Những chuyện chưa phải ai cũng biết về người treo cờ đỏ sao vàng trên cột cờ Huế 8/1945

15:11 26/12/2008
NGUYỄN KHẮC PHÊTrước ngày Huế khởi nghĩa 23/8/1945, có một sự kiện khiến cả thành phố náo nức vui mừng: đó là việc lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên đỉnh cột cờ Huế ngày 21/8 thay cho cờ quẻ ly. Người chiến sĩ được đồng chí Trần Hữu Dực trực tiếp giao nhiệm vụ quan trọng ấy là chàng thanh niên 25 tuổi Đặng Văn Việt (ĐVV).

Gia đình ĐVV và gia đình tôi vốn là chỗ quen biết (thân phụ tôi có thời hoặc chữ Nho với ông nội ĐVV) nhưng từ lâu tôi chỉ biết ông là một trung đoàn trưởng lừng danh thời chống Pháp và quan tâm đến quãng đời lận đận của ông sau khi rời quân ngũ, không ngờ ông đã sớm được tin cậy trao trọng trách góp phần vào một sự kiện có ý nghĩa ở Huế trong những ngày đầu khởi nghĩa.
Cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 thực sự là cuộc cách mạng của cả dân tộc, nên chàng trai được cấp trên tin cậy ấy lại là một "công tử" con quan. Thân phụ chàng là cụ Đặng Văn Hướng, đỗ Phó bảng năm 1919, từng giữ chức Thị lang Bộ Công, Tham tri Bộ Hình ở Huế... Sau Cách mạng Tháng 8/1945, Hồ Chủ tịch đã mời cụ làm Bộ trưởng không bộ, phụ trách 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Ông nội chàng là cụ Đặng Văn Thuỵ, đỗ Hoàng Giáp năm 1904, từng giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám Huế. Cụ Thuỵ xuất thân từ một gia đình thợ rèn, đỗ đại khoa, làm quan to, khi cáo quan về quê lại sống cuộc đời dân dã như một người lao động bình thường nên dân chúng trong vùng truyền tụng rất nhiều giai thoại tôn vinh cụ. Nhắc đến gia thế và để hiểu nguồn gốc một con người, xưa nay thường chỉ kể về bên nội; điều đó không "công bằng" và cũng không chính xác, vì "bên nội" chỉ làm nên nhiều lắm là một nửa con người!  Vậy nên xin kể qua gia đình bên ngoại của chàng trai họ Đặng. Bà nội của chàng là ái nữ của cụ Cao Xuân Dục, một vị đại thần có nhiều công lao trong sự nghiệp văn hoá-giáo dục thời nhà Nguyễn; thân mẫu của chàng xuất thân từ một đại gia họ Hoàng nổi tiếng ở phố Hàng Đào (Hà Nội). Đó là gia đình cụ Hoàng Đạo Phương, anh ruột cụ Hoàng Đạo Thuý - người anh cả Hướng đạo Việt . Ngoài cô con gái đầu lòng về làm dâu họ Đặng, những cô gái khác con cụ Hoàng Đạo Phương trở thành những "nội tướng" của các gia đình danh giá; trong đó, đặc biệt có bà Hoàng Thị Hảo là phu nhân của ông Trịnh Văn Bính, một nhân sĩ nổi tiếng, Thứ trưởng Bộ Tài Chính, người đã có công xây dựng ngành Tài chính nước ta thời kỳ cách mạng mới thành công; một người nữa là bà Hoàng Thị Hồ, phu nhân của ông Trịnh Văn Bộ, một nhà công thương yêu nước từng đóng góp lớn về tài chính cho Chính phủ cụ Hồ trong những ngày đầu về thủ đô; Căn nhà số 48 Hàng Ngang của gia đình bà Hồ chính là nơi Hồ Chủ tịch đã ở lúc viết bản Tuyên ngôn độc lập của nước Viêt Nam dân chủ cộng hoà; cũng chính gia đình bà đã hiến 117 lạng vàng trong Tuần lễ Vàng ở Hà Nội... Nhắc gia thế của người chiến sĩ treo cờ trên Ngọ Môn Huế 1945 để thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh với chính sách đại đoàn kết đã có sức tập hợp mọi tầng lớp trong xã hội vì nghĩa lớn của dân tộc - một bài học lớn vẫn có ý nghĩa đến ngày hôm nay.

Chàng trai xuất thân từ một gia đình như thế đã có vinh dự được treo lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên lên cột cờ trước Ngọ Môn. Chàng từng là học sinh Trường Quốc học Huế; sau khi đỗ tú tài toàn phần, ra Hà Nội học "trường thuốc", nhưng chưa thành bác sĩ thì Nhật đảo chính Pháp, "trường thuốc" phải đóng cửa, chàng lại trở vào Huế dự lớp học "Thanh niên tiền tuyến" của Phan Anh, tham gia tổ Việt Minh bí mật trong lớp học.
Sáng 20/8/1945, ĐVV được mời đến một điển hẹn gặp đồng chí Trần Hữu Dực, lúc đó là Thường vụ Tỉnh uỷ.
- “Tôi giao cho đồng chí lá cờ đỏ sao vàng. Đồng chí có nhiệm vụ treo nó lên cột cờ trước cửa Ngọ Môn.”
- “Xin cho biết bao giờ xong?”
- “Nội trong ngày mai 21/8.”
Người lính trẻ ĐVV theo tác phong quen thuộc chỉ biết tìm cách để hoàn thành nhiệm vụ.

Nhận lá cờ to bằng cả gian nhà từ tay đồng chí Trần Hữu Dực trao cho, Đặng Văn Việt cuộn lại cho vào một bao tải, buộc vào sau xe đạp rồi chở về Trường "Thanh niên tiền tuyến". Trên đường phố, xe đạp, xe kéo nhộn nhịp, tiếng guốc gỗ lẹp kẹp kéo lê dọc vỉa hè; một tốp lính Nhật chừng 30 tên, hàng ngũ chỉnh tề. đang đi về phía Toà Khâm, tên chỉ huy đeo lưỡi kiếm dài gần sát đất. ĐVV dừng xe nghỉ lấy sức, ăn một bát chè đậu ván thịt quay cho mát dạ. Trên kỳ đài, cờ “ba que” vẫn phấp phới tung bay trước gió...
Hơn nửa thế kỷ sau, ĐVV kể lại chuyện cũ một cách bình thản, nhưng ngày đó thì người lính trẻ hẳn là hồi hộp lắm. Về đến trường, anh giấu kín bao tải trong một góc buồng. Hầu hết anh em lớp "Thanh niên tiền tuyến" đã "Việt Minh hoá", nên chẳng cần phải quá giữ gìn. Sáng hôm sau, ngày 21/8/1945, theo kế hoạch đã thống nhất với đồng chí Lâm Kèn, tổ trưởng Việt Minh, Đặng Văn Việt cùng với Nguyễn Thế Lương (tức Cao Pha) dùng xe đạp chở lá cờ lớn đến kỳ đài Huế. Hai anh em ăn mặc chỉnh tề với bộ kaky vàng mới toanh, dày cộp và bộ ghệt ôm chặt đôi chân, mũ ca-lô đội đầu, trong chẳng khác gì 2 ngự lâm pháo thủ. ĐVV thì còn khẩu súng ngắn “Barillet” của anh Thế Lương cho mượn đeo bên hông. Lá cờ được cuộn tròn theo chiều ngang, to như một con trăn lớn, buộc chặt và gác lên hai đầu xe đạp.

Kỳ đài Huế có 3 tầng, cột cờ cao 29,52 mét. Dây kéo cờ là một sợi thừng to bằng cổ tay, mỗi lần kéo cờ lên xuống phải dùng sức mạnh của sáu tên lính vạm vỡ. Do đó, nếu không dựa uy thế của cách mạng khuất phục bọn lính bảo vệ ở đây thì hai chàng thanh niên vừa “Việt Minh hoá” không thể kéo cờ lên được. Bảo vệ cột cờ trước Ngọ Môn lúc đó có một tiểu đội lính 12 tên, được trang bị 12 khẩu súng mút-cờ-tông, chỉ huy là một "thầy đội". Họ còn có nhiệm vụ là đốt pháo lệnh vào lúc 6 giờ sáng, 12 giờ trưa và 6 giờ chiều. Bọn chúng đã nghe tin cách mạng nổ ra ở Hà Nội và nhiều nơi khác nên không dám ngăn cản hai chiến sĩ của ta.
Dựng xe đạp dưới chân kỳ đài, Nguyễn Thế Lương chịu trách nhiệm giữ xe và lá cờ, còn Đặng Văn Việt chạy băng lên nhà lính gác, truyền lệnh cho thầy đội:
- Theo lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa Cách mạng, chúng tôi có nhiệm vụ treo cờ đỏ sao vàng lên cột cờ. Các anh cho hạ ngay cờ quẻ ly...
Trước uy thế của cách mạng, "thầy đội" không dám phản ứng, miệng rối rít:
- Dạ dạ, các ông cứ ra lệnh.
- Anh cho hai lính xuống giúp đưa cờ lên đây.

5 phút sau, lá cờ đã được đưa đến vị trí cần thiết và lễ treo cờ bắt đầu. Lúc đó vào khoảng hơn 9 giờ sáng. 6 lính bồng súng và thày đội xếp hàng ngang, Nguyễn Thế Lương đứng đầu hàng. Đặng Văn Việt ra lệnh: "Hạ cờ". Sáu người lính liền kéo dây hạ lá cờ quẻ ly xuống rồi buộc thay vào đó là cờ đỏ sao vàng. Sau khi chỉnh đốn lại hàng ngũ, Đặng Văn Việt hô lớn: "Chào cờ. Chào!"
Những người lính bảo vệ kỳ đài bồng súng chào, còn hai chiến sĩ Viêt Minh đưa ngang tay chào kiểu nhà binh. Lá cờ Tổ quốc hai ngày trước đã tung bay trên bầu trời Hà Nội, nay từ từ đựơc kéo lên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn, giữa tiếng reo vui của nhân dân thành phố Huế đang sục sôi khí thế cách mạng.
Hai ngày sau (23/8/1945), Cách mạng Tháng 8 bùng nổ ở Huế, Uỷ ban khởi nghĩa Trung Bộ và Thừa Thiên - Huế ra mắt trước một cuộc mít tinh lớn. Và một tuần sau (ngày 30/8/1945), cuộc mét tinh lớn thứ hai tổ chức trước Ngọ Môn để làm lễ nhận ấn tín của nhà vua và công bố tuyên ngôn thoái vị trước Đoàn đại biểu thay mặt Chính phủ Trung ương do ông Trần Huy Liệu và nhà thơ Huy Cận đứng đầu…

Những chuyện đó nhiều người đã biết. Nhưng có một chi tiết là trước cuộc mét tinh, theo đề nghị của vua Bảo Đại, trước khi giao ấn kiếm, Ban Tổ chức cho phép kéo cờ quẻ ly lên lần cuối và do đó, lần thứ hai, lá cờ đỏ sao vàng lại được kéo lên. ĐVV đang đứng dự mít tinh, bỗng thấy ông lãnh binh đội cận vệ Hoàng gia (lính khố vàng) đến cạnh và nói: “Hôm nọ, khi hai ông ra lệnh hạ cờ nhà vua, tôi đã cho 120 lính khố vàng nằm rạp dọc thành cửa Ngọ Môn, chĩa súng vào hai ông. Xiníy kiến Hoàng Đế,, ngài thét lên và bảo: “Chớ, chớ! Việt Minh đấy! Các ngươi mà nổ súng thì trẫm là người chết trước đó!”…Hôm ấy mà Hoàng Đế ra lệnh bóp cò thì hôm nay hai ông không còn nữa  và chắc chắn hôm nay tôi và vợ con tôi cũng không còn nữa…” ĐVV cười và nói: “Vận nước đã xui các ông không làm một việc bậy bạ. Tránh được một thảm hoạ cho cả hai bên…”

Câu chuyện nhỏ “đừng bắn” ấy trong ngày Cách mạng Huế Tháng 8 /1945, ngẫm ra thật có ý nghĩa …Và hầu như toàn bộ lực lượng vũ trang của chính quyền Trần Trọng Kim lúc đó gồm lính khố vàng, lính khố xanh, lính khố đỏ đều răm rắp theo lệnh của cách mạng, hạ vũ khí, bàn giao kho tàng cho Uỷ ban khởi nghĩa; nhiều người đã tham gia lực lượng vũ trang của ta. ĐVV được chỉ định làm Phân đội trưởng Phân đội I (gồm 36 người) của Giải phóng quân, trần giữ cửa Thuận An và tại đây, anh đã chỉ huy trận bao vây chiếc tàu đầu tiên của giặc Pháp định quay lại chiếm Huế, bắt sống một số tên, trong đó có tên quan ba là đại đội trưởng thuộc Trung đoàn do tướng Alessandri chỉ huy…
Sau những ngày đầu cách mạng sôi nổi ấy, lớp chiến sĩ trẻ trường “Thanh niên tiền tuyến” của Phan Anh đã tiếp tục có nhiều đóng góp trong hai cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc ta, trong đó có 8 người đã trở thành những tướng lĩnh được nhiều người biết như Cao Văn Khánh, Phan Hàm, Cao Pha, Đoàn Huyên, Lâm Kèn…

Riêng người chiến sĩ kéo lá cờ năm ấy, trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp đã lập những chiến công lẫy lừng, xứng đáng với vinh dự được cách mạng tin cậy giao phó ngày đầu cách mạng. Đặng Văn Việt chính là người trung đoàn trưởng nổi tiếng đã chỉ huy những trận đánh trên "Đường só 4 rực lửa" trong chiến dịch biên giới (năm 1950), khiến tướng tá giặc khiếp đảm và gọi ông là "Đệ tứ quốc lộ đại vương"! Ngày 19/8/1987, đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong lời mở đầu cuốn hồi ký “Đường số 4 - con đường lửa” của Đặng Văn Việt đã viết: “Cuốn hồi ký…đã trung thành ghi lại một phần những sự kiện quan trọng và những giờ phút không bao giờ quên trên chiến trường lịch sử. Với ý nghĩa ấy, cuốn hồi ký là một thành công. Tôi rất hoan nghênh.” Trong “Lời tựa” cho cuốn sách, đại tướng Hoàng Văn Thái cũng đã viết: “ …Cuốn sách này, bằng lời văn giản dị, mộc mạc, đã miêu tả được những trang sử hào hùng của đường số 4 năm xưa…Cuốn sách cũng đã nêu được một số nét đặc sắc của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tôi thành thực hoan nghênh tác giả và cho rằng đây là một cuốn sách quý …” Cuốn sách đã được Uỷ ban toàn quốc các Hội văn học- nghệ thuật toàn quốc trao tặng thưởng. Được biết ĐVV còn là tác giả chính của một bộ sách lớn viết về nghệ thuật quân sự của Việt đang chờ được xuất bản.
Với nhân dân Huế, 61 năm qua, ngay cả quãng thời gian thành phố bị tạm chiếm, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng vẫn luôn luôn là ánh sáng soi đường, là niềm hy vọng và đến nay, ngày ngày lá cờ ấy vẫn tung bay trên kỳ đài như một biểu tượng của Tổ quốc vững mạnh trường tồn.

         Trường An-Huế, Tháng 8/2006
         (Theo hồi ký của Đặng Văn Việt)
                           N.K.P

(nguồn: TCSH số 211 - 09 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

  • PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.

  • XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!

  • Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.

  • NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com

  • VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.

  • TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.

  • TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.

  • TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

  • MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.

  • NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.

  • HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.

  • LÊ HUỲNH LÂMNhững ngày mưa gió lê thê của mùa đông ngút ngàn vừa đi qua, những trận lụt bất thường gây nên bao tan tác, để lại những vệt màu buồn thảm trên gương mặt người dân nghèo xứ Huế, các con đường đầy bùn non và mịt mùng từng đám bụi phù sa, những vết thương còn âm ỉ trong hồn người…

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCCâu chuyện tôi sắp kể với các bạn dưới đây không phải là một câu chuyện thuộc huyền sử về lửa cỡ như ngọn lửa Prométe hay biểu tượng lửa trong đạo Hinđu, hay lửa trong Kinh Dịch tương ứng với phương nam, màu đỏ, mùa hè...

  • PHAN VĂN LAITrong cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Huế đã nổi lên là một chiến trường xuất sắc, được Đảng, Chính phủ tặng danh hiệu: “Tiến công nổi dậy, anh dũng kiên cường”, được Bác Hồ khen ngợi: “Bác rất vui mừng vừa qua Huế đã đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi to lớn” và được cả nước tự hào về Huế.