Nhân vật lịch sử Đàng Trong: văn chức Quốc sư Hồ Quang Đại

14:56 30/11/2018

TRẦN ĐÌNH HẰNG - LÊ ĐÌNH HÙNG  

Trải qua nhiều vấn nạn của thiên tai, địch họa mà đến nay, tài liệu nghiên cứu về thời chúa Nguyễn Đàng Trong rất hiếm hoi. Vì vậy, tài liệu lưu trữ từ gia tộc sẽ góp phần thiết thực để soi rọi một số chi tiết bổ sung cho chính sử.

Miếu Ông làng Nguyệt Biều

Nhân vật lịch sử Hồ Quang Đại ở làng Nguyệt Biều (phường Thủy Biều, Thành phố Huế) và làng Hương Cần (xã Hương Toàn, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế), mang đậm dấu ấn thời chúa Nguyễn Đàng Trong, là một trường hợp tiêu biểu như vậy. Từ đầu năm 2018, nhờ sự giúp đỡ của bác Hồ Xuân Thiên, Hồ Xuân Diên ở làng Nguyệt Biều mà chúng tôi đã được tiếp cận những tài liệu quý hiếm của dòng họ Hồ tại làng có đề cập đến nhân vật lịch sử quan trọng thời Đàng Trong này.

Phân tích các nguồn tài liệu của gia tộc thì nhân vật Hồ Quang Đại là hậu duệ đời thứ sáu của họ Hồ ở làng Nguyệt Biều, theo gia phả, bài vị, từ vị thủy tổ “Tiến sĩ tòng Tiên vương nhập Nam hà biệt ban nhậm thực Nguyệt Biều xã Hồ Minh Quý công”, khẳng định nguồn gốc theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam. Theo gia phả, ông là Cống nguyệt Hồ Quang Đại, tự Hán Châu, đỗ Giám sinh Thủ khoa kỳ thi năm Nhâm Thìn (1652), rồi Thị giảng Phụ chánh An biên, sắc tứ Phúc Đức Quốc sư Đức Xuyên tử. Nhờ công lao Thị giảng Phụ chánh An biên trong việc dạy đức Ngãi vương Nguyễn Phúc Thái và Minh vương Nguyễn Phúc Chu từ lúc chưa lên ngôi mà sau khi mất, được nhà chúa ân điển ban tặng Phúc Đức Quốc sư, tước Đức Xuyên tử. Hiện nay, làng Nguyệt Biều thờ ngài tại Miếu Ông, bài vị đề “Nhâm Thìn niên thí trúng Giám sinh Triều nghị Đại phu Thị giảng Phụ chánh An biên sắc tứ Phúc đức Quốc sư Hồ quý công thần vị”. Ông mất ngày 28/9, bà (Phan Thị Do) mất ngày 4/3 ÂL, mộ táng ở xứ Cồn Sủng.1

Kết hợp tài liệu gia phả cùng các nguồn sử liệu trong Liệt truyện, Thực lục, có thể phác họa nên hành trạng độc đáo của Hồ Quang Đại. Nhờ đỗ thủ khoa trong khoa thi năm Nhâm Thìn (1652) thời Hiền vương Nguyễn Phúc Tần năm thứ 4, ông được bổ Văn chức. Bốn năm sau (Bính Thân - 1656), ông được thăng bổ Tri huyện huyện Phú Vang, “Khi tại chức, hòa nhã cai trị dân, bớt sự phiền nhiễu hà khắc, cốt giữ trong sáng yên tĩnh, lại và dân đều khen”. Đến năm Kỷ Hợi (1659), ông được thăng Tri phủ Thăng Hoa, và sau đó, “Khi về triều, được thăng Thị giảng, Tri Kinh diên. Khi  mất, được tặng phong Phụ chính An biên Phúc Đức quốc sư”.2

Tài liệu được họ Hồ lưu giữ còn cung cấp nhiều thông tin chi tiết, nhất là từ tờ Thị bổ nhiệm ông làm Tri huyện Phú Vang năm Bính Thân (1656) của Thái Bảo Dõng Quận Công (Hiền vương Nguyễn Phúc Tần) cho vị Phước Xuyên nam: Chánh dinh Văn chức Phước Xuyên Nam Hồ Quang Đại, “tòng quân lâu ngày có công, thích hợp làm Tri huyện, huyện Phú Vang thay cho người tiền nhiệm để lo việc trị dân, nếu giữ chức không tròn đã có tại quốc pháp”.

Sắc phong Thành hoàng Hồ quý công (làng Hương Cần, Thành Thái II - 1890) (Thư viện tỉnh Thừa Thiên Huế)


Có thể có sự sai khác so với Liệt truyện về năm ông được bổ nhiệm Tri phủ Thăng Hoa từ năm Kỷ Hợi (1659), dòng họ Hồ còn lưu tờ Thị năm Thịnh Đức thứ 6 (?) (1658 - đúng ra là năm Vĩnh Thọ 1), thì ông đã được ban tước Đức Xuyên tử, từ Tri huyện Phú Vang thăng bổ Tri phủ Thăng Hoa: “lo việc trị dân đúng phép tắc, thích hợp thăng làm Tri phủ Thăng Hoa thay thế người tiền nhiệm Nguyễn Văn Nghi, nên thận cần khiêm thứ để lo việc trị dân, nếu giữ chức không tròn đã có tại quốc pháp”.

Một số tài liệu khác còn bổ sung, làm rõ bước đường hoạn lộ của ông trước khi về Phú Xuân đảm nhận chức trách Thị giảng chốn nội cung. Gần 10 năm làm Tri phủ Thăng Hoa, ông được cử vào nam Trung bộ đôn đốc việc thu thuế theo tờ Thị ngày 8/3/Cảnh Trị 6 (1668): “...đến phủ Quy Ninh ra lệnh cho các viên chức trong phủ, huyện và các xã, thôn phường ở tổng Phù Ly Thượng, Trung, hễ có ruộng công, tư thì đem nộp thuế ruộng và thuế lúa tại thuế trường cho đủ số. Đến hạ tuần tháng năm phải hoàn tất, chở thẳng đệ nạp tại Chính dinh, quá hạn mà chậm trễ hay bị mất mát hư hao đã có tại quốc pháp”.

Một năm sau, tờ Thị ngày 12/1/Cảnh Trị 7 (1669) của Hiền vương còn trao cho ông nhiệm vụ đến các phủ Diên Ninh Thái Khương (vùng Khánh Hòa ngày nay) để đôn đốc việc lập địa bạ: “...tra xét các tổng, xã, thôn, phường thu kiến canh bạ đầy đủ rõ ràng, xong việc đem nạp. Nếu che dấu hay vì tình hối lộ đã có tại quốc pháp”. Một văn bản khác, cùng ngày 12/1/ Cảnh Trị 7 (1669) lại nhấn mạnh việc giao cho ông “... đến các phủ Diên Ninh và Thái Khương, đến tuyển trường và ra lệnh cho các viên chức trong phủ, đốc thúc các huyện, tổng, xã, thôn, phường xếp các hạng nhân số chính hộ, khách hộ. Đến ngày 8/2 mang đến tuyển trường để công đồng duyệt định, bày tỏ ý thương dân”.

Tờ Thị ngày 26/4/Cảnh Trị 7 (1669) cử ông đến phủ Quy Ninh, lệnh cho các viên chức trong phủ, đốc thúc các xã, thôn, phường thuộc huyện Tuy Viễn và tổng Phù Ly Hạ nộp đủ thuế ruộng và thuế lúa các hạng công, tư, tại thuế trường cho đủ số, hạn chót đến hạ tuần tháng năm phải hoàn tất, chở thẳng đến Chính dinh đệ nạp. Sau đó, triều đình còn ban tờ Thị ngày 25/3/Cảnh Trị 8 (1670) điều ông đến phủ Quy Ninh để đốc thúc các xã, thôn, phường thuộc huyện Bồng Sơn và tổng Phù Ly Thượng, Trung, nộp đủ thuế ruộng và thuế lúa các hạng ruộng công tư tại thuế trường. Đến hạ tuần tháng năm phải hoàn tất, chở thẳng đến Chính dinh đệ nạp, nếu quá thời hạn mà chậm trễ hay bị mất mát hư hao phải chịu theo quốc pháp. Tinh thần đó cũng được lặp lại trong tờ Thị năm Cảnh Trị 9 (1671) khi Hiền vương giao cho ông nhiệm vụ đến phủ Quy Ninh để lo liệu việc thu thuế, nhất là tại các xã, thôn, phường thuộc huyện Tuy Viễn và tổng Phù Ly Hạ, Trung.

Qua đó có thể nhận thấy từ một Văn chức, Hồ Quang Đại đã lần lượt đảm đương thành công nhiều chức trách đốc thúc thu thuế, đo đạc điền địa, kiến canh địa bộ của chính quyền Hiền vương, trên một dải đất dài từ Phú Vang vào đến tận Phú Yên, Khánh Hòa. Đặc biệt là trong đợt chuẩn lập địa bạ qui mô lớn năm Kỷ Dậu - Cảnh Trị 7 (1669), “bắt đầu làm việc duyệt tuyển ở hai phủ Diên Ninh và Thái Khang, sai văn chức là Hồ Quang Đại đến làm”. Đây là đợt triển khai chính sách điền địa đặc biệt quan trọng để giúp chính quyền chúa Nguyễn kiểm soát toàn bộ ruộng đất thực canh để thu thuế, nhất là công điền và khuyến khích cư dân khai hoang chuyển thành Bản bức tư điền, đặt ra ty Nông lại để thu thuế, theo đề xuất của Ký lục Võ Phi Thừa và Văn thần Hồ Quang Đại đôn đốc thực hiện.3

Nhờ đó, ông được thăng bổ từ tước Nam lên tước Hầu và được chúa Nguyễn cho triệu hồi về cung, “thăng Thị giảng, Tri Kinh diên” và “Khi mất, được tặng phong Phụ chính An biên Phúc Đức Quốc sư”. Theo Lời tựa trong Hồ công gia phổ phái Tống Hồ (Hương Cần, 2005, tr. 2), dẫn lại Bài tựa phổ họ Hồ (Canh Tý, 1900) thì ngài Hồ Quang Đại là tổ phái nhất của ngài Mai Thanh hầu. Còn ngài Hồ Cá, húy Chư chính là ngài Thượng thủy tổ theo phổ Hồ công, được gia tặng Dực bảo Trung hưng linh phò Đoan túc tôn thần và phả phái bị khuyết từ đời thứ nhất đến đời thứ sáu. Cho nên, họ Hồ đã tôn ngài Hồ Cá làm thủy tổ và ngài Hồ Văn Duyên làm đời thứ nhất của phái Tống Hồ, dù bị khuyết trống mất 6 đời.4

Theo phả tộc Tống Hồ ở làng Hương Cần, vị Hiển tổ Hồ Cá, húy Chư được phong thần Khai khẩn. Đến đời thứ nhất của phái Tống Hồ là ngài Hiển tiên tổ Hồ Văn Duyên được phong thần Khai canh của làng. Ông Hồ Văn Duyên làm đến Cai hợp và con trai của ông là Hồ Văn Mai cũng có nhiều quân công, từ Tri bạ rồi Cai đội coi đội Tả Trung bộ, lên đến Chưởng doanh... Ông Hồ Văn Mai có người con gái là Hồ Thị Được (Đặng) được vào cung, được chúa yêu chiều, cho làm Hữu Cung tần thứ 4, sau được thăng Chiêu Nghi, tính tình thuần hậu và đặc biệt là sinh được hai người con: Ninh vương Nguyễn Phúc Thụ/Chú và Luân Quốc công Nguyễn Phúc Tứ. Vào cung, bà được ban họ Tống Phúc nên người cha còn được sử sách ghi nhận là Tống Phúc Đào/Mai, sau khi mất được truy tôn là Hiếu Minh hoàng hậu.5 Gia tộc họ Hồ/Tống Hồ/Tống Phước về sau có nhiều nhân vật hiển hách, trở thành một dòng họ lớn trong vùng.

Chính nhờ vào công lao hiển hách, lại thuộc hàng Quốc cữu ngoại thích thời chúa Nguyễn nên cả gia tộc được trọng vọng, đặc biệt là Văn chức Phúc Đức Quốc sư Hồ Quang Đại còn được làng Hương Cần tôn vinh làm Thành hoàng của làng, người con trai là Hồ Văn Duyên trở thành vị thần Khai canh của làng Hương Cần... Từ đây, lại mở ra nhiều hướng khảo cứu mới trong đời sống văn hóa làng xã truyền thống vùng Huế gắn liền với những nhân vật lịch sử thời Đàng Trong nổi danh như nhân vật lịch sử Hồ Quang Đại, kịp thời bổ sung những khoảng trống tài liệu trong chính sử.

T.Đ.H - L.Đ.H  
(TCSH357/11-2018)
 

................................
1. Tài liệu điền dã tại làng Nguyệt Biều, tháng 2/2018, bản dịch tài liệu chữ Hán sang tiếng Việt  của Lê Đình Hùng, Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế. Xem thêm Huỳnh Đình Kết (2017), “Văn thần Hồ Quang Đại mở đầu công cuộc đo đạc ruộng đất xứ Đàng Trong vào thế kỷ 17”, Tạp chí Sông Hương, số 338.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam liệt truyện, Huế: Nxb. Thuận Hóa, tập I, tr.173.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Nxb. Giáo dục, tập I, tr. 82-83. 
4. Hồ công gia phổ phái Tống Hồ, Hương Cần, 2005, tr. 2.  
5. Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam liệt truyện, Tlđd, tập I, tr. 29-30.   





 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LTS: Đại Học Huế đang ở tuổi 50, một tuổi đời còn ngắn ngủi so với các Đại học lớn của thế giới. Nhưng so với các Đại học trong nước, Đại Học Huế lại có tuổi sánh vai với các Đại học lớn của Việt như ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Trên hành trình phát triển của mình, Đại Học Huế đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, giáo dục, văn hoá ở miền Trung, Tây Nguyên, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho khu vực và cả nước. Nhân dịp kỷ niệm này, TCSH phân công ông Bửu Nam, biên tập viên tạp chí, trao đổi và trò chuyện với PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn, Giám đốc Đại Học Huế. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuộc trò chuyện này.

  • VÕ ĐẮC KHÔICó một thời người Huế loay hoay đi vỡ núi, phá rừng trồng khoai sắn. Có một thời người Huế tìm cách mở cảng nước sâu để vươn ra biển lớn, hay đón những con tàu viễn xứ xa xôi. Cả nước, các tỉnh thành láng giềng như Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng cũng đều ra sức làm như thế, sao ta có thể ngồi yên?

  • TRẦN ĐÌNH SƠNĐất Việt là cái nôi sinh trưởng của cây trà và người Việt biết dùng trà làm thức uống thông thường, lễ phẩm cúng tế, dâng tặng, ban thưởng từ hàng ngàn năm nay.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGTừng là đất Kẻ Chợ – kinh đô triều Nguyễn xưa, ẩm thực Huế dựa trên nền tảng triết lý của cái đẹp, món ăn món uống phải ngon nhưng nhất thiết phải đẹp, vị phải đi với mỹ, thiếu mỹ thì không còn vị nữa.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCTrong vô vàn những bài thơ viết về Huế, hai câu thơ của Phan Huyền Thư dễ làm chúng ta giật mình:Muốn thì thầm vuốt ve Huế thật khẽLại sợ chạm vào nơi nhạy cảm của cơ thể Việt Nam                                                                    (Huế)

  • FRED MARCHANT(*)                                                                                      Trong chuyến viếng thăm Huế lần thứ hai vào năm 1997, tôi làm một bài thơ đã đăng trong tập thứ hai của tôi, Thuyền đầy trăng (Full Moon Boat). Bối cảnh bài thơ là một địa điểm khảo cổ nổi danh ở Huế. Có thể nói là bài thơ này thực sự ra đời (dù lúc đó tôi không biết) khi nhà thơ Võ Quê đề nghị với tôi và các bạn trong đoàn ghé thăm Đàn Nam Giao trước khi đi ăn tối ở một quán ăn sau Hoàng Thành bên kia sông Hương.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀNDu khách là người trong mắt nhìn và qua cảm nhận của chính người đó.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCTừ buổi hồng hoang của lịch sử, hình ảnh ban đầu của xứ Huế chỉ thấp thoáng ẩn hiện qua mấy trang huyền sử của đất nước Trung Hoa cổ đại. Tài liệu thư tịch cổ của Trung Quốc đã kể lại từ năm Mậu Thân đời vua Đường Nghiêu (2353 năm trước Công nguyên), xứ Việt Thường ở phương Nam đã đến hiến tặng vua Nghiêu con rùa thần từng sống qua ngàn năm tuổi.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCCó một hiện tượng lịch sử lý thú, ở những nơi khác vốn dĩ bình thường  nhưng ở Huế theo tôi là rất đặc biệt, đó là tại mảnh đất này sau hơn ba mươi năm ngày đất nước thống nhất, đã hình thành một thế hệ nữ doanh nhân thành đạt giữa chốn thương trường.

  • MINH TÂMTôi nghe bà con bán tôm ở chợ Bến Ngự kháo nhau: Dân nuôi tôm phá Tam Giang đã xây miếu thờ “Ông tổ nghề” của mình gần chục năm rồi. Nghe nói miếu thờ thiêng lắm, nên bà con suốt ngày hương khói, cả những người nuôi tôm ở tận Phú Lộc, dân buôn tôm ở Huế cũng lặn lội vượt Phá Tam Giang lễ bái tổ nghề.

  • PHẠM THỊ ANH NGA"Hiểu biết những người khác không chỉ đơn giản là một con đường có thể dẫn đến hiểu biết bản thân: nó là con đường duy nhất" (Tzvetan Todorov)

  • TRẦN ĐỨC ANH SƠNSau hơn 1,5 thế kỷ được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Đàng Trong, đến cuối thế kỷ XVIII, Huế trở thành kinh đô vương triều Tây Sơn (1788 - 1801) và sau đó là kinh đô của vương triều Nguyễn (1802 - 1945).

  • TRƯƠNG THỊ CÚC Sông Hương là một trong những nét đẹp tiêu biểu của thiên nhiên xứ Huế. Sông là hợp lưu của hai nguồn Hữu Trạch, Tả Trạch, chảy qua vùng đá hoa cương cuồn cuộn ghềnh thác, đổ dốc từ độ cao 900 mét đầu nguồn Hữu trạch, 600 mét đầu nguồn Tả trạch, vượt 55 ghềnh thác của nguồn hữu, 14 ghềnh thác của nguồn tả, chảy qua nhiều vùng địa chất, uốn mình theo núi đồi trùng điệp của Trường Sơn để gặp nhau ở ngã ba Bàng Lãng, êm ả đi vào thành phố, hợp lưu với sông Bồ ở Ngã Ba Sình và dồn nước về phá Tam Giang, đổ ra cửa biển Thuận An.

  • Chúng ta biết rằng trong thời đại ngày nay, khi đầu tư xây dựng những cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầu cao của người đi du lịch, văn hóa ẩm thực được xem như là cánh cửa đầu tiên được mở ra để thu hút du khách.

  • Chúng tôi đi thăm đầm chim Quảng Thái, theo ông Trần Giải, Phó chủ tịch huyện Quảng Điền.

  • I. Chúng tôi xin tạm hiểu như sau về văn hóa Huế. Đó là văn hóa Đại Việt vững bền ở Thăng Long và Đàng Ngoài chuyển vào Thuận Hóa - Phú Xuân.

  • Thúng mủng Bao La đem ra đựng bột. Chiếu Bình Định tốt lắm ai ơi. Tạm tiền mua lấy vài đôi. Dành khi hiếu sự trải côi giường Lào.

  • LTS: Tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong hiện đang dạy tại trường đại học Kent State thuộc tiểu bang Ohio, . Đây là một trong những bài trích ra từ cuốn Hồi ký âm nhạc, gồm những bài viết về kinh nghiệm bản thân cùng cảm tưởng trong suốt quá trình đi đó đây, lên núi xuống biển, từ Bắc chí Nam của ông để sưu tầm về nhạc dân tộc. Được sự đồng ý của tác giả, TCSH xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

  • Từ sau ngày giải phóng đến nay, tôi chưa một lần gặp lại Anh hùng Vai và Anh hùng Kan Lịch. Về Huế hoài nhưng lên A Lưới lại không đủ giờ và không dễ dàng gì. Những năm trước, đường về A Lưới còn chật hẹp, lổm chổm đất đá, lại hay sạt lở... đi về rất khó khăn và phải mất vài ngày. Đến Huế vào mùa khô thì lại ít thời giờ. Về Huế dịp mùa mưa thì đường về A Lưới luôn tắc nghẽn.

  • Tế lễ, giỗ chạp, cúng kỵ gắn với người Huế rất sâu. Hình như nhạc lễ cổ truyền xứ Huế cũng hình thành từ đó. Món ăn Huế được chăm chút, gọt tỉa để trở thành một thứ nghệ thuật ẩm thực cũng từ đó. Màu sắc, mẫu mã của nhiều loại trang phục Huế cũng từ đó mà được hoàn chỉnh, nâng cao. Cả những phong cách sinh hoạt nói năng, thưa gởi, đứng ngồi, mời trà, rót rượu... đầy ý tứ của vùng đất nầy cũng đi từ những buổi cúng giỗ đượm mùi hương trầm.