NGUYỄN QUANG HÀ
Tôi vốn là người lính. Sau Mậu Thân 1968, một số phóng viên báo Cờ Giải Phóng - Huế hy sinh, một số bị thương ra Bắc, tôi được thành đội trưởng Huế cử biệt phái sang làm phóng viên báo Cờ Giải Phóng, sau mấy năm thì trở thành phóng viên thật sự.
Ảnh: laodong.vn
Không ngờ năm 1974 tại cuộc chiến đấu vùng sâu Quảng Điền, tôi bị thương, bị sốt rét, được đưa ra Bắc chữa bệnh.
Cuối năm 1974 tôi khỏi bệnh, đúng lúc Hội Nhà văn mở khóa 7, tôi được điều động đi học. Các nhà văn, nhà thơ đến dạy lớp này rất đông. Trong đó, có nhà thơ Xuân Diệu đến giảng về chuyên đề thơ.
Vốn thời trẻ, anh Xuân Diệu học ở Quốc Học Huế nên nghe tôi ở Huế ra, anh rất mừng, đưa tôi về nhà, bảo tôi kể chuyện chiến trường cho anh nghe.
Rất may, bữa anh em đang trò chuyện thì có khách tới, anh Xuân Diệu giới thiệu ngay:
- Đây là nhà thơ Tố Hữu.
Tôi nói là tôi rất yêu thơ Tố Hữu, ngay lúc đó tôi đọc liền hai bài thơ: bài Hồ Chí Minh và bài Việt Bắc.
Từ thuở đi học, tôi đã được học hai bài thơ này. Tôi nói với anh Tố Hữu:
- Em rất thích các câu trong hai bài thơ này.
Tôi liền đọc cho hai anh nghe:
“Hồ Chí Minh
Hỡi ngọn đuốc thiêng liêng
Trên đầu ta, ngọn cờ dân tộc
Trăm thế kỷ trong tên Nguyễn Ái Quốc
Bạn muôn đời của thế giới đau thương”.
Và
“Mình đi có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù
Mình về có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”.
Anh Tố Hữu tỏ ra rất vui, đúng thời điểm đó, anh Xuân Diệu giới thiệu ngay:
- Em Quang Hà là lính Thân Trọng Một vừa ở chiến trường Thừa Thiên Huế ra.
Nghe thế, anh Tố Hữu nhào tới ôm lấy tôi như hai người đồng hương gặp nhau.
Anh Tố Hữu hỏi tôi liền:
- Em có yêu Huế không?
Tôi đáp:
- Em yêu Huế như thơ anh:
“Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!
Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười
Mây núi hiu hiu, chiều lặng lặng
Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi”.
Anh Tố Hữu lại hỏi:
- Ở Huế em đã đi nhiều nơi chưa?
Tôi đáp:
- Em là trinh sát đặc công, lại là phóng viên, nên đi khắp như thơ anh đã nhắc nhở:
“Tháng Tám vùng lên Huế của ta
Quảng - Phong ơi, Hương Thủy, Hương Trà
Phú Vang, Phú Lộc đò lên Huế
Đỏ ngập dòng sông rộn tiếng ca”.
Anh Tố Hữu càng ôm tôi rất chặt. Phải một lúc sau tôi mới thong thả kể anh nghe: Ở Huế vất vả lắm. Về nông thôn càng vất vả hơn. Ngày nằm dưới hầm bí mật, đêm lên hầm cơ sở dẫn đi vận động nhân dân tham gia kháng chiến, tổ chức dân quân, du kích giữ làng giữ xóm. Có lúc dân đói ăn khoai ăn sắn nhường cơm cho bộ đội ăn. Ở đâu cũng có các bà mẹ như “Bầm ơi” của anh:
“Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần”.
Chúng em đi chiến đấu mới hiểu đúng như Bác Hồ dạy: “Không có nhân dân liệu chúng ta làm được gì”. Và chúng em đã chiến đấu ngoan cường:
“Giết giết quân xâm lược!
Mau xung phong! Xung phong!
Cờ bay lên cứu nước
Máu giặc phải thành sông!”
Theo sát Mậu Thân anh thấy đó, chúng em kiên cường như thế nào. Hết đạn trong tay rồi, Trung ương bảo Huế phải ở lại gánh trách nhiệm cho thành phố bạn, chúng em đã giữ Huế tận 25 ngày.
Tôi kể chuyện người lính thôi nhưng anh Tố Hữu đắm đuối theo dõi. Tôi hiểu đó chính là tình yêu quê hương của anh, anh muốn xem quê hương mình ra sao. Đoạn tôi kể về những chuyến về đồng bằng từ chiến khu về huyện Hương Thủy, chúng tôi phải vượt sông Hương. Lập tức, anh Tố Hữu ngân nga mấy câu:
“Chí ta như núi Thiên Thai ấy
Đỏ rực chiều hôm dậy cánh đồng
Lòng ta như nước Hương giang ấy
Xanh biếc lòng sông những bóng thông...”
Đầy cảm xúc, anh hỏi:
- Đã có lần nào em về Quảng Thọ chưa?
Tôi đáp:
- Em về đó mấy lần rồi. Dẫu là đêm hôm tối mù mịt, chúng em vẫn nhờ cơ sở mật dẫn vào thăm nhà anh và nhà anh Nguyễn Chí Thanh. Hai nhà ở rất gần nhau bên bờ sông Bồ. Nhân dân rất quý hai anh. Dân bảo khi nào hòa bình, thống nhất nước nhà, nhân dân chúng tôi sẽ cho giữ gìn ở đây hai ngôi nhà làm bảo tàng, để con em không bao giờ quên các anh ấy.
Anh Tố Hữu bảo:
- Giữ được hai ngôi nhà đã là tốt rồi.
Cuộc trò chuyện của chúng tôi như không muốn dứt.
Thời gian đã muộn, anh Xuân Diệu mời anh Tố Hữu và tôi ở lại ăn trưa. Anh Tố Hữu không những không chịu mà còn ép tôi và anh Xuân Diệu ra phố ăn phở bò. Vừa ăn, anh Tố Hữu vừa hỏi anh Xuân Diệu:
- Theo anh, phở bò Hà Nội ngon hay bún bò Huế ngon?
Anh Xuân Diệu đáp:
- Bún bò Huế ngon chứ!
Anh Tố Hữu nói ngay:
- Cả ba chúng ta là người Huế rồi nên tôi mời ăn phở Hà Nội để nhớ bún bò Huế, nhớ Huế. Anh Xuân Diệu đã trả lời đúng tâm trạng tôi lúc này. Bao giờ hòa bình, thống nhất, tôi hứa sẽ đưa anh Xuân Diệu và em Quang Hà đi chợ Đông Ba, chợ Bến Ngự hay chợ An Cựu ăn bún Huế để thấy cái phong phú của ẩm thực Huế như thế nào. Nhân đây anh cảm ơn Quang Hà đã thuộc thơ anh một cách kỹ lưỡng, có nhà thơ nào thấy bạn đọc thuộc thơ mình mà không sướng. Một lần nữa, anh cảm ơn Quang Hà.
Một giờ chiều, chúng tôi mới chia tay. Anh Tố Hữu ôm lấy tôi dặn:
- Anh em mình sẽ còn gặp nhau nữa Quang Hà nghe.
Nhờ có anh Xuân Diệu, quan hệ giữa tôi và anh Tố Hữu ngày một gần nhau hơn. Nhiều lần anh Tố Hữu mời tôi về nhà anh chơi, anh em ăn với nhau những bữa cơm giản dị nhưng thật ân tình.
Gần giữa năm 1975, Huế chuẩn bị giải phóng, là lính Huế mà Huế giải phóng không có mặt thì thật buồn cho nên mặc dầu khóa học chưa xong, tôi cũng quyết định đi. Đúng lúc đó tôi gặp Tô Nhuận Vỹ. Vỹ cũng muốn về Huế, thế là chúng tôi ghé nhà anh Tố Hữu:
- Có cách nào anh giúp chúng em vào Huế với ạ?
Anh Tố Hữu hẹn 3 ngày nữa đến đây, anh sẽ giúp các em. Đúng hẹn, chúng tôi tới, đã có xe đợi. Xe chở chúng tôi vào Huế kịp giải phóng.
Không có anh Tố Hữu, không thể có ngày gặp gỡ vui vẻ này. Chúng tôi cảm ơn anh Tố Hữu vô cùng.
Được gặp anh Tố Hữu, đó là một kỷ niệm không bao giờ quên, là một trong những hạnh phúc của đời tôi.
N.Q.H
(TCSH380/10-2020)
HỒ DZẾNH
Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
NGUYỄN DU
LÝ HOÀI THU
Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.
PHẠM THỊ CÚC
(Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)
Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.
CAO THỊ QUẾ HƯƠNG
Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.
THÁI KIM LAN
Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.
Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?
Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.
Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.
DƯƠNG PHƯỚC THU
LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.
NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
LÊ MINH
Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)
… Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.
NGUYỄN KHOA BỘI LAN
Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.
(SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.
NGUYỄN CƯƠNG
Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.
PHẠM HỮU THU
Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.
TRẦN NGUYÊN
Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.
PHẠM HỮU THU
Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12
“Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).