Năm rồng, ghi tại bến Nhà Rồng

16:05 10/03/2010
ĐOÀN MINH TUẤNĐã mấy mùa xuân, Tuấn Minh - biên dịch tiếng Pháp ở Công ty phục vụ người nước ngoài thành phố ta, nhà ở quận 3, có trao đổi với tôi một số tài liệu viết về con rồng trong cuốn “Các động vật của thế giới”. Nay chờ đến năm Thìn qua sổ tay ghi chép có dịp soạn lại cho bạn đọc làm quà xuân.

Không có nơi nào trên đất nước ta hình tượng Rồng được nhắc nhiều bằng các cung điện, lăng tẩm, đền đài thành quách kiến trúc ở Huế. Rồng là con vật trong thần thoại được sinh ra từ trí tưởng tượng của con người. Trong văn học cổ Trung Quốc sách của Vi King, rồng giữ một vai trò quan trọng, là hình ảnh rất thông dụng trong nghệ thuật của quốc gia này. Là biểu tượng của các bậc đế vương thời xưa, nó được mô tả là một loại mãng xà có chân như cá sấu, vuốt của loài sư tử và đuôi rắn. Con rắn bay (Séraphs) được ghi trong thánh kinh chỉ là loại rồng trong huyền thoại. Thần thoại Hy Lạp rồng cũng thường được đề cập đến nhưng không chỉ thuộc dạng nhất định mà được mô tả ở nhiều dạng khác nhau. Có con rồng một trăm đầu, nhưng đôi mắt lúc nào cũng trợn trừng trông coi vườn cây Hét-pê-rít (Hespérides) và Hê-rat-tơ (Héractes) đã giết nó. Cát-mốt (Cadmos) và I-a-son (Iason) đem răng của loài rồng này trồng xuống đất; những chiếc răng ấy mọc thành con người.

Với tư cách là người bảo vệ giữ các kho báu, rồng là một nỗi đau và gánh nặng cho vương quốc đó, vì hàng năm nơi ấy phải cống nạp cho nó những cô gái trẻ để rồng ăn thịt. Vì thế cho nên nhiều vị thánh đã đánh lại rồng để chiếm kho báu và để giải phóng cho bao trinh nữ khỏi chết oan uổng. Trong truyền thuyết Đức Ni-be-lun-gen (Nibelungen) Siegfried đã giết Lin-Vuốt (Lidwurm) - tên gọi một loài rồng- vì ghen tị vì kho vàng mà nó giữ ở sông Rhin.

Trong các truyền thuyết khác ở Châu Âu, những nhà hiệp sĩ đã giết rồng để giải phóng cho các thành phố, làng mạc khỏi nanh vuốt của loài quái vật này. Truyền thuyết tôn giáo cũng đề cập đến rồng. Thánh Goerge đã chặt đầu rồng, cứu con gái của vua Lybie khỏi móng vuốt của con vật này, vì theo số mệnh nàng phải cống nạp cho nó. Cũng như ở cổ tích ta, Thạch Sanh đánh ó cứu công chúa vậy!

Thánh Marthe cột rồng vào một cái cây ở giữa vùng và Avignon . Marthe đã vảy nước thánh và con vật đã trở thành cừu non hiền lành. Dragon (con rồng) còn là tên của đội quân Pháp được thành lập từ giữa thế kỷ XVI dưới sự chỉ huy của thống chế Brissac, gồm kỵ binh và bộ binh (Corps millitaire des Dragons) đã lập nên nhiều chiến công vô cùng hiển hách. Đội quân này tồn tại đến thế chiến lần thứ hai. Từ đó trở đi biến đổi thành quân thiết giáp. Ở Châu Âu rồng là biểu tượng của những quái vật ghê gớm. Theo Pascal rồng là cái gì rất ghê sợ. Molière - nhà văn Pháp- cho rồng là tượng trưng cho con người ghê gớm, kỳ quặc.

Trước kia có người cho rồng là một loài rắn biển. Có nhiều sách vở lịch sử tự nhiên cổ đại đã ghi và mô tả loại quái vật này. Tổng giám mục Olais Magnus ở Upsal (Thụy Điển) vào năm 1555 đã viết trong cuốn “Lịch sử loài rắn”: Thì rắn biển có hình dạng của một con rắn khổng lồ, mình có khoang và có vảy đang lao tới một chiếc thuyền ba buồm. Và Conrad Gesner (1560) cũng đã đề cập tương tự loài rắn khổng lồ như trên trong một cuốn sách viết về động vật của mình. Pontoppidan trong cuốn Histoire Naturelle de la Norvège (Lịch sử tự nhiên của Na Uy) xuất bản 1754 đã viết: Serpent de mer (rắn biển) nó giống Kình ngư (cetovée) hay hải cẩu (phoque). Năm 1892 giáo sư Oudemans giám đốc vườn bách thú La Haye trong cuốn “The Great Sea Serpent” (Rắn biển khổng lồ), ông đã kết luận: “rắn biển thực sự có tồn tại nhưng hoàn toàn không giống những loài rắn khác trong vườn bách thú, và ông đặt tên là Megophias có nghĩa là con rắn khổng lồ. Theo tiếng Hy Lạp méga có nghĩa là rất lớn (très grant) ophis = loài rắn (serpent). Cũng tương tự như người ta thường gọi là con thuồng luồng. Ông đã mô tả loài khủng long này dài đến trên 20 mét. Đầu và cổ chiếm gần 4 mét, đuôi khoảng 10 mét. Đầu nhỏ hơi giống đầu hải cẩu, miệng ngang và rộng. Mắt lớn đen sáng rực, mũi ở ngay đầu mõm thường phun lên hai cột hơi nước, khi ra ngoài sẽ ngưng tụ ngay làm cho ta có cảm tưởng như rồng phun nước. Có con có râu mép mọc ra hai bên. Thân hình rộng và hơi phẳng ở phần bụng, có bốn chân để bơi lội. Đuôi dài và nhọn, da có lông ngắn bao phủ trừ ở cổ và sống lưng có mỗi bên một lớp vảy cứng nhọn như bờm ngựa. Toàn thân màu đen, lỗ chỗ những đốm vàng ở bụng và lưng. Loài khủng long này di chuyển bằng cách uốn mình như làn sóng, hai cặp chân giúp nó bơi lội một cách nhẹ nhàng, vỗ vào hai bên sườn khi bơi nhanh. Như mọi động vật sống ở biển, loài rắn này rất sợ người và vô hại. Góp phần chứng minh cho công trình nghiên cứu của Oudemans, nhiều tài liệu khác đã ghi nhận: Tờ tin tức Hải Phòng (Le courrier d'Haiphong, 1898) có viết: Đại úy hải quân Pháp Lagrésille chỉ huy pháo thuyền Avatanche đã ba lần thấy một đôi rắn biển ở vịnh Hạ Long và Bái Tử Long cạnh bờ vịnh Bắc Bộ. Ông ta đã tổ chức một cuộc săn đuổi có nhiều người tham dự nhưng không thành công và ông mô tả con vật đó giống như con rắn mà Oudemans đã kết luận. Theo nhà khoa học Pháp Racontra đã nhận xét là người thuyền trưởng đại úy hải quân Lagrésille này không hề biết tí gì về cuốn sách của Oudemans.

Rồng ở ta xưa kia cũng chỉ là con vật tưởng tượng và là biểu tượng của vua. Thế đất của thủ đô vua nhà Lý ở Thăng Long là thế long bàn hổ cứ là rồng phục hổ ngồi. Cũng có lúc gọi là Long Biên - biên giới đất rồng và Long Đỗ là rốn của rồng.

Cái gì của vua đều có từ rồng kèm theo: như Long thuyền là thuyền của vua đi, long bào hay long cổn là áo thêu rồng của vua mặc. Long chủng là nòi giống nhà rồng, con rồng cháu tiên là long phụ tiên mẫu. Tục truyền xưa kia Lạc Long Quân nước ta là con rồng, lấy bà Âu Cơ là con tiên đẻ ra trăm trứng nở ra trăm người con. Đó là giòng giống tiên rồng, tổ tiên ta thừa trước. Chỗ vua ở là long cung, xe vua đi là long giá (hay long xa), sân vua họp triều thần là long đình. Long hành hổ bộ rồng đi cọp bước là tướng của vua đi. Dung mạo của vua là long nhan - mặt rồng; vua lên ngôi ví như rồng bay lên trời gọi là long phi. Long tiềm là rồng dấu mình, vừa chưa lên ngôi. Long ngự thượng tân - cỡi rồng về chầu trời, tức là vua chết. Giường chỗ vua nằm là long sàng. Long môn là cửa rồng, tục truyền xưa con cá chép nào vượt qua được chỗ nước chảy mạnh thì hóa được rồng. Long trảo đâu mâu, cái mũ bằng móng rồng, xưa Triệu Việt Vương vua nước ta được cái móng rồng chế làm chiếc mũ đội khi ra trận, bách chiến bách thắng...

Riêng trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã dành hình ảnh rồng và những lời đẹp đẽ để ca ngợi Từ Hải:

Khi Kiều gặp Từ Hải:

“Thưa rằng lượng cả bao dung,
Tấn Dương được gặp mây
rồng có phen

hoặc:

Trai anh hùng gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi
rồng”.

Bến Nhà Rồng là một bến cảng nằm trên ngã ba sông Sài Gòn, đến đường Nguyễn Tất Thành. Nhà Rồng là nhà có hai con rồng chầu trên nóc. Một tòa nhà lộng lẫy, một công trình cất theo kiến trúc Âu châu, mái nhà kiểu Việt Nam duyên dáng. Nơi đây ngày 5-6-1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước.

Ngôi nhà nầy lúc đầu là viên Tổng đại diện Messageries Maritimes - hãng vận tải đường biển của Pháp, xây cất lên tới hai triệu Franc vàng. Ngày 3-9-1979 sau 10 năm Bác Hồ mất Thành phố Hồ Chí Minh lấy làm khu lưu niệm Bác, tọa lạc đầu Quận Tư nơi bến cảng tuyệt đẹp giữa lòng thành phố!

Bến nhà Rồng Xuân 2000
Đ.M.T
(132/02-2000)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHAN THANH HẢIDưới thời quân chủ, hầu như ở tất cả các nước phương Đông đều có tục tế giao. Tế giao tức là tổ chức nghi lễ cúng để con người có thể giao tiếp được với trời, đất và các bậc thần linh.

  • LÊ NGUYỄN LƯUI. QUAN NIỆM VỀ SỐNG CHẾT

  • HUỲNH ĐÌNH KẾT

    Di tích cảnh quan Huế là một bộ phận cấu thành diện mạo văn hoá Huế. Ngày nay, di tích cảnh quan được quan niệm là loại hình văn hoá vật thể (Tangible culture) trong hàm nghĩa phân biệt với văn hoá phi vật thể (Intangible culture). Dẫu sao cũng chỉ tương đối.

  • LIỄU THƯỢNG VĂNCố đô Huế, một trong những trung tâm văn hoá, lịch sử của Việt Nam. Không những thế, Huế còn là một tổng thể di tích quan trọng, sánh hàng kì quan trên thế giới. Cố đô thơ mộng mang đầy tính nghệ thuật lẫn với cái nét sâu thẳm, ẩn bóng của học thuật Đông phương và truyền thống dân tộc…

  • NGUYỄN HÀO HẢITrong lịch sử, việc làm những đồ nghệ thuật giả chỉ bắt đầu xuất hiện ở những xã hội có đời sống kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần khá phát triển.

  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNChuyện xưaGiờ đây, những vị tham gia biên dịch Mục lục Châu bản Triều Nguyễn (MLCBTN) trong Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam thuộc Viện Đại học Huế những năm sáu mươi của thế kỷ trước, đã lần lượt quy tiên. Chỉ còn lại một người cuối cùng đang dưỡng lão trong một ngôi nhà khá yên tĩnh dưới bóng những lùm cây sớm chiều toả mát trong một xóm ven sông Cẩm Lệ, thuộc huyện Hoà Vang, ngoại ô Đà Nẵng. Đó là bác Ngô Văn Lại, năm nay ngoài tuổi bảy mươi.

  • NGUYỄN HỮU THÔNGCó những câu hỏi đặt ra, Huế mãi không có câu trả lời thuyết phục:* Tại sao mặt hàng lưu niệm trong thị trường du lịch, trong các lễ hội Festival là nghèo nàn đến thế! Sản phẩm thủ công Huế lác đác chen chúc khuất lấp trong lớp lớp hàng Trung Quốc và các tỉnh khác trong nước?* Tại sao trong quá trình trùng tu, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lại phải mời thợ từ "Đàng Ngoài" trong nhiều khâu kỹ thuật từ sơn, thếp, mộc, làm ngói men, gạch bát tràng...?* Tại sao nhà phục chế Trịnh Bách lại phải sống ở Hà Nội, để gửi vào Huế những tấm long bào, long cổn, hia, mão và kể cả những phiên bản phục chế men lam thời Nguyễn?...

  • HOÀNG ĐẠO KÍNHVăn hoá xứ Huế là một hiện tượng: sinh sôi và thịnh vượng trong khoảng thời gian và không gian địa lý hạn hẹp. Cả hai nhân tố, vật thể lẫn phi vật thể, đều kịp đạt đến trình độ cao và thấm đậm những cái riêng, so với các thời kỳ lịch sử trước đó và so với các miền đất khác. Di sản văn hoá xứ Huế không chỉ phong phú, không chỉ đặc sắc, mà còn kiệt xuất, bởi nó sở hữu rất nhiều những cái duy nhất.

  • BEATRICE KALDUN         (Nhân viên chương trình Văn hoá của UNESCO tại Bangkok)Xin chào quý vị đại biểu!Hôm nay, tôi xin bày tỏ sự vui mừng khi có mặt tại đây, đại diện cho Ngài Richard Engelhardt, Cố vấn Văn hóa khu vực châu Á - Thái Bình Dương tham gia cuộc Hội thảo về vấn đề bảo tồn và phát triển hội nhập của Huế, một trong những di sản quý giá nhất của Việt Nam và Thế giới.

  • PHAN THUẬN ANSự quan hệ công tác giữa UNESCO với Việt Nam đã bắt đầu có từ hơn 50 năm về trước. Nhưng, sự hợp tác chặt chẽ để mang lại những hiệu quả thiết thực và hữu ích cụ thể thì chỉ mới diễn ra trong vòng vài chục năm trở lại đây. Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Bộ Văn hóa Thông tin nước chủ nhà đã đóng góp những vai trò xúc tác quan trọng trong mối quan hệ làm việc giữa tổ chức UNESCO đóng tại Paris và các quan chức Việt Nam ở những tỉnh có di sản văn hóa và di sản thiên nhiên nổi bật.

  • PHAN TIẾN DŨNGHuế một vùng non sông kỳ tú, với sự sáng tạo của con người đã lưu giữ trong lòng mình những tài sản vô cùng quý giá. Một trong những giá trị nổi bật mang tính toàn cầu là Quần thể Di tích Huế đã được công nhận vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới (World Heritage List) ngày 11-12-1993. Bên cạnh đó, Huế còn là hội điểm về những di sản vật thể vừa phong phú vừa đa dạng. Từ mảnh đất này đã hình thành nên những phong cách, tạo nên nhiều loại hình nghệ thuật, đã sinh thành nhiều tài năng, đã hội tụ nhiều danh nhân để góp phần nên một Huế vừa mang đặc trưng bản sắc Việt Nam, vừa có sắc thái riêng của một vùng đất Cố đô.

  • NGUYỄN VĂN MỄ                    (Trích)Huế - thành phố lịch sử, một trung tâm văn hóa du lịch, là vùng đất có bề dày văn hóa với những tầng văn hóa khác nhau: di chỉ Khảo cổ học thời Tiền, Sơ sử; các dấu tích của văn hóa Sa Huỳnh; văn hóa Chămpa; văn hóa Đại Việt... và vô cùng quan trọng là hệ thống di tích Cố đô được xây dựng dưới vương triều Nguyễn.

  • LƯU TRẦN TIÊUHiếm có một miền đất nào mà ở đó những giá trị văn hóa lại đậm đặc, phong phú, đa dạng và đặc sắc như ở Huế. Từ góc nhìn địa - chính trị - văn hóa, xứ Huế xưa như là một vị trí chiến lược trọng yếu, vừa là cầu nối, vùng đất mở, vừa là nơi diễn ra sự chồng lấn, dung hợp, tiếp biến các vùng văn hóa, các dòng văn hóa để tạo dựng thành một trung tâm văn hóa trên cái nền chung của văn hóa Việt Nam, lóng lánh những nét riêng đặc sắc của mình.

  • NGUYỄN QUỐC HÙNGNăm nay, chúng ta kỷ niệm 10 năm Quần thể Di tích Kiến trúc Huế được ghi vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới của UNESCO, 10 năm với rất nhiều thành tựu đổi thay. Nhớ lại chỉ sau 5 năm trở thành Di sản Văn hóa Thế giới, Tiến sĩ Richard Engelhardt chuyên gia về văn hóa khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO đã mạnh dạn tuyên bố: “tình trạng cứu nguy khẩn cấp của khu di tích Huế đã qua đi” và “chúng ta chuyển từ giai đoạn khẩn cấp sang giai đoạn ổn định trong chiến dịch vận động bảo tồn di tích Huế”(1)

  • NGUYỄN KHOA ĐIỀMTrong các di sản văn hoá ở nước ta, Huế giữ một vị trí đặc biệt. Chính vì thế mà ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giữa bộn bề công việc, Đảng và Nhà nước ta vẫn dành cho di sản văn hoá Huế sự quan tâm thích đáng. Dù chưa tập hợp được hồ sơ đầy đủ, chưa có được nguồn kinh phí thoả đáng, nhưng từ năm 1979, Nhà nước ta đã có văn bản đặc cách quy định việc bảo vệ di tích thành nội Huế.

  • PHÙNG PHUCách đây vừa tròn 10 năm, ngày 11 tháng 12 năm 1993 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng đối với Huế và với cả nền văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam: Quần thể Di tích Cố đô Huế đã chính thức được UNESCO ghi tên vào danh mục Di sản Văn hoá Thế giới với dòng chữ “Ghi tên vào danh mục này là công nhận giá trị nổi bật toàn cầu của một tài sản văn hoá hoặc thiên nhiên để được bảo vệ vì lợi ích của nhân loại”. Lịch sử vùng đất Phú Xuân- Huế với Di sản Văn hóa Thế giới đầu tiên của Việt Nam mở ra một trang mới, giang rộng vòng tay đón bè bạn trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu và truyền đạt kinh nghiệm trong công việc bảo tồn và phát huy giá trị.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCSau Hiệp định Paris năm 1973, Thành uỷ Huế chủ trương phải xây dựng thêm các tổ chức cách mạng biến tướng để tập hợp lực lượng trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên ở nội thành; tạo cho được những hoạt động công khai, hợp pháp nhằm thu hút quần chúng ở vùng địch tạm chiếm hướng đến mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, đòi dân sinh, dân chủ, tiến tới đòi thi hành Hiệp định Paris.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCCách đây gần tròn 50 năm, từ Đại hội Anh hùng Chiến sĩ Thi đua lần thứ 3 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động chiến dịch “Vì miền Nam ruột thịt”. Thực hiện chủ trương nầy, năm 1957 Bộ Văn hoá và Thư viện Quốc gia Việt Nam đã chính thức chỉ đạo 26 thư viện các tỉnh và thành phố ở miền Bắc xây dựng trong lòng mỗi thư viện một “Thư viện Kết nghĩa” vì miền Nam ruột thịt theo quan hệ kết nghĩa giữa các tỉnh, thành Bắc-Nam.

  • PHAN THANH HẢISông Hương là báu vật mà trời đất đã ban tặng cho Huế. Đã tự bao giờ, sông Hương đã được xem là dòng sông của thi ca, nhạc họa, của kiến trúc, nghệ thuật xứ Huế. Đã có nhà văn từng thốt lên: “Nếu một ngày nào đó sông Hương đột nhiên biến mất, thì Huế có còn là Huế nữa không?!”...

  • BỬU ÝMột đất nước có lịch sử lâu đời hẳn nhiên thừa hưởng di sản phong phú và đủ loại.Trước hết, vấn đề di sản không nhất thiết đi đôi với Festival. Di sản có thể nằm  một cõi, mà Festival lại nằm một nơi. Cũng có thể phát huy riêng rẽ, phục vụ quần chúng khác nhau, nhưng cùng chung một trục văn hoá để cùng được bảo tồn và phát huy. Nhưng nếu di sản sánh đôi với Festival thì đó là một cuộc nên duyên như được dành sẵn.