Peter Bichsel sinh tại Lucerne (Thụy Sĩ) ngày 24 tháng 3 năm 1935, là con của một người thợ thủ công. Ông là nhà giáo dạy tại một trường tiểu học cho tới năm 1968.
Ảnh: internet
Ông nổi tiếng với tập truyện ngắn đầu tiên “And really Frau Blum would very much like to meet the Milkman/ Và thật sự Frau Blum rất muốn gặp người bán sữa” (1964); sau đó ông được mời gia nhập vào Nhóm 47 (Group 47), là Hiệp hội Nhà văn Đức do Hans Werner Richter làm chủ tịch; và tiểu thuyết đầu tiên của ông The Seasons/ Các mùa (1965) được giải thưởng Group 47 Prize năm 1965. Từ 1985, ông là thành viên của học viện Ngôn ngữ và Văn chương Đức tại Darmstadt. Bichsel sống ở Bellach thuộc bang Solothurn. Ông đã có nhiều giải thưởng văn chương, trong số đó là Great Schiller Prize và Gottfried Keller Prize. |
PETER BICHSEL
Tôi muốn kể một câu chuyện về một ông già, một người không còn nói một lời nào, có một khuôn mặt mệt mỏi, quá mệt để cười và quá mệt để giận. Ông sống ở một thị trấn nhỏ, ở cuối một khu phố hay gần một giao lộ. Gần như không có gì quan trọng để miêu tả ông, khó mà phân biệt ông với những người khác. Ông đội một cái mũ màu xám, mặc quần xám, áo vét xám và áo khoác dài mùa đông màu xám, và ông có cái cổ gầy da nhăn và khô, những cái cổ áo sơ mi trắng của ông quá rộng đối với ông.
Phòng ông ở tầng trên cùng của tòa nhà, có lẽ ông đã từng lập gia đình và có con, có lẽ ông từng sống ở một thị trấn khác. Chắc chắn ông từng là một đứa trẻ, nhưng vào thời mà trẻ con được cho ăn mặc như những người lớn. Người ta có thể thấy chúng như thế trong quyển an bum ảnh của bà nội. Trong phòng của ông có hai cái ghế dựa, một cái bàn, một tấm thảm, một cái giường và một tủ quần áo. Trên cái bàn nhỏ là cái đồng hồ báo thức, kế bên đồng hồ báo thức là chồng báo cũ và cuốn an bum ảnh, trên tường treo một tấm gương và một bức tranh.
Ông già sẽ đi dạo một lần vào buổi sáng và một lần vào buổi chiều, nói vài lời với người hàng xóm của ông, và buổi tối thì ông ngồi ở bàn.
Những việc này không hề thay đổi, luôn là vậy kể cả những ngày chủ nhật. Và khi ông già ngồi ở bàn, ông sẽ nghe tiếng đồng hồ tích tắc, đồng hồ luôn luôn tích tắc.
Thế rồi đến một ngày đặc biệt, một ngày nắng tốt, không quá nóng, không quá lạnh, có chim kêu chiêm chiếp, có nhiều người thân thiện, trẻ em thì đang chơi - và điều đặc biệt là bất chợt ông già thích tất cả những điều này.
Ông mỉm cười.
“Bây giờ mọi chuyện sẽ thay đổi,” ông nghĩ.
Ông cởi nút trên cùng áo sơ mi, cầm nón trong tay, bước đi nhanh nhẹn, thậm chí có cả vẻ nhún nhảy trong bước chân khi ông đi dạo, và vui vẻ. Ông về con đường nhà ông, gật đầu với lũ trẻ, đến trước tòa nhà ông ở, lên đến bậc cầu thang trên cùng, lấy chìa khóa ra khỏi túi, và mở cửa phòng ông.
Nhưng trong phòng ông mọi thứ vẫn như cũ, một cái bàn, hai cái ghế tựa, một cái giường. Và khi ông ngồi, ông lại nghe tiếng đồng hồ tích tắc, và tất cả niềm vui của ông rời bỏ ông, vì không có gì thay đổi.
Và ông già bùng phát cơn giận.
Ông thấy trong gương khuôn mặt ông đang đỏ, mắt trừng trừng; rồi ông nắm chặt hai bàn tay, nâng lên, và nện xuống mặt bàn, mới đầu là một cú nện, rồi thêm cú nữa, rồi ông nện thình thình lên mặt bàn như đánh trống đồng thời quát to:
“Phải thay đổi, phải thay đổi!”
Và ông không còn nghe tiếng đồng hồ nữa.
Khi tay ông bắt đầu đau, giọng ông yếu, ông lại nghe tiếng đồng hồ, và không có gì thay đổi.
“Luôn luôn là cái bàn cũ,” ông nói, “hai cái ghế cũ, cái giường, bức tranh. Và mình gọi cái bàn là cái bàn, gọi bức tranh là bức tranh, cái giường là cái giường, và người ta gọi cái ghế là cái ghế. Nhưng thực sự tại sao vậy? Người Pháp gọi cái giường là “lee”, cái bàn là “tahbleh”, họ gọi bức tranh là “tahblo” và cái ghế là “shez”, và họ hiểu được nhau. Và người Trung Quốc cũng hiểu nhau.
“Tại sao cái giường không được gọi là bức tranh,” ông già nghĩ và mỉm cười, rồi cười thành tiếng, cười cho tới khi mấy người hàng xóm dộng vào tường và quát “Im đi nào!”
“Giờ thì sự việc thay đổi,” ông nói to và từ lúc này trở đi ông gọi cái giường là ‘bức tranh”.
“Mình mệt, mình sẽ đến bức tranh,” ông nói thế, và trong những buổi sáng ông sẽ thường nằm nán trong bức tranh một hồi lâu và ngẫm nghĩ về vật mà lúc này ông gọi là cái ghế, và ông đặt tên cho cái ghế là “đồng hồ báo thức”.
![]() |
Minh họa: Nguyễn Duy Linh |
Vậy là ông rời giường, mặc quần áo, ngồi lên cái đồng hồ báo thức, và đặt hai tay lên bàn. Nhưng cái bàn không còn được gọi là bàn nữa, mà lúc này có tên là tấm thảm.
Vậy là trong buổi sáng ông già sẽ rời bức tranh, mặc quần áo, ngồi chỗ tấm thảm trên cái đồng hồ báo thức và ngẫm nghĩ về các vật bây giờ ông có thể gọi bằng những tên khác.
Cái giường ông gọi là bức tranh.
Cái bàn ông gọi là tấm thảm.
Cái ghế ông gọi là đồng hồ.
Tờ báo ông gọi là cái giường.
Tấm gương ông gọi là ghế.
Cái đồng hồ ông gọi là anbum ảnh.
Tủ quần áo ông gọi là tờ báo.
Tấm thảm ông gọi là tủ quần áo.
Bức tranh ông gọi là cái bàn.
Và album ảnh ông gọi là tấm gương.
Thế là:
Vào buổi sáng, ông già sẽ nằm nán lại trong bức tranh một hồi lâu, đến chín giờ thì album ảnh reo, ông già dậy và giẫm lên tủ quần áo để chân không lạnh cóng, rồi ông sẽ lấy quần áo ra từ tờ báo, mặc vào, nhìn mình trong cái ghế trên tường, ngồi xuống trên cái đồng hồ ở chỗ tấm thảm và lật lật tấm gương cho tới khi ông đụng đến cái bàn của mẹ ông.
Ông già thấy sự vụ này vui, và ông tập suốt ngày và nhớ những từ mới. Bây giờ tất cả được đặt tên lại: ông không còn là một người đàn ông, mà là một bàn chân, và bàn chân là buổi sáng, và buổi sáng là người đàn ông.
Giờ thì bạn có thể tự mình viết ra truyện. Và lúc ấy bạn có thể làm như ông già đã làm và đổi tên gọi những từ khác:
tiếng chuông reo được gọi là tiếng bước chân,
ướp lạnh được gọi là giương mắt nhìn,
nằm được gọi là reo,
đứng gọi là đóng băng,
bước được gọi là trổ lá.
Vậy thì đoạn văn đọc là:
Trong người đàn ông, bàn chân già sẽ vẫn reo trong bức tranh một hồi lâu, lúc chín giờ anbum ảnh sẽ bước, bàn chân cảm thấy lạnh và trổ lá trên tủ quần áo để nó sẽ không nhìn buổi sáng.
Ông già mua mấy quyển vở màu xanh và viết đầy những từ mới, việc này làm ông rất bận rộn và bây giờ ít khi thấy ông già ra đường.
Rồi ông học những từ mới về tất cả các thứ, và khi ông học từ mới thì ông ngày càng quên những từ đúng. Ông có một ngôn ngữ mới chỉ thuộc về ông.
Thỉnh thoảng ông mơ về ngôn ngữ mới, rồi ông dịch những bài hát hồi ông còn đi học sang ngôn ngữ của ông, và ông hát nho nhỏ cho chính mình nghe.
Nhưng chẳng bao lâu việc dịch thuật này cũng vất vả đối với ông, ông hầu như đã quên ngôn ngữ cũ, và ông phải tìm những từ đúng trong mấy quyển vở màu xanh của ông. Và việc trò chuyện với người khác làm ông lo âu. Ông phải nghĩ hồi lâu về những gì người ta nói.
Bức tranh của ông người ta gọi là cái giường.
Tấm thảm của ông người ta gọi là cái bàn.
Cái đồng hồ báo thức của ông người ta gọi là cái ghế.
Cái giường của ông người ta gọi là tờ báo.
Cái ghế của ông người ta gọi là tấm gương.
Cuốn anbum ảnh của ông người ta gọi là cái đồng hồ báo thức.
Tờ báo của ông người ta gọi là tủ quần áo.
Tủ quần áo của ông người ta gọi là tấm thảm.
Cái bàn của ông người ta gọi là bức tranh.
Tấm gương của ông người ta gọi là cuốn anbum ảnh.
Đến một lúc ông già phát cười khi nghe người ta nói chuyện.
Ông bật cười khi ông nghe một người nói:
“Ngày mai ông cũng đi xem bóng đá chứ?” Hay khi một người nói: “Tôi có một người chú ở Mỹ.”
Ông phải cười, vì ông không hiểu hết các câu đó.
Nhưng đây không phải là một chuyện vui.
Truyện khởi đầu buồn và kết thúc buồn.
Ông già mặc áo khoác xám không còn hiểu được người khác, điều đó không tệ lắm.
Điều tệ hơn nhiều là họ không còn hiểu được ông.
Và vì thế ông không nói nữa.
Ông im lặng, chỉ nói với chính mình, thậm chí không chào hỏi họ.
(TCSH372/02-2020)
..............................................
(Nguồn: http://www.thewhitereview.org/fiction/a-table-is-a-table/)
NADINE GORDIMER
Salman Rushdie (1947), nhà văn và người viết tiểu luận, gốc Ấn, hiện sống tại Mỹ, là tác giả của nhiều tiểu thuyết gây tiếng vang, như Những đứa con của nửa đêm, được trao giải Booker, năm 1981, và cả những tiểu thuyết gây tranh cãi như Những vần thơ của Satan, 1988. Văn phong Rushdie thâm trầm, khoáng lộng, hài hước và tươi mới.
O’HENRY
FRANK O’CONNOR
Khi tôi tỉnh giấc, tôi nghe có tiếng mẹ ho ở nhà bếp. Mẹ bị ho đã nhiều ngày nhưng tôi không để ý. Chúng tôi sống ở Old Youghal Road, nơi mà vào lúc đó, có một con đường nhiều đồi dốc dẫn tới East Cork.
E. RUXACỐP (Nga)
ABDULRAZAK GURNAH
Tôi nghĩ anh ta đã nhìn thấy tôi đang tiến lại gần, nhưng vì lý do riêng nào đấy nên anh ta vẫn không có dấu hiệu gì.
Maurice Druon, sinh năm 1918, theo học Đại học Luật Paris. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, ông tham gia lực lượng kháng chiến Pháp chống phát xít Đức, là thông tin viên Đài Phát thanh Kháng Chiến. Giải Goncourt 1948 với tác phẩm "Đại Gia đình" (Les Grandes Familles). Các tác phẩm đậm chất trữ tình của nhà văn: "Kết thúc đời người" (La Fin des Hommes), "Hẹn gặp tại Địa ngục" (Rendez-vous aux enfers) phản ánh một thiên hướng theo trường phái Balzac.
Ông đồng thời là tác giả một số tiểu thuyết lịch sử.
JENNIFER WALKUP
Tôi sẽ không nói với ai về việc chẩn đoán.
Không hé răng với mẹ hay em gái tôi. Chắc chắn không phải Jake và có lẽ với Steve cũng không hề.
GRAHAM GREEN
Cái chết đến kề như một nỗi nghiệt ngã day dứt mà ta hổ thẹn không dám thổ lộ với bạn bè hoặc đồng nghiệp.
ELISABETH SILANCE BALLARD
Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Truyện khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm.
Tác giả tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 - 1985). Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học. Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…
KATE CHOPIN
Catherine O’ Flaherty sinh năm 1850 tại Saint Louis, Missouri, bố gốc người Ái Nhĩ Lan, mẹ gốc Pháp, lớn lên trong môi trường đa văn hóa, từ nhỏ đã nói tiếng Pháp đồng thời với tiếng Anh.
Nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sỹ, dịch giả Ấn Độ Rabindranath Tagore sinh năm 1861 tại Calcutta, Ấn Độ và mất năm 1941. Ông để lại một di sản văn học - nghệ thuật đồ sộ với hàng ngàn tác phẩm đủ các thể loại. Tagore còn là nhà yêu nước, đòi giải phóng Ấn Độ khỏi sự cai trị của Anh. Ông được trao giải Nobel văn học năm 1913.
O’Neil De Noux sinh ngày 29/11/1950 tại New Orleans, bang Louisiana, Hoa Kỳ. Ông là một nhà văn Hoa Kỳ có sức sáng tác mãnh liệt với nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn, đã có 42 đầu sách được xuất bản. Phần lớn sáng tác của ông là truyện trinh thám hình sự, tuy nhiên ông cũng viết nhiều thể loại khác như tiểu thuyết lịch sử, truyện dành cho trẻ em, truyện khoa học viễn tưởng, kinh dị, tình cảm, v.v.
JASON HELMANDOLLAR
Jason Helmandollar là một nhà văn người Mỹ, tác giả của nhiều truyện ngắn nổi tiếng được đăng trên các báo, tạp chí đang thịnh hành lúc bấy giờ như Encounters Magazine, Bartleby Snopes, Title Goes Here, Sideshow Fables. “The Backward Fall” là một trong những truyện ngắn hay và hấp dẫn của ông.
TIMUR JONATHAN KARACA
Timur Jonathan Karaca được sinh ra ở San Francisco. Ông là bác sĩ y khoa khoa gây mê tại UCSF. Ông sống ở Oakland, nơi ông hành nghề. Karaca theo học sáng tác tại Studio Hội Nhà văn San Francisco.
Naguib Mahfouz (1911 - 2006) sinh ra trong một gia đình nghèo tại Cairo. Ông học triết học tại Đại học Cairo và làm công chức cho tới khi về hưu năm 1971. Mahfouz là nhà văn lớn của Arab và của thế giới. Ông có 35 tiểu thuyết, 14 tập truyện ngắn và nhiều tác phẩm kịch. Tác phẩm của ông rất phổ biến ở phương Tây. Mahfouz được trao giải Nobel văn chương năm 1988.
Truyện ngắn dưới đây diễn tả bi kịch của cá nhân khi bị phụ thuộc vào kẻ khác. Tuy nhiên, như rất nhiều tác phẩm khác của văn học Arab, nó còn mang tính ẩn dụ và nghĩa hàm ẩn.
ALBERT LAMORISSE (Pháp)
Albert Lamorisse là một nghệ sĩ đa tài của nước Pháp. Ông vừa viết văn, làm thơ, vừa biên kịch và đạo diễn điện ảnh. Truyện "Quả bóng đỏ" (Le Ballon Rouge) này đã được chính Albert Lamorisse dựng thành phim, rất nhiều người hâm mộ.
HISHAM BUSTANI
JOHN L’HEUREUX