Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh: Phân biệt i và y trong chính tả tiếng Việt

15:27 15/09/2014

Tồn tại mấy trăm năm qua, vấn đề i và y trong chính tả tiếng Việt đã được chính quyền thuộc địa Pháp đặt vấn đề cải cách từ đầu thế kỷ XX. Sau 30-4-1975 các cơ quan hữu quan như Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng có những quy định về vấn đề này, nhiều nhà nghiên cứu cả trong lẫn ngoài nước trước nay cũng đã tìm hiểu và có ý kiến, nhưng vẫn chưa được giải quyết rốt ráo.

Bởi vì chưa ai đặt vấn đề tìm câu trả lời cho câu hỏi “Tại sao trong vần tiếng Việt lại có cả i và y?”. Điều làm người ta bất ngờ là vấn đề chính tả của chữ quốc ngữ Latin này lại có nguồn gốc từ cách đọc chữ Hán tức có liên quan với âm vận học Hán ngữ. Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh (ảnh) với công trình “I và y trong chính tả tiếng Việt” (NXB Văn hóa - Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2014) đã làm rõ điều đó.

* PV: Xin anh cho biết tổng quát về cuốn sách?

* Nhà nghiên cứu CAO TỰ THANH: Cách đây gần 30 năm, tôi nhận ra ngoài vài trường hợp viết sai trong chính tả tiếng Việt, những từ thuần Việt đều được viết với i như trái bí con khỉ, củ mì, gà ri, ngựa hí, hỉ mũi… chỉ những từ Việt Hán mới được viết với cả i và y, nên đã nghĩ tới việc tìm nguyên nhân trong mảng từ Việt Hán. Đến nay có điều kiện khảo sát toàn bộ những chữ Hán có phần vần là i/y thì quả nhiên đúng thế. Âm vận học Hán ngữ chia các chữ Hán có phần vần là i/y làm hai loại theo đẳng hô tức bộ vị và đặc điểm phát âm là Tam đẳng Khai khẩu và Tam đẳng Hợp khẩu, trong đó khi chuyển qua ghi bằng chữ quốc ngữ Latin thì những từ có phụ âm đầu là zéro như y (áo), y (chữa bệnh), ý (ý nghĩ), ỷ (dựa cậy) thường viết với y đều thuộc Tam đẳng Khai khẩu. Tóm lại theo logic thì những từ Tam đẳng Khai khẩu ở đây phải được viết với y, những từ Tam đẳng Hợp khẩu phải được viết với i, dĩ nhiên nếu có nguyên âm tròn môi đi trước như huy, truy, thủy thì bất kể là Khai khẩu hay Hợp khẩu cũng phải viết với y. Nhưng từ thế kỷ XVII trở đi thì dòng chính tả ngoại nhập vốn không chấp nhận lối viết kỹ, lý, mỹ giống hệt quy định chính tả hiện nay, còn ở dòng chính tả Việt hóa điều đó lại không được thể hiện nhất quán và liên tục, đây là do lịch sử của chữ quốc ngữ ở Việt Nam dẫn tới. Tuy nhiên, trong lời nói đầu quyển sách, tôi có nói là chỉ nhằm làm sáng tỏ việc tại sao trong vần tiếng Việt lại có cả i và y và tôi nghĩ đã làm sáng tỏ được rồi.

* Nghĩa là nhiều năm qua chính tả tiếng Việt không có nguyên tắc trong việc chuẩn hóa cách viết i/y?

* Chữ quốc ngữ là loại chữ ghi âm, nhưng âm đọc và cách đọc là hai chuyện khác nhau. Người Việt ai cũng hiểu/viết từ ăn như nhau, nhưng người miền Bắc thường nói/đọc là ăn, người miền Trung thường nói/đọc là eng, người miền Nam thường nói/đọc là ăng. Cách đọc mới là quy chuẩn, chứ âm đọc không thể coi là quy chuẩn. Hiện nay nhiều người viết khúc chiết là khúc triết, bánh chưng là bánh trưng chính vì đồng nhất âm đọc với cách đọc đấy. Chữ quốc ngữ được sáng tạo ra từ thế kỷ XVII và chỉ phổ biến trong cộng đồng Thiên Chúa giáo, lúc người Việt Nam đang dùng chữ viết Hán Nôm, khi đó Dòng Sai có viết khác Dòng Tên cũng không hề gì. Nhu cầu chuẩn hóa chính tả ở đây chỉ được đặt ra sau khi người Pháp xâm lược và đô hộ Việt Nam, chữ quốc ngữ từng bước được dùng làm chữ viết chính thức từ Nam tới Bắc. Nhưng lực lượng nòng cốt trong việc phổ biến và chuẩn hóa chữ quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không bao giờ là những nhà nho học hành có bài bản, các trí thức tân học thế kỷ XX thì căn bản không biết về âm vận học Hán ngữ để hiểu được sự khác biệt về âm trị giữa i và y trong mảng từ Việt Hán, cho dù biên soạn từ điển cũng chỉ ghi nhận âm đọc chứ không ghi nhận cách đọc, chuyện sai đúng do đó phần nhiều là ngẫu nhiên. Sự khác biệt giữa i và y trong mảng từ Việt Hán là khác biệt về âm trị, do cách đọc. Trong thực tế ai cũng nhận ra sự khác biệt ấy trong các trường hợp loại mai - may, thủi – thủy vì y trong may, thủy được phát âm dài hơn i trong mai, thủi. Nhưng theo tập quán phát âm của người Việt thì lý lẽ không khác gì lí lẽ, sự khác biệt nói trên bị xóa nhòa, khó nhận ra hơn.

* Như vậy, anh không tán thành quy định lối viết i/y hiện nay?

* Tôi nghĩ chắc đến nay những người đề xuất các quy định ấy vẫn chưa biết tại sao vần tiếng Việt lại có cả i lẫn y, nên các quy định ấy cho dù có giá trị pháp lý cũng không thể có cơ sở khoa học và giá trị thực tiễn. Không biết nguyên nhân, không rõ quá trình mà cứ can thiệp thì dễ cảm tính hay tùy tiện lắm. Họ quy định những từ có phần vần là i/y không có phụ âm đầu phải viết là y, trẻ con viết đúng những từ Việt Hán như y tế, ý thức thì lại viết sai những từ thuần Việt như béo ị, ầm ì thành béo ỵ, ầm ỳ. Đối với ngôn ngữ đâu có thể cào bằng bừa bãi như thế được.

* Vậy trở đi anh có định viết i/y theo đúng với đẳng hô của âm vận học Hán ngữ không?

* Khi số đông thừa nhận cái sai thì cái vốn đúng sẽ bị coi là sai, nên tôi không thể viết trý thức, by ai cho đúng âm vận học Hán ngữ để trở thành dị dạng về chính tả trước mắt số đông. Nhưng trong giới hạn chấp nhận được như my mục, kẻ sỹ thì tôi sẽ theo nguyên tắc ấy, vì nó nhắc nhở tôi về lòng tự trọng nghề nghiệp.

Nguồn: TƯỜNG VY - SGGP

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Mấy chục năm qua, phê bình luôn được coi là khâu yếu nhất của nền văn nghệ. Nhẹ thì cũng là chưa theo kịp sự phát triển của phong trào sáng tác, không cắt nghĩa được sự phức tạp của các hiện tượng văn nghệ…

  • Có thể đội tuyển Nhật Bản không vô địch World Cup 2018 nhưng các cổ động viên của họ đã vô địch trên khán đài khi để lại ấn tượng đẹp về ứng xử cũng như hành động dọn sạch rác khu vực ghế ngồi.

  • Là một nghề gắn với viết lách, chữ nghĩa nên không có gì lạ khi nhiều nhà báo viết sách. Nhưng bản chất nghề báo là công việc liên quan đến thông tin nên sách của nhà báo ngoài sự đa dạng còn có một đặc thù riêng là luôn gắn với dòng chảy của thời sự, nhất là dòng thời sự liên quan đến chuyên môn của từng người.

  • Tạo tác và sử dụng mặt nạ là nét văn hóa vẫn sống động ở vùng Eo biển Torres của Australia. Những kiến thức lịch sử chứa đựng bên trong khiến chúng được mang đi trưng bày khắp thế giới. Nhưng điều đáng nói còn là câu chuyện ứng xử với truyền thống nơi đây.

  • Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao hơn nữa nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân trong việc chung tay xây dựng lễ hội; tăng cường công tác phối hợp với các tỉnh tham gia tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương-Lễ hội Đền Hùng hằng năm. 

  • Trước giá trị di sản và thách thức do biến tướng, thương mại hóa trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ, series phim Mẹ Việt - Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã chính thức ra mắt cuối tuần qua. Theo bà Đàm Lan, Chủ nhiệm dự án phim, mỗi thước phim là hành trình lắng đọng tâm thức, tìm về văn hóa truyền thống, tín ngưỡng nội sinh của dân tộc Việt.

  • Với những thay đổi về ưu đãi tuyển sinh, mùa tuyển sinh 2017-2018 số lượng học sinh, sinh viên thi vào ngành Âm nhạc dân tộc (ANDT) cũng tăng hơn những năm trước. Đây là tín hiệu mừng của sự thay đổi hợp lý ở khâu tuyển sinh cho các ngành “hiếm muộn”.

  • Nói đến nạn sách lậu, ai cũng biết vì đây là câu chuyện “xưa như Trái Đất.” Xong dường như câu chuyện xưa cũ này càng ngày càng dài, nội dung, tình tiết càng phức tạp và làm “phiền lòng” không chỉ cộng đồng yêu sách mà cả các cơ quan chức năng.

  • Tại hội thảo khoa học chuyên đề “Những tinh hoa sân khấu cải lương thể hiện qua các vai diễn về đề tài lịch sử” vừa tổ chức tại Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh TPHCM, những nghệ sĩ, nhà giáo, nhà lý luận phê bình sân khấu kỳ cựu, đều có chung nhận định: “Cải lương không thể chết!”.

  • “Ký ức Hội An” - chương trình biểu diễn thực cảnh hoành tráng trên một sân khấu mới được xây dựng rất quy mô tại cồn bắp Cẩm Nam (cồn Ga Mi), sông Hoài, TP Hội An đang vấp phải phản ứng của người dân, nhà nghiên cứu và những người yêu mến phố cổ này. Một lần nữa, câu chuyện về xung đột giữa bảo tồn và phát triển lại được đặt ra, mà nguyên nhân chính là không tôn trọng văn hóa bản địa.

  • Khi nhắc tới sân khấu kịch, người ta thường nghĩ tới ánh hào quang, trang phục lộng lẫy và hóa trang cầu kỳ. Thực tế, nghệ thuật kịch có thể được ứng dụng hiệu quả trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục, qua đó kích thích các khả năng tiềm ẩn của học sinh.

  • “Thời gian gần đây, việc xây dựng, trưng bày tượng, biểu tượng có nội dung và hình thức không phù hợp với văn hóa Việt Nam tại một số cơ quan, đơn vị, khu du lịch và địa điểm công cộng, tác động không tốt đến môi trường văn hóa, thị hiếu thẩm mỹ của cộng đồng và xã hội.”

  • Xả rác bừa bãi nơi công cộng; đua xe, lạng lách; văng tục, chửi thề; chen lấn, xô đẩy khi tham gia các dịch vụ công cộng; phá hoại, bôi bẩn các công trình công cộng;…là những hình ảnh xấu xí của không ít người trẻ hiện nay, và trở thành nỗi trăn trở của nhiều lãnh đạo TP HCM trong quá trình xây dựng nếp sống văn minh đô thị.

  • Các công trình nghệ thuật công cộng là thành phần không thể thiếu trong quy hoạch và kiến trúc của một đô thị hiện đại. Thế nhưng “ranh giới” trong quan điểm, nhận thức tạo hình mỹ thuật cùng với tâm lý sính ngoại đã ít nhiều làm không gian công cộng biến dạng.

  • Ai đó nói, thời buổi giờ chỉ có ngành du lịch tâm linh, hay kinh doanh tâm linh là ăn nên làm ra, bỏ ra một đồng tức khắc có bốn đồng chảy ngược vào túi. Mà là tiền tươi, thóc thật, là tiền sạch nói như ngôn ngữ thời thượng - đồng “tiền hữu cơ”.

  • Ngày nay bất kì sự sáng tạo nghệ thuật ở phân mảnh nào cũng bắt đầu bằng tiền và kết thúc bằng tiền theo quy luật thị trường.

  • Năm hết. Tết đến. Người ta đôi khi chạnh lòng nghĩ “nên làm gì?”.

  • Do đời người có hạn, không ai có thể “trường sinh bất tử” nên có thể nói “quỹ thời gian” mỗi con người có giá trị cao nhất. Thời gian quy định sự sống của con người, buộc mỗi người phải biết sống. Người biết sống chính là người biết “sống nhanh, sống chậm”.

  • Có những thứ sẽ dần trôi tuột theo năm tháng, guồng quay của cuộc sống hiện đại có thể đã làm biến đổi phần nào giá trị của Tết. Nhưng nếu biết lắng lại, nghĩ khác đi thì Tết dường như vẫn luôn vẹn nguyên trong tâm thức mỗi người.

  • Nếp nhà lãng đãng khói hương như chiếc cầu nối với quá khứ. Hồn người tĩnh tại, thong dong hòa quyện miền tâm linh thăm thẳm. Nhưng không phải dịp Tết đến ta mới thấy nhẹ nhàng. Bất cứ khi nào đứng trước ban thờ tiên tổ, bao bộn bề, lo toan đều tự nhiên rũ bỏ, để gia tâm bảo vệ những gì tốt đẹp của tinh thần.