VÕ TRIỀU SƠN
Voi đang ngày càng hiếm hoi, vậy mà ngày xưa, nó từng xuất hiện ở Huế hàng ngàn thớt voi trong kinh thành. Nhiều tư liệu xưa đã đề cập đến chuyện nuôi voi trên đất Cố đô xưa.
Cuốn “Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX qua hồi ức Michel Đức Chaigneau” (Lê Đức Quang - Trần Đình Hằng Nxb. Thuận Hóa, 2016) đã ghi lại một số hồi ức của người đàn ông Pháp từng sinh ra lớn lên tại Huế ngày xưa ấy, trong đó có hình ảnh của voi. Ông cho biết, voi thuộc lực lượng quân bị của người An Nam. Thời Minh Mạng, lực lượng này lên đến 800 con, trong đó 130 con phục vụ ở Hoàng thành. Cứ một con voi thì có 4 người coi sóc, trong đó có những người phải lên núi hái lá cho voi ăn, không đủ thì phải ra vùng ven kinh thành để lấy thêm lá chuối. Ông kể lại chuyện voi bảo vệ một thằng bé con vị quản tượng: “Tôi không bao giờ quên một lần đi thăm trại nuôi voi ở Huế. Khi vào một khu chuồng thì thấy một chú voi bị cột dây, gần voi là một chú bé chập chững bước đi. Tôi muốn đến với đứa bé nhưng giật mình sửng sốt khi liền nghe một tiếng kêu như cằn nhằn, đồng thời lại nhận luôn vào mặt một cái phun nước từ vòi con vật…”. Cũng theo ông, “dù thịt voi rất dai, người An Nam cũng không chê một số bộ phận, khi có dịp thì sẵn sàng thưởng thức. Nhưng dịp để được ăn thịt voi thật là hiếm, chỉ lính tráng là có cơ hội. Tôi nhớ đã có lần nếm thử món làm từ bàn chân voi, mà tôi thấy cũng không tệ. Thực tế do hôm đó đói bụng ngon miệng nên khẩu vị của tôi trở nên dễ tính hơn”…
*
Ngày đông, tiết hàn đọc lại vài đoạn hồi ký “Lý lịch sự vụ” của Nguyễn Đức Xuyên, do nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh dịch và chú giải, thấy có nhắc nhiều chuyện thú vị liên quan đến việc nuôi voi công, từ việc cống voi, dùng voi trong các kỳ tế lễ cho đến việc người xưa nuôi voi sao rất chi công cần mẫn cán, mà quan điểm của vua trong việc nuôi voi công lại rất tăn măn tỉ mỉ vì dân.
Nguyễn Đức Xuyên là hậu duệ đời thứ XV dòng họ Nguyễn, khai canh làng Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Dòng họ ấy vốn có nhiều võ công dưới thời Lê trung hưng. Nguyễn Đức Xuyên vốn có sức khỏe, thiếu thời đã tinh thông võ nghệ, năm 1780 theo tòng quân với Nguyễn Ánh, được làm đội trưởng đội cấm binh bảo vệ chúa. Sau lập nhiều công trạng, được liên tục thăng chức, thường giao việc quản tượng, đến năm Gia Long thứ 7, được làm khâm sai Chưởng tượng quân lãnh tượng chính cai Tào vụ. Vua yêu đến mức “Xuyên có tính hào phóng, chi phí lại rộng, có lập ban tuồng gồm nam bộ, nữ bộ, cơ thiếp cũng xen trong nữ bộ. Vì của dùng không đủ, tâu xin với Thánh tổ cho lãnh bổng năm sau. Vua mệnh ban cho tiền 1000 quan, gạo 1000 phương, và dụ rằng như không đủ thì tâu với trẫm. Nhà nước đối với khanh không hề hà tiện”. Lúc mất, vua rất tiếc, dụ Bộ Lễ rằng: “Xuyên là người trung dũng, thuần phác, phò tá hoàng khảo là Thế tổ Cao hoàng đế dẹp yên họa hoạn, rồi đến thờ trẫm cung kính thành thực ra đạo làm tôi, không ngờ bị bệnh hơn tuần đã không dậy được. Ta nghĩ bậc kỳ cựu, nói đến thì nước mắt rơi. Tặng Đặc tiến Tráng võ tướng quân tả trụ quốc Thái phó, thụy Trung Dũng. Ban cho nhiều gấm đoạn sô sa, tiền, bãi triều 3 ngày. Sai quan dụ tế. Ngày đám tang cũng nghỉ triều 1 ngày, phái binh 1000, 10 thớt voi đưa tiễn...”.
Cuốn hồi ký biên niên “Lý lịch sự vụ” ra đời trong bối cảnh năm 1822, vua Minh Mạng cho các quan từng giữ trọng trách viết lý lịch sự vụ nạp tại Sử quán để làm tài liệu viết sử. Nguyễn Đức Xuyên đã viết hồi ký, bao quát các công việc liên quan đến công vụ trong suốt 43 năm. Trong đó, có nhiều tài liệu quý liên quan đến nuôi voi công.
Khá nhiều đoạn nhắc đến việc các nơi cống voi, nuôi voi dụng voi, hàng năm được sai hầu cờ mao tiết ra binh tượng mã..., ở đây chỉ xin trích những đoạn được xem là chính yếu. Ví như ngay sau khi thống nhất giang sơn, năm Gia Long thứ hai (1803), vua đã có lệnh: “Nước nhà mới định, các nha nhân mỗi tệ của giặc, thả cho bổn thuộc hiếp mua vật sản trong chợ, và chận các con đường hiểm yếu cướp đoạt của cải người đi đường. Nay nước nhà cũng chỉ có dân mà thôi, làm như thế thời nhân dân không ở yên được. Khanh nên lấy nội dinh từ chánh Vệ úy đến phó đội ngầm đến các chợ tại kinh thành xem xét, phàm tên nào giành giật mua hiếp vật sản trong chợ, và cướp bóc của cải người đi đường, thì bất luận nặng nhẹ, xét ra thực giải nạp lên, tức thì dùng chính pháp để chúng sợ hãi”... Lại ban thêm chỉ dụ liên quan đến việc nuôi voi: “Voi công tại kinh theo hầu cũng vậy, cùng voi công nuôi dưỡng tại các nơi cũng vậy, thời bổn tước đã đinh ninh nghiêm gia cấm tập. Chỉn e khi quân coi ấy cỡi đi ra ngoài vào vườn của dân đạp phá vật hạng của dân. Tất cả tệ đoan đó khó mà tố cáo, vậy phải truyền nên sức cho các xã thôn phường trong hạt biết rõ: Hệ tự hậu các quân voi mà cỡi voi đi lấy cỏ đến dân thôn nào... chúng nó cố lấy thế voi mà chiếm lấy từ một cây tre, bẻ từ một cây măng nhẫn lên, thời dân xã ấy cứ chận bắt trong đặng một thớt voi cho đặng một tên cùng đem nạp...”.
Năm Gia Long thứ sáu (1807), có việc kể về voi tham gia lễ tế Nam Giao: “Tháng 2 ngày 3, sai thần mặc địa triều phục hầu lễ phân hiến tại án thần Tuế nguyệt nhân đại lễ tế Nam Giao. Thần được đem 2 thớt voi ngự, mỗi thớt 10 viên quân, 8 thớt voi hầu, mỗi thớt 6 viên quân, voi xe 1 thớt, 10 viên quân, 10 thớt voi tiền đạo, mỗi thớt 5 viên quân, voi theo sau 10 thớt cũng thế. Mặt tả đàn 20 thớt, mặt sau 16 thớt. Lưu giữ trong hoàng thành 10 thớt. Quan quản tri 1 viên, quân theo voi 50 người. Cộng số voi 87 thớt để phụng hầu lễ Đại Tự như lệ thường...” .
Hay như ngày 17 tháng 5 năm Gia Long thứ chín (1810), cách đây vừa tròn 200 năm, có việc voi nuôi chết hàng loạt, Nguyễn Đức Xuyên tâu: “Ngày 17, thần vì việc voi công ở hai trấn Thanh Hoa, Nghệ An phần nhiều bạo tử, viên phân quản cho là thời dịch. Thần suy nghĩ kỹ cho rằng hai trấn đó thường có bọn đầu sỏ giặc xuất hiện mà e ngại voi công, nên ngờ bọn đó ngầm bỏ chất độc, việc người cũng nên đề phòng. Thần bèn có văn truyền nghiêm phòng xem kỹ cỏ voi ăn, đề phòng người ngoài vào ra nơi nuôi dưỡng của tàu tượng, từ đó voi chết gấp giảm đi. Thần bèn đem chuyện đó gửi văn thư ra Bắc thành và cho đến trấn Bình Hòa ở trong, để rõ việc mà dự phòng...”.
Năm Gia Long thứ 11 (1812), có những đoạn sau: “Ngày mồng 7 (tháng 5), gặp lễ ninh lăng đức Quốc Hiếu Ninh, hoàng thượng thân hành đưa tiễn. Ban chiếu cho thần coi sóc voi hầu, binh biền, thị vệ hầu đọa ngự. Phàm trước, sau, phải, trái, sai thị vệ, tượng binh phải mười phần kính cẩn”. Ngay cả việc chăm sóc voi vua cũng rất lưu tâm: “Ngày 16 (tháng 5), khâm chỉ chuẩn thần xem xét các vật dụng cần dùng cho voi và thuốc nam, thuốc bắc điều trị cho voi, cần dùng vị nào nhất nhất kê rõ dâng lên ngự lãm. Vâng chỉ chuẩn ban “Kim bửu” làm bằng mà sao lại truyền khắp dinh trấn, phàm có voi công lưu thú trong hạt thì quan sở tại và viên quản tượng cơ chiếu theo tâu để định lệ trong sổ bộ.”
“Tháng 3 ngày mồng 7 (Năm Gia Long thứ 12 (1813), sáu mường thuộc đạo Cam Lộ là Cha Bôn, Thượng Tô, Phá Băng, Xương Khâm, Trầm Bồn và Mường Vang dâng tuế cống 4 thớt voi đực”. “Ngày 19, vua và quan dân nước Cao Miên dâng nạp 88 thớt voi đực, voi cái tại thành Gia Định. Chuẩn cho thành trả bạc công 313 hốt. Voi hạng I cao 6 thước trở lên: 7 thớt, mỗi thớt 5 hốt bạc. Voi hạng II cao 5 thước 3 tấc trở lên: 43 thớt, mỗi thớt 4 hốt bạc... Chọn sai thị tượng nhị về tam đội Cai đội Loan Đức hầu Lê Văn Loan, tam vệ tam đội Cai đội Hán Thanh hầu Hồ Văn Đá coi sóc viên quân 3 vệ 1,2,3 cộng 33 người, đóng tại dinh Quảng Nam, 2 cơ Tiền, tả tượng từ đội trưởng đến quân 20 người, đóng tại trấn Bình Định, 2 cơ Định tượng, Kiên tượng từ đội trưởng đến quân 20 người, đóng tại trấn Bình Hòa, có cơ Bình tượng từ đội trưởng đến quân 31 người, cộng lại 140 người đến thành chờ phân bổ cỡi chăn số voi ấy”
“Ngày 27, thần vì voi công thuộc cơ Cường tượng đóng ở Nghệ An phần nhiều bị chết, xin bỏ ngạch Cương tượng cơ, đem bổ viên quân và voi công còn lại vào Dũng tượng trấn đóng tại Nghệ An. Được hoàng thượng chuẩn y tấu”.
Đến năm Minh mệnh thứ nhất (1820), “mùa hạ tháng tư ngày mồng 3, đốc trấn Thanh Hoa là Ngoạn Ngọc hầu Nguyễn Văn Ngoạn dâng biểu nói rằng vào tháng 2 ngày 12, theo các trang trưởng, xã trưởng, tổng trưởng trang Mỹ Quan, xã Na Cầu, tổng Đông Ngạn, huyện Tống Sơn báo có voi rừng phỏng chừng 34 thớt xâm phạm vào xứ Thung Tranh của 2 trang xã... Nguyễn Văn Ngoạn ủy sai cựu Thị nội Tín võ vệ thuộc nội vệ úy Tín Đức hầu dẫn 200 viên quân đem theo thuốc đạn đến nơi vây bắt, bắn chết 28 thớt voi đực cái, lấy được ngà voi 7 chi, nặng 5 yến 3 lạng, bắt sống một thớt voi đực nhỏ, 2 thớt voi cái nhỏ cao 2 thước 4 tấc đến 2 thước 8 tấc mà chưa biết ăn cỏ, cho chăn nuôi tại trấn...”.
Ngày 7 tháng tư năm đó, có việc liên quan đến lễ cúng ở Long Châu miếu (Điện Voi Ré) để cầu an cho voi công, việc đã thành lệ: “Do năm Quý Hợi, thần chiếu theo lệ tiền triều sắm sửa lễ cúng tại Long Châu miếu ở địa phương làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, thường năm vào ngày tốt tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 11, dùng lễ vật 2 heo 2 cổ xôi, 1 long châu để tế. Đến năm Giáp Tý thần đem việc ấy tâu lên được ban chỉ chuẩn phát tiền công 300 quan để sắm đủ tế phẩm. Tháng 8 năm ấy, voi đực là đô đốc Bích bị thiên thời chết, kính vâng chỉ đình không lãnh tiền công nữa. Từ năm ấy đến nay, lệ tế hàng năm cách 1 năm, thần và nội quân các vệ, cơ tượng chia đóng góp tiền đủ lễ vật tam sinh, xôi, hào soạn dâng cúng chư thần linh và sắm sửa lễ tam sinh, xôi hào soạn thiết đàn truy kỵ âm hồn các quân binh nôi quân tử trận ở chiến trường hay bị bệnh chết ở nơi trấn đóng, cầu an cho voi công, đã thành thường lệ”...
Năm Minh Mệnh thứ hai, ngày 28 tháng giêng, vua chỉ dụ: “Phàm các voi công trấn đóng ở các thành, dinh trấn, từ rày về sau có bị thiên thời chết, thì y lệ rút lấy 2 ngà nạp vào kho công. Lại chiếu xét xác nào có công chinh chiến thì mai táng xác ấy. Như thớt nào chưa có công ấy thì mổ xẻ xác ấy lấy xương đùi cẳng mỗi chân 2 đoạn và hàm răng trên dưới 2 bộ lưu lại...”.
Lại có việc viên quản tượng phạm lỗi bị phát: “Nộn tài bá Ngô Văn Nộn ở đội 2 vệ 2 Thị tượng cỡi con voi đực tên Ve được chọn theo hầu Kiến An công, lúc đó công ở tại vườn xã Dương Xuân, đòi đem con voi đó đến, chợt gặp ngự giá đi xem dại trước hoàng thành. Ngô Văn Nộn cỡi voi ấy phạm tất, thần được chỉ chuẩn cho phạt Ngô Văn Nộn 100 roi, truất xuống cấp dưới, không được sung lại vào cỡi voi hầu”...
Những tư liệu kể trên phản ánh khá đầy đủ các việc liên quan đến voi công, đặc biệt là các chuyện thời sự voi tràn về phá thôn ấp, chuyện cơ cấu voi đi tế lễ đàn Nam Giao, chuyện tế lễ Điện Voi Ré... Nhưng cũng qua các chuyện về trách phạt Ngô Văn Nộn, chuyện chỉ dụ cấm lính tượng phá phách hoa màu của dân, cho thấy các vua triều Nguyễn vừa có ý thể hiện quyền uy, vừa có ý vì dân như thế nào...
V.T.S
(SHSDB23/12-2016)
LTS: Đại Học Huế đang ở tuổi 50, một tuổi đời còn ngắn ngủi so với các Đại học lớn của thế giới. Nhưng so với các Đại học trong nước, Đại Học Huế lại có tuổi sánh vai với các Đại học lớn của Việt như ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Trên hành trình phát triển của mình, Đại Học Huế đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, giáo dục, văn hoá ở miền Trung, Tây Nguyên, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho khu vực và cả nước. Nhân dịp kỷ niệm này, TCSH phân công ông Bửu Nam, biên tập viên tạp chí, trao đổi và trò chuyện với PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn, Giám đốc Đại Học Huế. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuộc trò chuyện này.
VÕ ĐẮC KHÔICó một thời người Huế loay hoay đi vỡ núi, phá rừng trồng khoai sắn. Có một thời người Huế tìm cách mở cảng nước sâu để vươn ra biển lớn, hay đón những con tàu viễn xứ xa xôi. Cả nước, các tỉnh thành láng giềng như Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng cũng đều ra sức làm như thế, sao ta có thể ngồi yên?
TRẦN ĐÌNH SƠNĐất Việt là cái nôi sinh trưởng của cây trà và người Việt biết dùng trà làm thức uống thông thường, lễ phẩm cúng tế, dâng tặng, ban thưởng từ hàng ngàn năm nay.
NGUYỄN XUÂN HOÀNGTừng là đất Kẻ Chợ – kinh đô triều Nguyễn xưa, ẩm thực Huế dựa trên nền tảng triết lý của cái đẹp, món ăn món uống phải ngon nhưng nhất thiết phải đẹp, vị phải đi với mỹ, thiếu mỹ thì không còn vị nữa.
TRƯƠNG THỊ CÚCTrong vô vàn những bài thơ viết về Huế, hai câu thơ của Phan Huyền Thư dễ làm chúng ta giật mình:Muốn thì thầm vuốt ve Huế thật khẽLại sợ chạm vào nơi nhạy cảm của cơ thể Việt Nam (Huế)
FRED MARCHANT(*) Trong chuyến viếng thăm Huế lần thứ hai vào năm 1997, tôi làm một bài thơ đã đăng trong tập thứ hai của tôi, Thuyền đầy trăng (Full Moon Boat). Bối cảnh bài thơ là một địa điểm khảo cổ nổi danh ở Huế. Có thể nói là bài thơ này thực sự ra đời (dù lúc đó tôi không biết) khi nhà thơ Võ Quê đề nghị với tôi và các bạn trong đoàn ghé thăm Đàn Nam Giao trước khi đi ăn tối ở một quán ăn sau Hoàng Thành bên kia sông Hương.
TRẦN KIÊM ĐOÀNDu khách là người trong mắt nhìn và qua cảm nhận của chính người đó.
TRƯƠNG THỊ CÚCTừ buổi hồng hoang của lịch sử, hình ảnh ban đầu của xứ Huế chỉ thấp thoáng ẩn hiện qua mấy trang huyền sử của đất nước Trung Hoa cổ đại. Tài liệu thư tịch cổ của Trung Quốc đã kể lại từ năm Mậu Thân đời vua Đường Nghiêu (2353 năm trước Công nguyên), xứ Việt Thường ở phương Nam đã đến hiến tặng vua Nghiêu con rùa thần từng sống qua ngàn năm tuổi.
HỒ ĐĂNG THANH NGỌCCó một hiện tượng lịch sử lý thú, ở những nơi khác vốn dĩ bình thường nhưng ở Huế theo tôi là rất đặc biệt, đó là tại mảnh đất này sau hơn ba mươi năm ngày đất nước thống nhất, đã hình thành một thế hệ nữ doanh nhân thành đạt giữa chốn thương trường.
MINH TÂMTôi nghe bà con bán tôm ở chợ Bến Ngự kháo nhau: Dân nuôi tôm phá Tam Giang đã xây miếu thờ “Ông tổ nghề” của mình gần chục năm rồi. Nghe nói miếu thờ thiêng lắm, nên bà con suốt ngày hương khói, cả những người nuôi tôm ở tận Phú Lộc, dân buôn tôm ở Huế cũng lặn lội vượt Phá Tam Giang lễ bái tổ nghề.
PHẠM THỊ ANH NGA"Hiểu biết những người khác không chỉ đơn giản là một con đường có thể dẫn đến hiểu biết bản thân: nó là con đường duy nhất" (Tzvetan Todorov)
TRẦN ĐỨC ANH SƠNSau hơn 1,5 thế kỷ được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Đàng Trong, đến cuối thế kỷ XVIII, Huế trở thành kinh đô vương triều Tây Sơn (1788 - 1801) và sau đó là kinh đô của vương triều Nguyễn (1802 - 1945).
TRƯƠNG THỊ CÚC Sông Hương là một trong những nét đẹp tiêu biểu của thiên nhiên xứ Huế. Sông là hợp lưu của hai nguồn Hữu Trạch, Tả Trạch, chảy qua vùng đá hoa cương cuồn cuộn ghềnh thác, đổ dốc từ độ cao 900 mét đầu nguồn Hữu trạch, 600 mét đầu nguồn Tả trạch, vượt 55 ghềnh thác của nguồn hữu, 14 ghềnh thác của nguồn tả, chảy qua nhiều vùng địa chất, uốn mình theo núi đồi trùng điệp của Trường Sơn để gặp nhau ở ngã ba Bàng Lãng, êm ả đi vào thành phố, hợp lưu với sông Bồ ở Ngã Ba Sình và dồn nước về phá Tam Giang, đổ ra cửa biển Thuận An.
Chúng ta biết rằng trong thời đại ngày nay, khi đầu tư xây dựng những cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầu cao của người đi du lịch, văn hóa ẩm thực được xem như là cánh cửa đầu tiên được mở ra để thu hút du khách.
Chúng tôi đi thăm đầm chim Quảng Thái, theo ông Trần Giải, Phó chủ tịch huyện Quảng Điền.
I. Chúng tôi xin tạm hiểu như sau về văn hóa Huế. Đó là văn hóa Đại Việt vững bền ở Thăng Long và Đàng Ngoài chuyển vào Thuận Hóa - Phú Xuân.
Thúng mủng Bao La đem ra đựng bột. Chiếu Bình Định tốt lắm ai ơi. Tạm tiền mua lấy vài đôi. Dành khi hiếu sự trải côi giường Lào.
LTS: Tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong hiện đang dạy tại trường đại học Kent State thuộc tiểu bang Ohio, . Đây là một trong những bài trích ra từ cuốn Hồi ký âm nhạc, gồm những bài viết về kinh nghiệm bản thân cùng cảm tưởng trong suốt quá trình đi đó đây, lên núi xuống biển, từ Bắc chí Nam của ông để sưu tầm về nhạc dân tộc. Được sự đồng ý của tác giả, TCSH xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Từ sau ngày giải phóng đến nay, tôi chưa một lần gặp lại Anh hùng Vai và Anh hùng Kan Lịch. Về Huế hoài nhưng lên A Lưới lại không đủ giờ và không dễ dàng gì. Những năm trước, đường về A Lưới còn chật hẹp, lổm chổm đất đá, lại hay sạt lở... đi về rất khó khăn và phải mất vài ngày. Đến Huế vào mùa khô thì lại ít thời giờ. Về Huế dịp mùa mưa thì đường về A Lưới luôn tắc nghẽn.
Tế lễ, giỗ chạp, cúng kỵ gắn với người Huế rất sâu. Hình như nhạc lễ cổ truyền xứ Huế cũng hình thành từ đó. Món ăn Huế được chăm chút, gọt tỉa để trở thành một thứ nghệ thuật ẩm thực cũng từ đó. Màu sắc, mẫu mã của nhiều loại trang phục Huế cũng từ đó mà được hoàn chỉnh, nâng cao. Cả những phong cách sinh hoạt nói năng, thưa gởi, đứng ngồi, mời trà, rót rượu... đầy ý tứ của vùng đất nầy cũng đi từ những buổi cúng giỗ đượm mùi hương trầm.