Hạnh phúc là điều ai cũng hướng tới, tìm kiếm, mỏi mong có được. Và, hạnh phúc, đối với mỗi người hoàn toàn không giống nhau, cách gọi tên hạnh phúc khác nhau do hoàn cảnh sống sai biệt và do cách nhìn về cuộc sống không như nhau.
Hạnh phúc là con đường - Ảnh minh họa: langmai.org
Có người có cơm no, áo lành là hạnh phúc vô bờ, người khác là phải cơm ngon, mặc đẹp thì mới được gọi là hạnh phúc.
Có người sống là hạnh phúc, người khác chết có khi hạnh phúc hơn, dẫu làm người ai cũng mong được sống, sợ sự chết.
Có người nghĩ rằng giàu có mình sẽ hạnh phúc, nhưng khi giàu có thì bất hạnh lại dồn dập, vì cái giàu ấy khiến anh em mất hòa khí, con cái sống buông lơi, vợ chồng không còn cảm thông nhau được nữa.
Có người cho rằng được yêu một người vừa xinh đẹp, vừa giỏi giang là điều may mắn, nhưng không ngờ chính vì sự xinh đẹp, giỏi giang ấy đã khiến cho bản thân... lép vế, trở thành người bị vợ đì, coi thường, không còn thấy hạnh phúc...
Từ tháng 6-2012, Liên Hiệp Quốc lấy ngày 20-3 làm ngày Quốc tế hạnh phúc. Năm 2014, lần đầu tiên ngày Quốc tế hạnh phúc được tổ chức ở Việt Nam với chủ đề "Yêu thương & chia sẻ". |
Người xưa nói, ở trong chăn mới biết chăn có rận. Đôi khi ta nhìn thực thể mà mình chưa có, tự nghĩ nếu có rồi chắc sẽ hạnh phúc lắm đây. Nhưng, nghe người có rồi giãi bày mới thấy họ bất hạnh hơn mình. Oái ăm của cuộc sống là như thế, có cái người này muốn lại được sắp cho người kia và ngược lại, khiến hai người nhìn nhau, thèm thuồng điều người kia đang có.
Chính vì thế mà có câu: cá trong lờ đỏ hoe con mắt, cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô.
Và, chính vì thế mà có ông vua vì nghiệp đế vương của mình phải gánh gồng mà thầm ao ước: "Giá trẫm được một ngày làm người nông dân tự tại, đi làm về, mệt nghỉ, đói ăn thì hạnh phúc biết mấy...". Nhưng, chắc cả khối người chân lấm tay bùn ngoài thành xa xôi kia cũng đang ước mình được làm vua thiên hạ, dẫu chỉ một ngày thì chết cũng mãn nguyện.
Tất nhiên, cuộc sống con người đã được sắp xếp, dắt dẫn (do nghiệp, không phải tạo hóa nào nhúng tay). Nghiệp do chính người đó tạo, theo quy luật gieo nhân gì, gặt quả nấy. Khi quả đã trổ rồi thì phải hoan hỷ, chấp nhận và luôn có ý hướng sống tốt đẹp lên, thanh lương với mình, với đời, với người thì sẽ nhẹ tênh, dù có là vua hay dân.
Khi mình đang là "vai diễn nào đó" thì hãy diễn thật tốt vai trò của mình, khi ấy mình sẽ bình yên, hạnh phúc.
Hạnh phúc không thể có khi anh cứ đứng núi này trông núi nọ. Đạo Phật gọi là không an trú. Những ước nguyện, nếu có thì cũng đừng nằm ngoài khả năng thực tế, có thể làm được thì mới nghĩ tới, hướng về, cố gắng để làm. Và quá trình làm cũng là lúc mình cảm thấy hạnh phúc, an lạc, chứ không phải cố ép xác để đạt được mục tiêu. Nếu không thì sẽ thất vọng, gọi tên thất bại rồi chán, chê chính mình, bế tắc đến mức không còn thiết sống.
Còn nếu có đạt được mà trầy vi tróc vảy, trên đường đi ê chề đau điếng thì cái ta gọi là hạnh phúc ấy thực ra là một mục tiêu xa vời đã bóp chết nhiều bình an trong ta, trong cả một quá trình chinh phục.
Chính vì thế, có vị thiền sư nhắc mình rằng, hạnh phúc là con đường, là mỗi bước chân thong dong đi tới mục tiêu (tốt đẹp phía trước) chứ không phải là chiến đấu, chạy đến nó một cách bán sống bán chết.
Có câu nói vui cho chuyện này, rằng, cố gắng nhưng đừng có cố quá thì dễ... quá cố lắm nghen. Câu ấy nếu nhìn với mắt trí tuệ của nhà Phật thì cũng không khác thiền ngữ, nhắc mình hãy biết lượng sức mình. Đừng có lấy thước đo hạnh phúc, thành công của người khác rồi làm chuẩn cho mình, trong khi ta không hề có những điều kiện như họ.
Vậy nên, hãy gọi tên hạnh phúc cho mình, bằng cách nhận diện được bản thân, hoàn cảnh. Ông bà, cha mẹ mình, thế hệ trước ước ao đất nước ngớt chiến tranh, độc lập tự do là hạnh phúc. Thời gian trôi, vấn đề áo cơm trong ngày không tiếng súng là một ước mong mang tên hạnh phúc. Khi đã tạm đủ đầy đây đó (dẫu biết dân nghèo ở đâu cũng có, ở mình còn nhiều) thì việc số đông người thừa mứa uống ăn, dư dả chất bổ cũng khiến nỗi khổ theo về, dư cân và bệnh tật...
Cứ thế, cái may của cuộc sống là khi mình được đủ đầy, nhưng đôi khi dư dả lại chính là cái hại. Thôi thì, cứ sống sao cho mình "bớt muốn và biết đủ" để không hại người, hại mình là hạnh phúc. Bớt muốn, biết đủ thì mới rộng rãi lòng mà sẻ chia, dù ở hoàn cảnh nào.
Và nhớ là mình và người có mối liên hệ mật thiết, nếu hại mình đừng chỉ nghĩ mình bị hại không mà kéo theo đó là những hệ lụy tiêu cực mà người khác phải chịu, phải giải quyết. Và, tặng cho người đừng nghĩ mình mất đi, mà là mình đang gieo nụ cười, bỏ vô ngân hàng phước đức, thấy niềm hạnh phúc được sẻ chia của họ mà hoan hỷ. Thậm chí thấy niềm hoan hỷ của người đi trao tặng mà tùy hỷ (thay vì ganh ghét) thì mình cũng thấy hạnh phúc hiện diện y chang người bỏ công sức, tiền bạc đi cho vậy đó.
Nghĩ thế để nhẹ lòng, cố gắng đừng nhìn mọi thứ thành u ám, mà dẫu mọi thứ có u ám đi chăng nữa thì cũng đừng có xem đó là điều gì đó đáng chán, hãy thắp lửa, thay vì nguyền rủa bóng đêm, trở lại quán chiếu để xin lỗi chính mình vì đã gieo nhân chi đó mới sanh vào nơi mà nhìn đâu cũng... thấy ghê, thấy gớm. Cái lý ấy là lý nhân quả, là điều tất nhiên để mà à, ừ, trở lại làm mình mới lên theo hướng tích cực, đừng vùi mình xuống sâu hơn giữa ngập ngụa buồn thương nhân thế...
Theo Lưu Đình Long - GNO
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.