Mùa bông cải với Mẹ

10:53 11/06/2010
PHAN THỊ THU QUỲCách đây trên 80 năm, trên con đường làng ấy, đến tết, dưới hai bụi tre Là Ngà mát mẻ người ta thường đánh bài chòi. Một công tử họ Phan ở làng Đốc Sơ làm trong triều nội với chức Hàn lâm viện Biên tu, và một thiếu nữ họ Bùi con nhà giàu làng Đốc Bưu, ngồi bên chòi thành hai phe. Hễ công tử đi một con bài thì thiếu nữ trúng và ngược lại.

Dược sĩ Phan Thị Thu Quỳ

Dân hai làng xì xào e rằng Bà Nguyệt đã xe tơ cho hai trẻ. Công tử và thiếu nữ là con của hai gia đình có uy tín trong hai làng, họ bắt đầu thương nhau. Các vị lớn trong hai làng đều vun vào, bàn bạc rồi mời một thầy bói đến nhà thiếu nữ bói toán rằng: “Cô con gái đến tuổi nên gả chồng để bảo vệ tính mạng”. Cha mẹ cô đã biết chuyện của con gái mình với chàng công tử họ Phan, nên rất lo lắng, vì con mình đài các, có người hầu hạ mà về làm dâu một nhà có học nhưng không giàu thì sẽ khổ cực nên muốn cản ngăn con gái. Rồi một đêm, bà mẹ nằm chiêm bao thấy một ông Tiên râu tóc bạc phơ quở trách: “Sao không gả con gái đi, ta sẽ bắt nó theo ta”. Ông bà nhà giàu hoảng sợ đành phải bằng lòng gả con khi nhà họ Phan cầu hôn con gái mình cho chàng công tử. Lúc gần đám cưới, ông Tiên nọ lại hiện lên bảo: “Nó đi lấy chồng nhưng phải đem theo một đứa con về nhà chồng”. Ôi! Sao ông Tiên dạy bảo chi kỳ lạ? Chưa về nhà chồng mà lại có con đi theo? Ông bà nhà giàu đành phải đi xin một đứa bé 5 tuổi làm con nuôi của tiểu thư để dắt theo cùng ngày cưới chồng. Cả hai làng Đức Bưu họ Bùi, Đốc Sơ họ Phan dự lễ cưới một tuần lễ, một đám cưới đầy đủ nghi lễ ngày xưa mà lớn nhất vùng đấy từ trước đến nay.

Tiểu thư về nhà chồng cùng với con gái nuôi 5 tuổi. Hai mẹ con hì hục chỉ nấu cơm sáng sớm cho chồng đi làm mà bị khét phải bảo chồng nhịn đói. Vì có người hầu hạ đâu mó tay làm gì mà biết nấu cơm! Ông bà họ Bùi biết trước việc này sẽ xẩy ra, cho nên phải mua cái vườn giáp hai làng, với giá đất gấp 5 lần thị trường để cho gia đình con gái vì sắp có con đầu lòng, mà đón cháu ngoại để khỏi phải làm dâu nhà chồng. Ông tự tay thiết kế chỉ huy mời thợ giỏi chạm trổ để làm một nhà rường rất đẹp cho con gái. Từ đó tiểu thư làm mẹ lúc 19 tuổi, công tử làm cha lúc 23 tuổi. Hằng ngày có xe kéo đưa công tử đi làm. Công tử đã đổi sang làm Toà Khâm sứ với chức Phán toà, không còn làm trong triều nội. Sanh con đầu lòng là gái, sanh đứa thứ hai là trai, tiểu thư là con đầu bên họ Bùi, công tử cũng là con đầu bên họ Phan, nên cháu nội ngoại ra đời đều là bậc anh chị lớn nhất của 2 gia tộc. Cả hai bên nội ngoại đều quý cháu, cưng cháu, nuôi dạy kỹ lưỡng rồi cho cháu vào trường học ngay khi đến tuổi.

Để gần trường học của hai con, ông Phán phải tạm dời chỗ ở. Ông mướn một nhà ở đường Lê Lợi trên bờ Sông Hương. Không ai biết, bề ngoài ông Phán là công chức của Tây rất được tín nhiệm mà bên trong ông là một người cách mạng tiền khởi nghĩa, bởi trường Quốc Học đã dạy cho ông trở thành một trí thức yêu nước. Đến ngày khởi nghĩa tháng Tám ông lên đường theo cách mạng. Từ đó người vợ trẻ họ Bùi đã là một bà mẹ của sáu con nhỏ ở lại quê nhà (năm con đẻ và một con nuôi).

Thừa Thiên Huế hồi ấy, trước sân mọi nhà thường là một vườn bông cải vàng vào dịp gần Tết. Người mẹ trẻ ngồi tỉa cải đã có 4 lá để nấu canh cá cơm bạc vào ngày sắp hết thu. Mẹ hái cải để nấu canh, xào thịt bò. Mẹ nhổ cải có ngồng để làm dưa chua ăn với thịt luộc vào những ngày xuân đến.

Nhưng rồi một mùa xuân đến, cũng vào dịp bông cải vàng nở rộ, người con gái lớn của mẹ mới 16 tuổi, là trụ cột của gia đình đã theo lý tưởng của cha. Cô tần ngần bên luống cải như một vườn hoa vàng rực, rồi ra đi từ đó đến 25 năm sau mới quay về. Rồi mùa bông cải khác đã đến, mẹ có tin vui. Mẹ kể rằng: ba con đi lâu ra đất cụ Hồ theo cách mạng, đêm ấy có người đưa thư báo ba con đã về Thừa Thiên. Mẹ chờ đón ba con về trong mùa cải, nhưng chờ mãi đến một đêm, người đưa thư đến đón mẹ lên La Chữ, ba con không về nhà được vì gần đồn lính Tây.

Vậy là mẹ không khoe được vườn cải với cha.

Thế rồi mùa bông cải sau lại đến. Mẹ vẫn chờ đợi cha. Mẹ để cải già có trái nâu nâu, rồi chà ra có hột cất vào chai kín để dành năm sau. Mùa thu đến khi hết lụt, mẹ thuê người gánh đất và tro đổ lên lớp mỏng, mẹ vãi hột cải lên. Mưa phùn xứ Huế thay người tưới cây. Hạt mưa li ti bay phất phơ giữa trời thu dịu dịu. Mẹ chờ cha đã qua mấy mùa cải mà cha vẫn chưa về.

Mùa cải này mẹ trông thư cha mà không có! Mẹ buồn mẹ lo. Rồi, một bức điện tín nhỏ đến. Ôi, đó là nguồn tin như trời long đất lở. Cha đã hy sinh sau trận càn quét của giặc Pháp lên chiến khu Dương Hoà!

Hai con lớn của mẹ đã ra học ngoài Bắc. Mẹ và ba con nhỏ làm sao đến được chiến khu để đưa cha về nơi chín suối. Những ngày tháng âm u đó mẹ cố sống vì các con. Ban ngày mẹ cố nở nụ cười trước xóm làng, trước chính quyền địa phương đang miệt thị mẹ. Mẹ cố giấu kín nỗi lòng đang quặn đau. Ban đêm đóng kín cửa, mẹ thắp nhang vái lạy cha trong nước mắt tuôn chảy đau thương. Mẹ vẫn chờ. Mẹ chờ các con lớn ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ về bù đắp. Có ai biết lòng mẹ cô đơn, đau đớn, ngậm ngùi. Mẹ cố bám vườn bông cải. Ngoại giúp mẹ, cậu giúp mẹ cho ba con nhỏ vào trường làng. Thầy hiệu rưởng chăm sóc an ủi ba đứa con của mẹ học qua những lớp vỡ lòng trường tiểu học để đến trường trung học.

Ngày hòa bình một nửa đất nước, quê mẹ không được độc lập vì bên kia vĩ tuyến 17. Lúc ấy mẹ vẫn còn có mùa bông cải. Nhưng mẹ định đưa ba đứa con nhỏ ra Hà Nội sống với miền Bắc độc lập, với ba đứa con lớn. Nhưng kẻ thù đã bắt giam người dẫn đường. Thế là thêm một lần thất vọng, mẹ lại về với vườn cải bông vàng quê hương. Ngày đêm mẹ thổn thức với cảnh chồng hy sinh, con ở xa, cảnh nghèo xơ xác. Mẹ thấm thía rằng, từ đây đất nước bị chia cắt làm hai.

Cũng lại mùa cải đã đầy hột giống. Trước nhà cải xum xuê trĩu nặng cây. Mẹ định hái giống dành cho mùa sau, nhưng, xe bọc thép về làng rít chặt bánh xe vào sân nghiền nát cả vườn cải. Mẹ bị mất hột giống cải từ đó. Họ bắt mẹ lên xe. Họ giam mẹ vào tù, mẹ mới biết đó là chính sách của chính quyền Sài Gòn trả thù những gia đình có chồng con đi làm cách mạng. Họ tra hỏi, mẹ chỉ một lời “không biết”. Thảm thương thay, có ba con nhỏ, đứa lớn trên 10 tuổi, đứa bé 9 tuổi, lếch thếch lang thang bới cơm cho mẹ ở nhà lao. Ôi, lúc nầy nếu mẹ không có người em ruột thì các con sẽ ra sao?

Những ngày trong lao tù, mẹ nhớ quê mẹ có con sông nhỏ nước trong vắt chảy xuyên hai làng, làng nội và làng ngoại của con mẹ.Quê hương mẹ đẹp lắm, bờ tre, bụi hóp cây bàng ven sông, ngày mùa tấp nập gặt hái đem về xếp trên sân cho trâu đạp lúa. Tiếng hò văng vẳng của người dắt trâu đi vòng trên lúa. Tiếng hò đáp lại của những cô gái trẻ sàng sảy lúa bên sân giữa đêm khuya tĩnh mịch. Tiếng hò quê hương còn quây quần trong tim mẹ. Cảnh đau lòng chồng hy sinh, con đi xa, với cảnh tù đày của mẹ, cảnh nghèo bao phủ. Mẹ chỉ có một con đường là phải vùng dậy cứng cáp nuôi dạy các con. Ngoài Bắc xã hội chủ nghĩa mẹ sẽ về ba đứa, ba đứa trong này mẹ sẽ nuôi nấng cho học hành đến nơi đến chốn, là cuộc sống của mẹ còn lại từ đây. Không moi gì được ở người mẹ kiên cường, nhà cầm quyền Sài Gòn phải thả mẹ ra khỏi tù. Trở về làng thì hạt giống cải đã bị bánh xe kẻ thù nghiền nát nên không còn vườn cải nữa. Lúc này những người như mẹ bị chính quyền miệt thị, bọn mật thám dò xét, bà con thì sợ liên lụy. Quê hương là một màn đen che phủ cả đêm lẫn ngày. Nhưng mẹ đã vùng lên để đổi đời! Mẹ nhận nuôi cán bộ cách mạng, với hầm bí mật trong nhà. Mẹ cố bình tĩnh vui vẻ che mặt mật thám. Cuộc sống của mẹ cũng bi đát, hằng tuần phải khai báo, hằng ngày phải tiếp xúc với những người đang trái ngược lý tưởng của chồng. Rồi đau lòng, mẹ cắt bớt hai phía vườn để bán cùng với cái nhà rường bề thế là kỷ niệm yêu thương của ngoại khi mẹ lấy chồng. Có món tiền, mẹ mang ba đứa con nhỏ đi khỏi nơi chôn nhau cắt rốn. Vô Đà Lạt, mẹ ở giúp việc cho người anh họ bên chồng để có tiền cho ba đứa con ăn học.

Từ một tiểu thư có người hầu hạ, có hai thầy dạy học chữ nho và một thầy dạy chữ quốc ngữ, đến đây mẹ trở thành một người giúp việc. Mẹ vẫn không than phiền chồng, sao đi làm cách mạng để vợ con khổ. Thế rồi ba đứa con, hai trai một gái đều học đến tú tài và có nghề nghiệp vững vàng để nuôi mẹ và trả nợ cho người bác họ. Mẹ vẫn hướng về lý tưởng của chồng.

Ba đứa con, đứa ở Ban Mê Thuột, đứa ở Sài Gòn, đứa ở Đà Nẵng, mẹ cứ đi thăm và đón cháu nội, cháu ngoại ra đời. Mẹ không còn khổ cực thiếu thốn vì con mẹ là những đứa siêng năng, học giỏi, có nghề làm ăn đàng hoàng. Mẹ vẫn mong gặp ba đứa con ở miền Bắc đã xa mẹ gần 25 năm trời mà không có tin tức do đất nước bị chia cắt. Ngày vui của toàn dân và của mẹ đã đến sau ngày 30-4-1975. Ba con của mẹ ở bắc đã về. Một đứa trai là kỹ sư thương phẩm, đứa gái là dược sĩ, đứa con nuôi là cán bộ công đoàn. Gặp ba con mẹ nói: các con về quý hơn lá ngọc cành vàng trong cung điện, quý hơn ngọc thạch, kim cương. Con gái và rể đón mẹ vô Sài Gòn, rồi tất cả con của mẹ đều về sinh sống ở Sài Gòn quanh mẹ sau ngày thống nhất. Rồi mẹ và các con về thăm quê, góp tiền sửa nhà thờ họ Phan. Mẹ trở lại thăm mảnh vườn xưa đã bỏ hoang.

Cứ mỗi tháng mẹ được nhận tiền chính sách của cha là liệt sĩ, lúc thì mẹ vui vì hãnh diện, có lúc mẹ buồn ngồi khóc thật tội nghiệp. Các con quá thương yêu mẹ không biết lấy chi bù đắp được. Năm mẹ 84 tuổi bị một cơn nhồi máu cơ tim cấp cứu trong bệnh viện 25 ngày rồi qua khỏi. Nhờ thầy thuốc, nhờ con cái đã lo cho mẹ kéo dài thêm tuổi thọ giữa lúc mẹ đã già yếu. Thế mà kéo dài được đến 11 năm, cho đến năm 95 tuổi mẹ mới ra đi vĩnh viễn.

Mẹ ra đi nhẹ nhàng như một giấc ngủ dài. Con cháu tiễn mẹ. Mẹ được chôn cất vào Nghĩa trang thành phố. Bên cạnh mẹ, con trai mẹ đã lấy đất ở mộ cha trên chiến khu Dương Hoà chôn cạnh mẹ thành một mộ đôi uy nghi cùng với cả nghĩa trang thành phố gồm những anh hùng hào kiệt của đất nước đã hy sinh.

Nhà và đất ngoại cho, mẹ bán bớt 2 sào, chừa lại 8 sào, nhà rường mẹ cũng đã bán để nuôi ba em đi học. Còn lại cái nền cao để từ 1965. Vườn và cái nền nhà hoang vắng trên 40 năm thật đau lòng, vì nhìn vô là gợi lại những ngày gia đình còn đoàn tụ, no ấm hạnh phúc. Cho đến 2010, đất nước đã hàn gắn vết thương chiến tranh, gia đình cũng phục hồi được cuộc sống, con cháu của mẹ làm một cái nhà trên nền cũ mẹ đã chừa lại. Cái nhà nhỏ khiêm tốn, nhưng mang ý nghĩa sâu đậm để tỏ lòng nhớ đến ngoại, đến cha mẹ và cậu mợ. Các con cháu gọi là nhà tưởng niệm. Con cháu kỵ mẹ trên cái nền nhà của mẹ, đã xây nhà mới. Trưởng họ Phan bên chồng phong cho mẹ “3 cao” khi còn sống, đó là cao niên, cao trí, và cao trung hiếu. Nhìn hình mẹ cùng với cha trên mộ đôi tại Nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh, con cháu rất hãnh diện, và đã ghi 4 câu thơ:

Cha đã hy sinh cao cả
Mẹ trung hậu đảm đang
Cha mẹ là hai ngôi sao sáng
Chiếu rọi sáng ngời cho con cháu noi theo.

Ngày nay về quê, sân các nhà đã đúc bê tông không còn vườn bông cải. Nhưng hai bên bờ sông Hương ngược núi đến xã Dương Hòa trên chiến khu xưa và ở chân phía ven núi vẫn có những vườn bông cải vàng rực rỡ. Tuy mẹ không còn nhưng con cháu vẫn thấy mẹ ngồi trên luống bông cải, nở nụ cười đón con trở về quê hương.

TPHCM tháng 3 2010
Kính dâng tặng Mẹ nhân kỷ niệm 5 năm
Mẹ đi xa vĩnh viễn.

P.T.T.Q
(255/5-10)




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • LÊ KHAI           Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ.  Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.

  • HÀ KHÁNH LINH            Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

  • TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.

  • NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.

  • PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước  vào đời.

  • NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

  • TRẦN HOÀI                  Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...

  • LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.

  • NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.

  • TỐ HỮU        Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời

  • VÕ MẠNH LẬP            Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                         Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.

  • NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.

  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).