Nhớ một kỷ niệm với nhà thơ Tố Hữu

15:55 03/11/2020

NGUYỄN QUANG HÀ

Tôi vốn là người lính. Sau Mậu Thân 1968, một số phóng viên báo Cờ Giải Phóng - Huế hy sinh, một số bị thương ra Bắc, tôi được thành đội trưởng Huế cử biệt phái sang làm phóng viên báo Cờ Giải Phóng, sau mấy năm thì trở thành phóng viên thật sự.

Ảnh: laodong.vn

Không ngờ năm 1974 tại cuộc chiến đấu vùng sâu Quảng Điền, tôi bị thương, bị sốt rét, được đưa ra Bắc chữa bệnh.

Cuối năm 1974 tôi khỏi bệnh, đúng lúc Hội Nhà văn mở khóa 7, tôi được điều động đi học. Các nhà văn, nhà thơ đến dạy lớp này rất đông. Trong đó, có nhà thơ Xuân Diệu đến giảng về chuyên đề thơ.

Vốn thời trẻ, anh Xuân Diệu học ở Quốc Học Huế nên nghe tôi ở Huế ra, anh rất mừng, đưa tôi về nhà, bảo tôi kể chuyện chiến trường cho anh nghe.

Rất may, bữa anh em đang trò chuyện thì có khách tới, anh Xuân Diệu giới thiệu ngay:

- Đây là nhà thơ Tố Hữu.

Tôi nói là tôi rất yêu thơ Tố Hữu, ngay lúc đó tôi đọc liền hai bài thơ: bài Hồ Chí Minh và bài Việt Bắc.

Từ thuở đi học, tôi đã được học hai bài thơ này. Tôi nói với anh Tố Hữu:

- Em rất thích các câu trong hai bài thơ này.

Tôi liền đọc cho hai anh nghe:

“Hồ Chí Minh
Hỡi ngọn đuốc thiêng liêng
Trên đầu ta, ngọn cờ dân tộc
Trăm thế kỷ trong tên Nguyễn Ái Quốc
Bạn muôn đời của thế giới đau thương”.

“Mình đi có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù
Mình về có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”.

Anh Tố Hữu tỏ ra rất vui, đúng thời điểm đó, anh Xuân Diệu giới thiệu ngay:

- Em Quang Hà là lính Thân Trọng Một vừa ở chiến trường Thừa Thiên Huế ra.

Nghe thế, anh Tố Hữu nhào tới ôm lấy tôi như hai người đồng hương gặp nhau.

Anh Tố Hữu hỏi tôi liền:

- Em có yêu Huế không?

Tôi đáp:

- Em yêu Huế như thơ anh:

“Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!
Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười
Mây núi hiu hiu, chiều lặng lặng
Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi”.

Anh Tố Hữu lại hỏi:

- Ở Huế em đã đi nhiều nơi chưa?

Tôi đáp:

- Em là trinh sát đặc công, lại là phóng viên, nên đi khắp như thơ anh đã nhắc nhở:

“Tháng Tám vùng lên Huế của ta
Quảng - Phong ơi, Hương Thủy, Hương Trà
Phú Vang, Phú Lộc đò lên Huế
Đỏ ngập dòng sông rộn tiếng ca”.

Anh Tố Hữu càng ôm tôi rất chặt. Phải một lúc sau tôi mới thong thả kể anh nghe: Ở Huế vất vả lắm. Về nông thôn càng vất vả hơn. Ngày nằm dưới hầm bí mật, đêm lên hầm cơ sở dẫn đi vận động nhân dân tham gia kháng chiến, tổ chức dân quân, du kích giữ làng giữ xóm. Có lúc dân đói ăn khoai ăn sắn nhường cơm cho bộ đội ăn. Ở đâu cũng có các bà mẹ như “Bầm ơi” của anh:

“Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần”.

Chúng em đi chiến đấu mới hiểu đúng như Bác Hồ dạy: “Không có nhân dân liệu chúng ta làm được gì”. Và chúng em đã chiến đấu ngoan cường:

“Giết giết quân xâm lược!
Mau xung phong! Xung phong!
Cờ bay lên cứu nước
Máu giặc phải thành sông!”

Theo sát Mậu Thân anh thấy đó, chúng em kiên cường như thế nào. Hết đạn trong tay rồi, Trung ương bảo Huế phải ở lại gánh trách nhiệm cho thành phố bạn, chúng em đã giữ Huế tận 25 ngày.

Tôi kể chuyện người lính thôi nhưng anh Tố Hữu đắm đuối theo dõi. Tôi hiểu đó chính là tình yêu quê hương của anh, anh muốn xem quê hương mình ra sao. Đoạn tôi kể về những chuyến về đồng bằng từ chiến khu về huyện Hương Thủy, chúng tôi phải vượt sông Hương. Lập tức, anh Tố Hữu ngân nga mấy câu:

“Chí ta như núi Thiên Thai ấy
Đỏ rực chiều hôm dậy cánh đồng
Lòng ta như nước Hương giang ấy
Xanh biếc lòng sông những bóng thông...”

Đầy cảm xúc, anh hỏi:

- Đã có lần nào em về Quảng Thọ chưa?

Tôi đáp:

- Em về đó mấy lần rồi. Dẫu là đêm hôm tối mù mịt, chúng em vẫn nhờ cơ sở mật dẫn vào thăm nhà anh và nhà anh Nguyễn Chí Thanh. Hai nhà ở rất gần nhau bên bờ sông Bồ. Nhân dân rất quý hai anh. Dân bảo khi nào hòa bình, thống nhất nước nhà, nhân dân chúng tôi sẽ cho giữ gìn ở đây hai ngôi nhà làm bảo tàng, để con em không bao giờ quên các anh ấy.

Anh Tố Hữu bảo:

- Giữ được hai ngôi nhà đã là tốt rồi.

Cuộc trò chuyện của chúng tôi như không muốn dứt.

Thời gian đã muộn, anh Xuân Diệu mời anh Tố Hữu và tôi ở lại ăn trưa. Anh Tố Hữu không những không chịu mà còn ép tôi và anh Xuân Diệu ra phố ăn phở bò. Vừa ăn, anh Tố Hữu vừa hỏi anh Xuân Diệu:

- Theo anh, phở bò Hà Nội ngon hay bún bò Huế ngon?

Anh Xuân Diệu đáp:

- Bún bò Huế ngon chứ!

Anh Tố Hữu nói ngay:

- Cả ba chúng ta là người Huế rồi nên tôi mời ăn phở Hà Nội để nhớ bún bò Huế, nhớ Huế. Anh Xuân Diệu đã trả lời đúng tâm trạng tôi lúc này. Bao giờ hòa bình, thống nhất, tôi hứa sẽ đưa anh Xuân Diệu và em Quang Hà đi chợ Đông Ba, chợ Bến Ngự hay chợ An Cựu ăn bún Huế để thấy cái phong phú của ẩm thực Huế như thế nào. Nhân đây anh cảm ơn Quang Hà đã thuộc thơ anh một cách kỹ lưỡng, có nhà thơ nào thấy bạn đọc thuộc thơ mình mà không sướng. Một lần nữa, anh cảm ơn Quang Hà.

Một giờ chiều, chúng tôi mới chia tay. Anh Tố Hữu ôm lấy tôi dặn:

- Anh em mình sẽ còn gặp nhau nữa Quang Hà nghe.

Nhờ có anh Xuân Diệu, quan hệ giữa tôi và anh Tố Hữu ngày một gần nhau hơn. Nhiều lần anh Tố Hữu mời tôi về nhà anh chơi, anh em ăn với nhau những bữa cơm giản dị nhưng thật ân tình.

Gần giữa năm 1975, Huế chuẩn bị giải phóng, là lính Huế mà Huế giải phóng không có mặt thì thật buồn cho nên mặc dầu khóa học chưa xong, tôi cũng quyết định đi. Đúng lúc đó tôi gặp Tô Nhuận Vỹ. Vỹ cũng muốn về Huế, thế là chúng tôi ghé nhà anh Tố Hữu:

- Có cách nào anh giúp chúng em vào Huế với ạ?

Anh Tố Hữu hẹn 3 ngày nữa đến đây, anh sẽ giúp các em. Đúng hẹn, chúng tôi tới, đã có xe đợi. Xe chở chúng tôi vào Huế kịp giải phóng.

Không có anh Tố Hữu, không thể có ngày gặp gỡ vui vẻ này. Chúng tôi cảm ơn anh Tố Hữu vô cùng.

Được gặp anh Tố Hữu, đó là một kỷ niệm không bao giờ quên, là một trong những hạnh phúc của đời tôi.

N.Q.H
(TCSH380/10-2020)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • THANH TÙNG  

    Nhạc sĩ Phạm Duy không phải người Huế, nhưng qua những lần dừng lại ở Huế ông đã cho ra đời nhiều giai điệu trữ tình và nhiều hình ảnh đẹp, sâu lắng, trong đó thấp thoáng nhiều bóng hồng xứ Huế.

  • NGUYỄN QUANG HÀ  

    Để giữ gìn thành phố Huế, chính quyền miền Nam tổ chức nhiều đồn bốt để bảo vệ. Ở phía Nam Huế có đồn An Cựu gần núi Ngự Bình.


  • HUY CẬN - XUÂN DIỆU

                        (Trích)

  • DƯƠNG PHƯỚC THU  

    Ngày 22/7/2021, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức buổi tọa đàm khoa học lấy ý kiến cho Đề án xây dựng Phòng Truyền thống Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế, kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay.

  • DƯƠNG HOÀNG  

    Trải qua những năm tháng đấu tranh giải phóng dân tộc tập hợp dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Thống nhất, nhân dân Thừa Thiên Huế đã từng bước được rèn luyện, thử thách trong gian khó và cùng lớn lên với những tên gọi, những hoạt động, nhiệm vụ cũng thay đổi qua từng giai đoạn để phù hợp hơn với hoàn cảnh thực tại của phong trào cách mạng.

  • HÀ KHÁNH LINH

    Còn sống sót sau 30/4/1975 chúng tôi thường tìm đến nhau dẫu có người thân thể không còn nguyên vẹn, hoặc mắc một số bệnh nào đó do di chứng của chất độc hóa học màu da cam Diocine của Mỹ, hoặc bị sốt rét ác tính, hoặc bị tra tấn khi rơi vào tay giặc…

  • NGUYỄN QUANG HÀ  

    Chừng 9 giờ tối anh em du kích ra đón chúng tôi ở nghĩa trang làng. 

  • PHƯỚC HOÀNG   

    Ngày 23 tháng 8 năm 1945, tại sân vận động Huế, trước sự chứng kiến của hơn một vạn người, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên tuyên bố, chính quyền đã về tay nhân dân, đồng thời ra mắt Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Thừa Thiên.

  • MẶC HY

    (Nhớ về nhạc sĩ Nguyễn Hồng và các bạn văn nghệ hy sinh 40 năm trước)

  • MINH ĐẠO

    Khi tôi viết nhưng dòng này, tôi không còn nhìn thấy gì nữa. Bóng tối bao phủ lấy tôi đã 10 năm qua rồi.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU  

    Nhà báo - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh Võ Giáp, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911, tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho yêu nước, mà thân phụ là một “thầy đồ” trường huyện.

  • XUÂN HOÀNG
              Hồi ký

    (Trích Chương V, tập II - "Trường tư thục Thuận Hóa")

  • PHẠM PHÚ PHONG    

    Người già thường hay nghĩ ngợi về quá khứ. Không biết có phải vì thế hay không mà khi đọc lại Biên niên Sông Hương[1], tôi bỗng nhớ đến một cuộc hội thảo về Tạp chí Sông Hương diễn ra cách đây gần tròn 37 năm.

  • VŨ THỊ THANH LOAN  

    1. Lemur Nguyễn Cát Tường là một họa sĩ trẻ tài năng của khóa IV trường Mỹ thuật Đông Dương (1928 - 1933). Sau khi tốt nghiệp, ông thường xuyên cộng tác với báo Phong Hóa, Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn.

  • HOÀNG THỊ NHƯ HUY

    Chiếc áo dài đầu tiên đời tôi được mẹ may vào năm tôi lên Đệ Thất (lớp 6 bây giờ). Biết nói sao niềm vui sướng của tôi khi lần đầu mặc chiếc áo dài ấy!

  • TRẦN TRUNG SÁNG  

    Khoảng mùa đông 1970 - 1971, khi đang còn đang học lớp 10, trong một chuyến phiêu lưu lãng mạn và rồ dại nhất của tuổi thiếu niên, tôi có lần lạc bước đến một xóm nhỏ gần bên cầu Gia Hội, và đã gặp ông: họa sĩ Lê Vinh, người họa sĩ vẽ tranh xi-nê lừng danh nhất xứ Huế thời bấy giờ. Lúc này, ông chừng độ tuổi 30, người dong dỏng, tóc vuốt ngược, sơmi màu, quần jean, giày cổ cao, dáng dấp phong trần, như bước ra từ màn bạc!

  • HOÀNG PHƯỚC   

    Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám đã thành công rực rỡ, tiếp đó, ngày 24 tháng 2 năm 1946, cử tri toàn tỉnh Thừa Thiên phấn khởi nô nức đi bầu Hội đồng Nhân dân tỉnh và Hội đồng Nhân dân thành phố Huế. Đây là ngày hội lớn chưa từng có trong lịch sử của toàn thể Nhân dân Việt Nam sau ngày đất nước được độc lập.

  • TRẦN NGUYÊN HÀO  

    Năm 1946, lần đầu tiên toàn thể người dân Việt Nam được hưởng và thực thi quyền làm chủ, tự do lựa chọn bầu ra những người đại diện xứng đáng gánh vác công việc chung của đất nước; cùng với đó là những tư tưởng về dân chủ, pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại bài học giá trị cho mai sau.