo xuất hiện trên tấm màn phòng ngủ. Kim đồng hồ báo thức chỉ hơn sáu giờ sáng một chút. Chúng tôi thức dậy vì tiếng khóc của con. Rõ ràng thằng bé bị giật mình vì tiếng ly, dĩa bị ném và hàng loạt lời thô tục vang lên từ một trong những gian phòng phía sau. Hình như là Dadang, chồng của Teh Nining đã về nhà.

Khi vợ chồng tôi dỗ được em bé, chúng tôi tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra. Có một tiếng động dễ sợ, một tiếng dộng mạnh. Chúng tôi đoán rằng Dadang đã nắm tóc của Teh Nining đập đầu chị vào tường. Chúng tôi nghe tiếng Teh Nining thét lên và tiếng con gái của họ khóc. Rồi đến tiếng ly bể, tiếng cửa đóng thình, và tiếng bước chân. Chúng tôi nhìn nhau rồi cùng đứng dậy để đi xem chuyện gì đã xảy ra. Nhưng lúc ấy em bé lại khóc vì thế tôi ở lại trong giường trong khi chồng tôi đi ra phía sau.

Không lâu sau anh trở lại.

“Nhà chị ấy đóng cửa”, anh nói.

Suốt buổi sáng, tôi băn khoăn về Teh Nining. Tôi gõ cửa nhà chị nhiều lần nhưng không ai mở cửa. Nhà của Umi cũng yên lặng, chẳng biết bà đi đâu.

Vào buổi trưa tôi nghe tiếng gõ cửa nhà bếp. Khi tôi mở cửa, tôi thấy một khuôn mặt có vết bầm và đôi mắt sưng.

“Teh Nining! Vào đi!”

Chị hơi lảo đảo khi bước vào nhà.

“Tôi xin lỗi vì quấy rầy chị”, chị nói chầm chậm. (Chị luôn luôn gọi tôi là chị dù tôi nhỏ hơn chị hai tuổi).

“Không có gì đâu. Tôi vui vì chị đến gặp tôi. Tôi đã gõ cửa nhà chị nhiều lần…”.

“Tôi có nghe nhưng người yếu quá không dậy nổi. Tôi cảm thấy hơi chóng mặt, mình mẩy của tôi khó chịu”.

Hiển nhiên là chị ta muốn giấu tình trạng thật của mình.

“Nhưng trán chị bị bầm. Chuyện gì đã xảy ra?”, tôi hỏi.

“Tôi va trán vào một vật. Thật sự không có gì…”.

“Có thật sự không có gì không?”

Chị gật đầu rồi nhanh chóng nói lý do chị sang gặp tôi: chị cần mượn tôi một số tiền. Chị muốn thăm anh của chị ở Cililin nhưng không đủ tiền lộ phí. Dù tôi còn thắc mắc, tôi nhanh chóng đưa số tiền mà chị cần. Sau khi hứa trả lại tiền khi chị từ Cililin về, chị đi, một lần nữa lại lảo đảo trong khi đi về phòng chị. Tôi tiễn chị đến cửa nhà bếp.

Umi về nhà cùng lúc đó nhưng hai người đàn bà không chào nhau.

Sau khi Teh Nining vào phòng, Umi vội vã tới chỗ tôi đang đứng, đẩy tôi vào nhà và đóng cửa lại.

“Nining muốn gì?”

“Không có gì”.

“Nó có nói chồng nó đánh nó không?”

“Không”.

“Vậy thì sao?”

“Chị ấy cần mượn một số tiền”.

“Dĩ nhiên rồi. Chồng nó lấy tất cả tiền tiết kiệm, thậm chí lấy cả tiền dùng để mua các thứ ngoài chợ… Rõ là vì cờ bạc thôi”.

“Sao chứ?”

“Nhưng đáng đời Nining. Chồng nó mới biết nó đang gặp gỡ một gã xe ôm. Dĩ nhiên là anh ta giận dữ. Người đàn ông nào mà lại muốn bị đối xử như thế?”.

“Chồng chị đã thấy họ hả?”

“Anh ta đâu cần phải thấy. Tôi nói cho anh ta biết. Anh ấy nghe tin từ tôi thì tốt hơn từ người khác, đúng không?”

“Vậy là bà thấy Teh Nining với người đàn ông đó?”

“Không cần phải tự mình thấy. Ai cũng biết cả!”.

Tôi không biết có nên tin Umi hay không. Bà ta có thể đang kể sự thật, mà cũng có thể không. Và bất chấp sự thật, tôi vẫn thương cho Teh Nining.

Cuối cùng thì Teh Nining đi Cililin, đem đứa con gái đi với chị. Một tuần trôi qua và những gian phòng phía sau yên tĩnh lạ lùng không có tiếng nhạc ầm ĩ từ cát xét. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng hét của Umi phá vỡ sự yên lặng. Bà có vẻ bực bội, vì không có ai để gây gỗ.

Chồng của Umi ít khi thấy có mặt. Thỉnh thoảng, vào lúc tảng sáng, chúng tôi nghe tiếng ông ta về nhà, say rượu lè nhè nói với chính mình và nôn phía ngoài phòng.

Tôi không biết rồi Teh Nining có trở lại hay không nhưng một hôm tôi thấy một người đàn bà đứng phía ngoài phòng chị. Mới đầu tôi nghĩ đó là Teh Nining nhưng rồi Umi cho tôi biết người đó là ai.

“Đó là bồ của Dadang. Chị ta có thai…”.

Tôi nín lặng không biết phải nói gì.

Võ Hoàng Minh dịch
(Từ “The rooms out back”)
Nguồn: http://wordswithoutborders.org)  
(TCSH352&SDB29/06-2018)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Salman Rushdie (1947), nhà văn và người viết tiểu luận, gốc Ấn, hiện sống tại Mỹ, là tác giả của nhiều tiểu thuyết gây tiếng vang, như Những đứa con của nửa đêm, được trao giải Booker, năm 1981, và cả những tiểu thuyết gây tranh cãi như Những vần thơ của Satan, 1988. Văn phong Rushdie thâm trầm, khoáng lộng, hài hước và tươi mới.

  • FRANK O’CONNOR  

    Khi tôi tỉnh giấc, tôi nghe có tiếng mẹ ho ở nhà bếp. Mẹ bị ho đã nhiều ngày nhưng tôi không để ý. Chúng tôi sống ở Old Youghal Road, nơi mà vào lúc đó, có một con đường nhiều đồi dốc dẫn tới East Cork.


  • E. RUXACỐP (Nga)

  • ABDULRAZAK GURNAH    

    Tôi nghĩ anh ta đã nhìn thấy tôi đang tiến lại gần, nhưng vì lý do riêng nào đấy nên anh ta vẫn không có dấu hiệu gì.

  • Maurice Druon, sinh năm 1918, theo học Đại học Luật Paris. Trong chiến tranh thế giới ln thứ hai, ông tham gia lực lượng kháng chiến Pháp chng phát xít Đức, là thông tin viên Đài Phát thanh Kháng Chiến. Giải Goncourt 1948 với tác phm "Đại Gia đình" (Les Grandes Familles). Các tác phm đậm chất trữ tình của nhà văn: "Kết thúc đời người" (La Fin des Hommes), "Hẹn gặp tại Địa ngục" (Rendez-vous aux enfers) phản ánh một thiên hướng theo trường phái Balzac.
    Ông đồng thời là tác giả một số tiểu thuyết lịch sử.

  • JENNIFER WALKUP   

    Tôi sẽ không nói với ai về việc chẩn đoán.
    Không hé răng với mẹ hay em gái tôi. Chắc chắn không phải Jake và có lẽ với Steve cũng không hề.

  • GRAHAM GREEN

    Cái chết đến kề như một nỗi nghiệt ngã day dứt mà ta hổ thẹn không dám thổ lộ với bạn bè hoặc đồng nghiệp.

  • ELISABETH SILANCE BALLARD

    Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Truyện khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm.

  • Tác giả tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 - 1985). Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học. Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…

  • KATE CHOPIN

    Catherine O’ Flaherty sinh năm 1850 tại Saint Louis, Missouri, bố gốc người Ái Nhĩ Lan, mẹ gốc Pháp, lớn lên trong môi trường đa văn hóa, từ nhỏ đã nói tiếng Pháp đồng thời với tiếng Anh.

  • Nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sỹ, dịch giả Ấn Độ Rabindranath Tagore sinh năm 1861 tại Calcutta, Ấn Độ và mất năm 1941. Ông để lại một di sản văn học - nghệ thuật đồ sộ với hàng ngàn tác phẩm đủ các thể loại. Tagore còn là nhà yêu nước, đòi giải phóng Ấn Độ khỏi sự cai trị của Anh. Ông được trao giải Nobel văn học năm 1913.

  • O’Neil De Noux sinh ngày 29/11/1950 tại New Orleans, bang Louisiana, Hoa Kỳ. Ông là một nhà văn Hoa Kỳ có sức sáng tác mãnh liệt với nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn, đã có 42 đầu sách được xuất bản. Phần lớn sáng tác của ông là truyện trinh thám hình sự, tuy nhiên ông cũng viết nhiều thể loại khác như tiểu thuyết lịch sử, truyện dành cho trẻ em, truyện khoa học viễn tưởng, kinh dị, tình cảm, v.v.

  • JASON HELMANDOLLAR

    Jason Helmandollar là một nhà văn người Mỹ, tác giả của nhiều truyện ngắn nổi tiếng được đăng trên các báo, tạp chí đang thịnh hành lúc bấy giờ như Encounters Magazine, Bartleby Snopes, Title Goes Here, Sideshow Fables. “The Backward Fall” là một trong những truyện ngắn hay và hấp dẫn của ông.

  • TIMUR JONATHAN KARACA

    Timur Jonathan Karaca được sinh ra ở San Francisco. Ông là bác sĩ y khoa khoa gây mê tại UCSF. Ông sống ở Oakland, nơi ông hành nghề. Karaca theo học sáng tác tại Studio Hi Nhà văn San Francisco.

  • Naguib Mahfouz (1911 - 2006) sinh ra trong một gia đình nghèo tại Cairo. Ông học triết học tại Đại học Cairo và làm công chức cho tới khi về hưu năm 1971. Mahfouz là nhà văn lớn của Arab và của thế giới. Ông có 35 tiểu thuyết, 14 tập truyện ngắn và nhiều tác phẩm kịch. Tác phẩm của ông rất phổ biến ở phương Tây. Mahfouz được trao giải Nobel văn chương năm 1988.
    Truyện ngắn dưới đây diễn tả bi kịch của cá nhân khi bị phụ thuộc vào kẻ khác. Tuy nhiên, như rất nhiều tác phẩm khác của văn học Arab, nó còn mang tính ẩn dụ và nghĩa hàm ẩn.

  • ALBERT LAMORISSE (Pháp)

    Albert Lamorisse là một nghệ sĩ đa tài của nước Pháp. Ông vừa viết văn, làm thơ, vừa biên kịch và đạo diễn điện ảnh. Truyện "Quả bóng đỏ" (Le Ballon Rouge) này đã được chính Albert Lamorisse dựng thành phim, rất nhiều người hâm mộ.