Nghệ thuật sinh ra từ lửa

15:06 18/03/2008
PHẠM XUÂN PHỤNGNgười thợ học việc rán một hơi cuối cùng. Đó là hơi quyết định sự thành bại của sản phẩm. Đốm thủy tinh lỏng đỏ rực đầu ống xuy phồng to lên, đẹp như một quả cầu lửa sáng chói. Đoạn, anh đưa quả cầu lửa vào lỗ khuôn rồi vừa thổi vừa xoay vừa nhấc dần đầu ống xuy đồng lên cao. Cuối cùng, bằng một động tác dứt khoát, anh xoáy mạnh, cắt lìa đầu ống khỏi phần còn lại của quả cầu lửa hơi nhô ra trên lỗ khuôn.

Cậu bé phụ việc bên cạnh nhanh chóng bê toàn bộ cái khuôn nhúng vào bể nước. Một tiếng "xèo" sôi sùng sục và khói trắng bốc mùi lên. Sau độ một phút, cậu bé nhấc khuôn ra khỏi bể nước, đặt xuống trên tấm đá rộng phẳng lì của nhà xưởng. Hai tay cậu khéo léo nhấc hai càng khuôn ra, để lộ bên trong một chiếc lọ hoa xinh xắn, miệng lọ hoa xòe ra như năm cánh hoa. Cậu hoan hỉ la to:
- Anh Toàn ơi! Đẹp quá!
Người thợ học việc tên Toàn còn rất trẻ, độ hơn hai mươi tuổi, vừa thở vừa cười phô hàm răng đều như bắp:
- May quá! Mãi mới được.

Nói xong, anh kín đáo nhìn bác thợ cả - người truyền nghề cho anh - một người nổi tiếng khắp các tỉnh phía Bắc lưu lạc vào đây từ đầu những năm năm mươi khi anh chưa ra đời. Lâu hơn nữa, khi ba mẹ anh hãy còn là những đứa bé cởi truồng chạy tồng ngồng khắp xóm. Bác thợ cả đưa tay vuốt mái tóc bạc phơ rồi chậm rãi bước xuống đến bên tấm đá, dặt tay rà quanh miệng lọ hoa. Sau đó ông dùng ba ngón tay phải nhấc lọ hoa lên xoay vòng. Vừa xoay ông vừa gõ vào hông lọ hoa. Khi ba ngón tay phải vừa buông ra, dường như một tích tắc sau đó, một tiếng "coong" dòn thanh vang lên. Sau năm lần gõ chuyển dần từ eo lọ theo một đường xoắn ốc đến tận gờ đáy, ông đặt lọ hoa xuống. Không nói một lời, ông chậm rãi bước đến giá gỗ ở tường nhà. Nơi đó có một chiếc lọ thủy tinh có hình dạng y hệt. Ông lại nhấc nó lên bằng ba ngón tay phải rồi gõ. Lần lượt năm tiếng "coong" trong vắt ngân lên. Người thợ học việc "à!" lên một tiếng đầy thất vọng, tiếp tục nhìn theo thầy. Bác thợ cả đi đến góc nhà, lục lấy một chiếc lọ tương tự và gõ. Những tiếng "cạch...cạch" đùng đục vang lên. Đó là chiếc lọ đầu tiên do Toàn thổi. Anh rít một hơi thật sâu, môi thoáng nở một nụ cười. Khuôn mặt anh như sáng bừng lên. Thế là chỉ sau ba tháng nhẫn nại học nghề, lắng nghe từng lời chỉ bảo của thầy, xem xét kỹ từng động tác nhỏ của các anh thợ lâu năm, luyện từng hơi thở sâu đều đặn, hôm nay anh gần tới đích. So với sản phẩm chuẩn, sản phẩm tốt nhất của anh hôm nay còn kém trong, có bọt bởi tiếng kêu của nó không vang ngân. Nhưng độ dày của thành lọ hoa rất đều, một sự thành công không dễ đối với một người thợ học việc ba tháng. Thông thường phải sau sáu bảy tháng, một người thợ học việc mới làm ra được một sản phẩm đủ chuẩn thương mại như anh vừa làm. Nhưng để đủ chuẩn triển lãm, nó đòi hỏi công phu rất nhiều.

Cái khó của các công đoạn làm ra sản phẩm đơn giản này thật không đơn giản. Từ khi đưa đầu ống xuy vào lò thủy tinh nấu lỏng, cháy sáng để ngoáy lấy một "cục" thủy tinh lỏng cho đến khi ngắt đầu ống xuy ra khỏi khuôn, thời gian khống chế chỉ trong hai phút. Làm quá nhanh, sản phẩm chưa kịp rắn, bị chảy xuống tạo nên các gờ sóng ở bên trong. Làm quá chậm, sản phẩm chưa kịp định hình đã rắn lại, tạo nên dáng méo mó. Làm đúng thời gian nhưng khống chế luồng hơi thổi không đều lực sẽ làm cho sản phẩm có nhiều bọt, độ dày không đều. Đạt được các điều trên đây đòi hỏi phải luyện đôi tay không run rẩy, hơi thở dài và sâu, đều nhịp, động tác nhanh đều, không ngắt quãng khi đã lấy thủy tinh lỏng ra khỏi lò nấu. Chỉ cần một nhịp dừng bất tử, sản phẩm sẽ kém chất lượng ngay. Để đạt đến chuẩn sản phẩm thương mại thông dụng không khắt khe lắm vì phần lớn sản phẩm được bán cho dân nghèo. Những chiếc lọ hoa, chụp đèn Hoa Kỳ, chai dầu gió, lọ đựng kẹo, thẫu đựng đường thật sự không cầu kỳ. Ngay cả những sản phẩm loại hai, loại ba cũng được tiêu thụ chóng vánh. Bà con lao động nghèo càng thích vì giá bán rẻ hơn đôi chút. Toàn cũng đã từng xài các sản phẩm loại vứt đi ấy khi còn nhỏ. Anh vẫn còn cất giữ tại nhà một cái thẫu "sụm lưng". Một người thợ vụng nào đấy đã làm cho cái thẫu có dạng ông già gù. Nom rất hài hước. Ngay từ hồi ấy, Toàn đã ao ước được làm ra những chiếc lọ hoa cầu kỳ về kiểu dáng, những con cá thủy tinh xòe đuôi với đầy đủ mắt, môi, vi, vẩy như thật. Nhưng mẹ anh không cho anh đi học thợ. Bà bắt buộc anh phải thi vào Đại học vì đó là khao khát chảy bỏng của chồng bà. Một niềm khao khát đơn sơ, không cao vời so với trí tuệ của ông. Nhưng cái nghèo định mệnh và căn bệnh lao đã buộc ông lìa bỏ ước mơ, lìa bỏ bà giữa lúc bà hãy còn là cô gái đôi mươi, để lại một câu trăn trối sau cùng:

- Mình ráng cho con nó đậu một cái bằng kỹ sư.
Vì lời trăng trối ấy, bà đã gác bỏ ngoài tai mọi lời ve vãn của mấy người đàn ông góa vợ, bước qua mọi lời châm chọc để ngày ngày chất lên vai đôi gánh chuối rau, kiếm chút tiền lời. Toàn rất ham học thợ. Anh biết mình sẽ làm được. Nhưng mỗi lần thấy mẹ đi chợ về, ngả nón quạt cho anh ngồi học trong căn nhà tôn thấp lè tè trong khi chính bà đang đổ mồ hôi, Toàn lại bậm bạo ngồi lì cố tiêu diệt tằng hết những bài toán khó.

Toàn đã thi đậu vào Trường Đại học bách khoa, một trường lớn nhất, lâu đời nhất của thành phố. Anh theo học ngành hóa học, bộ môn si-li-cát. Đề tài tốt nghiệp của anh vốn thoát thai từ niềm mơ ước hồi nhỉ của mình, lại may mắn trùng hợp với nhu cầu đổi mới sản phẩm thủy tinh để có khả năng xuất khẩu. Sở dĩ lâu nay các sản phẩm thương mại si-li-cát chỉ dừng lại ở mấy chiếc chụp đèn, chai lọ cho bà con nghèo tiêu thụ vì toàn bộ kỹ thuật đều ở mức thủ công nghiệp. Các sản phẩm thủ công có một điểm yếu trí mạng: Rất khó hoàn hảo theo một chuẩn nhất  định vì phụ thuộc tay nghề của mỗi người thợ. Song nó lại có một ưu điểm nổi bật, rất phù hợp thị hiếu người nước ngoài: dù làm bằng thủy tinh, mỗi sản phẩm lại có hơi thở riêng của nó. Dường như người thợ đã thổi linh hồn vào đó. Sản phẩm thủ công do một người thợ có trình độ tuyệt cao làm ra bao giờ cũng là một sản phẩm mang đậm chất nghệ thuật. Chiếc lọ hoa trong tay bác thợ cả là một ví dụ. Trong một phút ngẫu hứng sáng tạo, bác đã ngậm vào miệng một dúm bột hồng ngọc trước khi thổi. Rồi khi "cục" thủy tinh lỏng hóa thành quả cầu lửa, bác tung người lên vừa thổi vừa xoay vừa nhảy múa theo một nhịp điệu thần linh nào đó. Chiếc lọ hoa không chỉ hoàn hảo về hình dáng, chuẩn về độ dày và độ trong không có chút bọt. Nó còn tuyệt vời hơn. Giữa thành lọ hoa hiện lên một cành hoa màu đỏ, rực rỡ lung linh dưới ánh đèn. Một cành hoa lửa. Vị giáo sư người nước ngoài do Toàn dẫn đến xưởng tham quan cách sản xuất thủ công của người Việt đã sửng sốt không nói một lời khi nhìn thấy cành hoa lửa. Ông lặng người ngắm nó rất lâu, như thể chưa bao giờ ông được thấy ở đâu có một cành hoa đẹp đến lịm người. Ông bắt tay bác thợ cả rất chặt rồi không ngần ngại bộ quần áo sang trọng, ông ôm chầm lấy bác thợ già. Hai người không thể dùng tiếng nói để hiểu nhau. Nhưng ánh mắt họ đã quyện vào nhau, ấm áp chân thành. Chiếc lọ hoa tuyệt mỹ ấy nếu đem bán có thể không định giá được. Cũng có thể chỉ vài ba chục ngàn. Nhưng giáo sư không hỏi mua. Ông biết giá trị của nó. Ông ngỏ lời xin. Lạ thay! đôi mắt của bác thợ già sáng rực lên. Bác cười hiền lành nhưng không kém phần kiêu hãnh. Bác giơ hai ngón tay lên rồi chỉ vào tờ lịch. Giáo sư cúi đầu cám ơn. Hai hôm sau, ông cùng Toàn lại đến xưởng. Lần này ông ăn mặc rất trang trọng, tay ôm một bó hoa. Toàn đi sau ông, tay bưng một cái hộp to khá nặng. Giáo sư nhờ Toàn nói hộ ông ý muốn tặng bác thợ cả một phiên bản Thần Vệ Nữ bằng đá cẩm thạch do chính tay ông đục đẽo. Hóa ra, Giáo sư còn là một nhà điêu khắc có nghề. Ông nói thành thật rằng ông chưa đủ sức để sáng tạo nên một tác phẩm để lại đời sau. Ông mượn phiên bản này để bày tỏ phần nào lòng kính trọng một tài năng nghệ thuật dân gian Việt mà ông rất tiếc từ lâu không nghe các nhà nghiên cứu nước ngoài và cả Việt nhắc đến như một nghệ sĩ thiên tài. Ông lấy làm lạ rằng một đất nước có những tác phẩm vào hàng kiệt tác điêu khắc như ở Việt Nam mà sao các nhà lý luận mỹ học và nghệ thuật Việt Nam chỉ toàn nhắc đến những Lê-ô-na Đờ-Vanh-xi, những Mi-ken-lăng-giơ mà quên mất bác thợ cả này, dù bác không phải là nhà điêu khắc. Chỉ là thợ thổi chai.

Giáo sư nói say sưa và Toàn dịch cũng sôi nổi không kém. Nhưng Toàn biết bác thợ cả và các anh thợ khác khó lĩnh hội được ý nghĩa những lời khen của vị giáo sư nước ngoài. Nếu biết, chắc họ sẽ lấy làm lúng túng lắm vì họ không cố ý hóa thành thiên tài. Sáng tạo là giây phút ngẫu hứng tự do của một quá trình nghiêm ngặt tất yếu của nghề nghiệp. Họ chỉ làm như vậy.
Bác thợ già quay lại tấm đá phẳng, bê lên chiếc lọ hoa còn hơi ấm của lửa. Dưới ánh đèn, cành hoa lửa bập bùng cháy lung linh khoe màu. Nó hơi khác một chút so với cành hoa trong chiếc lọ trước. Cả hai như có linh hồn, sống động và tươi thắm sắc hoa xuân. Giáo sư cúi nhẹ đầu, trịnh trọng nâng lọ hoa bằng hai tay rồi đưa lên môi hôn. Bác thợ cả bảo Toàn.

- Cháu nói rằng đó là món quà Tết của ông tặng ông ấy. Không biết đặt tên loại hoa ấy là gì - Bác cười chân chất.
Toàn dịch lại cho giáo sư nghe. Ông reo lên rồi nói một thôi dài. Toàn tươi nét mặt quay lại bảo bác thợ cả:
- Giáo sư bảo rằng đây là một tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị. Vì vậy phải đặt tên nó là HOA LỬA.
- A ha! Hoan hô! Trùng tên của em rồi, anh Toàn ơi!
Mọt giọng nói ngọt lịm và một giọng cười lanh lảnh xen lẫn một tràng vỗ tay đều của một người. Toàn vội giới thiệu với giáo sư:
- Thưa thầy! Đây là cô Hoa, cháu nội của ông đây. Cô  có biệt danh là Hoa Lửa vì thích mặc chiếc áo dài thêu một cành hoa y hệt cành hoa trong chiếc lọ của ông nội.
- Tuyệt vời! giáo sư reo lên - Đó là sự đánh giá đúng đắn nhất tác phẩm của nhà nghệ thuật dân gian này.

Bỗng nhiên, ông nheo mắt lại nhìn Toàn một cách giễu cợt. Một nụ cười hóm hỉnh dưới bộ ria mép trẻ trung:
- Cậu có biết vì sao tôi học nghề điêu khắc không?
Toàn ấp úng đỏ mặt. Anh chưa hiểu vì sao nhưng anh thầm đoán giáo sư đang đùa mình.
- Không hiểu hả? Tại vì ở nước tôi hai mươi năm trước có một nhà điêu khắc nổi tiếng thế giới. Ông có độc nhất một cô con gái yêu bố và yêu nghề điêu khắc hơn mọi thứ trên đời. Tôi không còn cách nào khác là phải làm học trò của ông ấy. Như cậu bây giờ vậy. Đúng không? Ha...ha...
Họ nói với nhau bằng tiếng Anh. Cầm chắc bác thợ cả và cô cháu gái  không hiểu tiếng nước ngoài. Nhưng dường như dù ở bất cứ nơi đâu, khi nói về tình yêu người ta không chỉ nói bằng lời. Nếu không phải vậy thì tại sao cô Hoa bỗng dưng đỏ mặt rồi chạy biến vào trong buồng, mặc các anh thợ cười reo ầm ĩ.

P.X.P
(121/03-1999)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.

  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.