Năm 2020 ghi nhận nhiều diễn biến thiên tai rất bất thường, cực đoan, xảy ra trên nhiều vùng, miền của cả nước. Tính từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 16 loại hình thiên tai; trong đó có 13 cơn bão trên Biển Đông; 264 trận dông, lốc, mưa lớn trên 49 tỉnh, thành phố. Đỉnh điểm là đợt mưa lũ lớn lịch sử từ ngày 6 đến 22-10 đã gây thiệt hại lớn tại khu vực Trung Bộ, nhất là tại các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế. Ngoài ra, hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng, sạt lở bờ sông, bờ biển, sụt lún đê biển cũng xảy ra trên diện rộng tại đồng bằng sông Cửu Long.
Sạt lở bờ biển do ảnh hưởng của bão số 13 tại xã Gio Hải, huyện Gio Linh (Quảng Trị).Ảnh: TRUNG KIÊN
Nhiều mốc lịch sử bị “xô đổ”
Trao đổi với chúng tôi, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng - thủy văn quốc gia Mai Văn Khiêm cho biết, nhìn vào diễn biến trong năm 2020 cho thấy thiên tai ngày càng khốc liệt, bất thường và khó dự đoán. Ngay trong ngày đầu năm mới, chúng ta đã chịu ảnh hưởng của những đợt rét đậm, mưa đá diện rộng. Nét rõ ràng nhất của biến đổi thời tiết là từ đầu tháng 5, hoa sữa đã nở rộ cùng với bằng lăng, phượng vĩ trên nhiều tuyến phố ở Thủ đô Hà Nội. Sau đó xuất hiện nắng nóng kỷ lục, mưa bão nhiều và tập trung hơn, mưa lớn cục bộ, lũ lụt cũng sâu, diện rộng và kéo dài gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân. Từ ngày 1 đến 20-10, khu vực Trung Bộ từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi, do ảnh hưởng kết hợp của không khí lạnh kết hợp nhiễu động trong đới gió đông, dải hội tụ nhiệt đới với các vùng thấp phát triển lên thành áp thấp nhiệt đới và bão, cho nên đã xuất hiện mưa lớn diện rộng. Tổng lượng mưa cả đợt 1.000 đến 2.000 mm, có nơi 2.000 đến 3.000 mm, cao hơn 3 đến 5 lần so trung bình nhiều năm (TBNN) cùng thời kỳ, với nhiều điểm vượt giá trị lịch sử như: Khe Sanh 2.451 mm (TBNN là 329 mm), Huế 2.370 mm (TBNN là 494 mm)...
Do mưa lớn, trên các sông từ Hà Tĩnh đến bắc Bình Định và Kon Tum đã xuất hiện liên tiếp hai đợt lũ. Trong đó một số nơi đã có đỉnh lũ vượt mức lịch sử như trên sông Hiếu (Quảng Trị) tại Đông Hà là 4,69 m (ngày 8-10), vượt đỉnh lũ lịch sử năm 1983 là 0,11 m. Tuy nhiên, ngay sau đó, ngày 18-10, đỉnh lũ trên sông Hiếu tại Đông Hà là 5,36 m, vượt qua mực nước lịch sử vừa được thiết lập; đỉnh lũ trên sông Bồ tại Phú Ốc (Thừa Thiên Huế) là 5,24 m, vượt đỉnh lũ lịch sử năm 1999 là 0,06 m; đỉnh lũ trên sông Thạch Hãn tại Thạch Hãn là 7,4 m, đã vượt đỉnh lũ lịch sử năm 1999 là 0,11 m.
Thực tế thiên tai năm 2020 theo đánh giá của Trung tâm Dự báo khí tượng - thủy văn quốc gia, có nhiều yếu tố bất thường. Ngay từ đầu năm, hình thái thời tiết chịu ảnh hưởng của hiện tượng El Nino (En Ni-nô), nhưng cuối năm lại chịu tác động của hiện tượng La Nina (La Ni-na. Vì vậy, thời tiết ở các khu vực trong cả nước có những diễn biến khá phức tạp. Nắng nóng gay gắt ngay từ đầu năm, bão và mưa lớn dồn dập vào cuối năm. Suốt từ ngày 5 đến 20-10, gần như ngày nào ở miền trung cũng xuất hiện mưa to đến rất to và lượng mưa của 20 ngày đầu tháng 10 nhiều nơi đã vượt so TBNN 100 đến 200%, thậm chí ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế nhiều nơi còn vượt tới 300 đến 400% so TBNN.
Thiệt hại nặng về người và tài sản
Nhìn lại năm qua, có thể cảm nhận được sức tàn phá khủng khiếp của thiên tai, sự khốc liệt, cực đoan, bất thường của thời tiết ngày càng không theo quy luật. Theo thống kê của Tổng cục Phòng, chống thiên tai, từ đầu năm đến nay, thiên tai diễn biến phức tạp, bất thường trên nhiều vùng, miền cả nước, đã xảy ra 16 loại hình thiên tai. Trong đó có 13 cơn bão trên Biển Đông; 264 trận dông, lốc, mưa lớn trên 49 tỉnh, thành phố, trong đó chín đợt trên diện rộng tại 21 tỉnh, thành phố Bắc Bộ và Trung Bộ; 118 trận lũ, lũ quét, sạt lở đất; nhất là đợt mưa lũ lớn lịch sử từ ngày 6 đến 22-10 tại khu vực Trung Bộ. Tính đến ngày 2-12, thiên tai đã làm 288 người chết, 65 người mất tích và 876 người bị thương; 3.424 nhà sập, 333.050 nhà bị hư hại, tốc mái, di dời khẩn cấp; 509.793 lượt nhà bị ngập. Ngoài ra, các loại hình thiên tai cũng làm thiệt hại 196.887 ha lúa và hoa màu; 51.923 con gia súc và 4,11 triệu con gia cầm chết, cuốn trôi; hàng nghìn ki-lô-mét đê kè, kênh mương, bờ sông, bờ biển, đường giao thông bị sạt lở, hư hỏng. Ước tính thiệt hại về kinh tế lên đến hơn 35.181 tỷ đồng.
Trao đổi với chúng tôi, Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng, chống thiên tai Trần Quang Hoài cho biết, dông, lốc, mưa đá đã xảy ra ngay từ đầu năm, nhiều trận trên phạm vi rộng; lũ quét, sạt lở đất xảy ra nghiêm trọng tại các tỉnh miền núi phía bắc, nhất là Hà Giang. Ngay sau thiên tai, các địa phương chủ động bố trí các nguồn vốn dự phòng ngân sách của tỉnh, huyện và nguồn lực tại chỗ hỗ trợ người dân khắc phục. Cụ thể, hỗ trợ tỉnh Bắc Kạn 13,435 tỷ đồng, Cao Bằng 6,023 tỷ đồng, Lạng Sơn 460 triệu đồng, Lai Châu 7,558 tỷ đồng, Yên Bái hỗ trợ 2 đến 4 triệu đồng/hộ, Điện Biên 2,32 tỷ đồng, Sơn La 639 triệu đồng. Lường trước tình hình hạn hán, xâm nhập mặn tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ diễn ra khốc liệt, trên diện rộng, ngay từ cuối năm 2019, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã quan tâm vào cuộc từ rất sớm ứng phó với hạn hán cho nên đã giảm đến mức thấp nhất thiệt hại. Thủ tướng Chính phủ quyết định hỗ trợ 530 tỷ đồng cho tám tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khắc phục hạn hán, xâm nhập mặn. Sau đợt bão, lũ tại các tỉnh miền trung, cả hệ thống chính trị từ T.Ư đến địa phương đã vào cuộc quyết liệt để khắc phục hậu quả thiên tai; huy động các lực lượng tìm kiếm người mất tích, cứu chữa người bị thương, thăm hỏi, động viên gia đình có người bị nạn; hỗ trợ người dân sửa chữa nhà ở, vệ sinh môi trường, phòng, chống dịch bệnh, khôi phục sản xuất, các công trình hạ tầng thiết yếu…
Tuy nhiên, trong phòng, chống và đối phó thiên tai năm 2020 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như khối lượng công việc khắc phục hậu quả quá lớn, đa dạng các lĩnh vực, phạm vi trên diện rộng, khắp các khu vực từ trên biển đến đồng bằng và miền núi, trong khi lực lượng phòng, chống thiên tai các cấp còn rất mỏng cho nên công tác tổng hợp thống kê thiệt hại, đề xuất nhu cầu hỗ trợ khẩn cấp chưa thực hiện kịp thời. Ngoài ra, nguồn lực cho công tác khắc phục hậu quả thiên tai còn thấp. Các quy định về triển khai, cơ chế phối hợp còn hạn chế dẫn đến chưa kịp thời, hiệu quả một số nơi chưa cao. Quy định về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai đã bộc lộ nhiều hạn chế cần cập nhật, bổ sung để phù hợp với tình hình hiện nay.
Chủ động phòng, chống
Bước sang năm 2021, theo dự báo, các hình thái thời tiết cực đoan ở nước ta vẫn diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của hiện tượng La Nina. Trong những tháng đầu năm 2021 vẫn có khả năng xuất hiện xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực phía nam Biển Đông và có thể ảnh hưởng đến khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Mùa khô 2020 - 2021, tại khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ nhiều khả năng xuất hiện các đợt mưa trái mùa. Xâm nhập mặn ở Nam Bộ sẽ sớm và gay gắt hơn so TBNN.
Theo Tổng cục Phòng, chống thiên tai, nguyên nhân khách quan của tình trạng bão lũ, ngập úng, sạt lở đất cực đoan gây thiệt hại nghiêm trọng ở nhiều địa phương trong thời gian gần đây là do tác động của biến đổi khí hậu, bão, mưa lũ ngày càng cực đoan, bất thường, “bão chồng bão, lũ chồng lũ” thời gian kéo dài liên tục. Đáng chú ý, trong gần một tháng 10, liên tiếp xảy ra năm cơn bão (số 6, 7, 8, 9, 10), trong đó cơn bão số 9 mạnh nhất trong 20 năm trở lại đây. Mưa diện rộng đã gây lũ lớn trên báo động 3 tại 16 tuyến sông, trong đó bốn tuyến sông lớn vượt lịch sử, đặc biệt tại Lệ Thủy (sông Kiến Giang) vượt lịch sử năm 1979 là 0,95 m. Mặt khác, địa hình đồi núi có độ dốc cao, chia cắt mạnh, kết cấu đất vùng núi phần lớn là bở rời, dễ sạt trượt, kết hợp mưa vượt mức lịch sử nên lũ tập trung nhanh, nguy cơ cao xảy ra sạt lở đất, lũ quét. Nguyên nhân chủ quan là do nhận thức của chính quyền cơ sở và người dân ở một số nơi còn hạn chế, chưa thường xuyên quan tâm đến công tác phòng, chống thiên tai và xác định những nguy cơ rủi ro thiên tai trong cộng đồng nơi sinh sống, sản xuất do công tác tuyên truyền, phổ biến, đào tạo còn hạn chế, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa. Việc xây dựng các công trình phòng, chống thiên tai như đê điều, hồ đập, khu neo đậu tàu, thuyền… cơ sở hạ tầng công cộng và nhà dân chưa bảo đảm sức chống chịu với diễn biến bão, lũ vừa qua. Mặt khác, một số nơi chưa lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai trong phát triển cơ sở hạ tầng; hệ thống thông tin, trang thiết bị cảnh báo về lũ quét, sạt lở đất còn hạn chế. Điều đáng nói nữa là phương châm “bốn tại chỗ” mới chỉ tập trung trong ứng phó và khắc phục hậu quả, chưa chú trọng việc phòng ngừa nên còn bị động khi có tình huống xảy ra. Đặc biệt, lực lượng làm công tác phòng, chống thiên tai, nhất là ở tuyến cơ sở còn mỏng, thiếu cả kỹ năng, trang thiết bị tối thiểu cho nên chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, tính chuyên nghiệp chưa cao.
Để chủ động giảm thiệt hại do thiên tai gây ra, các bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục triển khai nghiêm túc, đồng bộ các giải pháp tại Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống thiên tai. Theo đó, rà soát đánh giá tác động, ảnh hưởng toàn diện của thiên tai, nhất là bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất đến tất cả các vùng, miền trong cả nước để lồng ghép, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, xây dựng các kịch bản phòng ngừa, ứng phó phù hợp theo hướng kết hợp đa mục tiêu, từ đó ban hành các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn cụ thể để xây dựng các thiết chế hạ tầng như đường giao thông, các công sở, nhà ở bảo đảm phù hợp, an toàn trước thiên tai. Mặt khác, cần nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo, giám sát thiên tai bảo đảm kịp thời, chính xác hơn, phục vụ công tác chỉ đạo, ứng phó hiệu quả; xã hội hóa các nguồn lực. Đồng thời, kiện toàn tổ chức, bộ máy phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn chuyên nghiệp từ T.Ư đến địa phương; tăng cường trang thiết bị chuyên dụng, xây dựng bộ cơ sở dữ liệu phòng, chống thiên tai. Ưu tiên bố trí kinh phí trong giai đoạn đầu của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025 và dự phòng ngân sách hằng năm của địa phương và trung ương cho công tác phòng, chống thiên tai.
Trong đó, đặc biệt ưu tiên tăng cường cho công tác trồng và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn, ven biển; chương trình nhà chống lũ, bão, công trình đê, kè, hồ đập, khu tránh trú tàu, thuyền; sửa chữa, nâng cấp văn phòng ban chỉ huy các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thúc đẩy xây dựng và triển khai chương trình ứng dụng khoa học - công nghệ cho công tác phòng, chống thiên tai phù hợp với các vùng, miền và từng loại hình thiên tai. Ứng dụng vận hành hồ chứa hợp lý theo thời gian thực để bảo đảm an toàn công trình và hạ du. Tăng cường thông tin truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng để làm tốt phương châm “bốn tại chỗ” phát huy vai trò và hiệu quả hoạt động của lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai kết hợp lực lượng vũ trang chuyên nghiệp, từ đó từng bước hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.
Theo Trung Ngọc - NDĐT
1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.
Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.
Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).
*Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.
Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...
Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.
I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.
Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.
Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.
I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.
Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.
Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.
Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...
Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.
Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...
Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.
Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "
Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.