LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG
Nhiều năm sau này Vũ nhớ về Giao khi hai người ngồi bên nhau trên ban công lồng lộng gió trăng. Ban công nhìn ra sân với hàng cau già nhuốm tóc trăng sáng bạc, là những hình ảnh cuối cùng của một miền quê sắp bị đô thị hóa.
Minh họa: Nhím
Xa xa, dòng sông nhỏ lấp lánh, chảy chầm chậm qua đồng nội thoang thoảng hương buồn. Mùi hương ấy của Giao ban đầu chỉ là một làn sương mỏng mảnh, vương víu trên người. Vũ đến từ sau lưng, dang vòng tay rộng ôm lấy cả không gian buồn bã, êm đềm. Vũ chết lặng trong làn hương ấy. “Anh đã chạm vào giấc mơ của em”, Giao dịu dàng nói. Nàng mấp máy môi theo giai điệu bài Love paradise ngọt ngào dưới ánh trăng. Tiếng ca của nàng vút cao lên tận trời sâu, nơi trăng sao đương trôi trong nỗi mơ hồ. Vũ im lặng nghe tiếng hát, ánh trăng buông dịu trong đêm. Tấm thân ấy mềm trong vòng tay Vũ. Mùi buồn xích gần lại. Giao có đôi mắt to, màu huyền cánh gián, thu vén cả vòm trời trong một lần chớp mi.
Sau này Vũ mới biết, họ đã có cùng giấc mơ trong đêm trăng ấy. Vũ và Giao rơi xuống một bến cảng lạ lẫm. Hàng nghìn người di chuyển xuống tàu. Quanh đấy, lính tráng bồng súng cảnh giới. Giao đứng ngắm cánh hải âu chao liệng trên sóng biển, lẻ loi bay vút ra phía đại dương. Khoảng xa xăm phía trước chỉ độc một màu xanh biền biệt, kéo dài vô tận, giấu sau nó cả một miền Nam ẩn chứa nhiều điều mới lạ. Từng đoàn người gấp gáp lên con tàu chở người di trú mà người dân gọi là tàu“há mồm” giữa những lính hải quân Mỹ, Pháp nghiêm nghị bồng súng thực hiện nghĩa vụ quốc tế sau Genève. Giao còn lưỡng lự đứng bên cầu cảng, mắt nhìn theo cánh chim hải âu. Từng cơn gió chiều se se lạnh, mang mùi mặn nồng của biển cả phả vào người nàng. Giao vẫn đợi Vũ. Anh cũng quên hôm nay là ngày lập thu, lá đã rơi nhuốm vàng hè cũ. Vũ chắc không theo Giao vào Nam. Anh đã thất hứa với người yêu. Người lên tàu ngày mỗi đông, cha mẹ gồng gánh hành lí lên tàu cứ mãi giục Giao. Giao lờ đi tiếng gọi, chuyển hướng nhìn lên bầu trời đầy mây. Nhưng màu đen u ám chỉ đem lại cho nàng cảm giác ghê rợn. Mẹ chạy lại kéo áo lôi Giao lên tàu. Vừa kịp lúc Vũ tới. Ánh mắt Vũ nhìn Giao tiễn biệt. Anh chen chúc giữa đám người, đưa tay ra, chỉ kịp chạm nhẹ làn hơi ấm. Vũ nhớ về hơi ấm tỏa ra từ người yêu, trong cơn gió chiều nhẹ quẩy từng chiếc lá vàng vung văng trên mặt đất, vun thành một đống nhỏ nơi đôi tình nhân lặng yên bên nhau. Anh ở lại, cả nhà anh phải ở lại. Đất nước rồi sẽ hiệp thương, sẽ thống nhất. Vũ sẽ vào thăm Giao, chúng mình còn có cơ hội để làm đám cưới cơ mà. Xem như đây là chuyến nghỉ dưỡng thôi. Genève rồi, hòa bình rồi Giao à. Con tàu há mồm khép lại, nuốt Giao và những kỷ niệm trôi ra đại dương. Vũ đứng lặng trên bờ và mơ về ngày cưới mãi mãi nằm trong giấc mộng.
Vũ rùng mình. Anh buông Giao ra, buồn bã. Hai người cùng hướng ánh nhìn ra ban công, một vì sao băng qua bầu trời rồi tan biến. Đêm đó, lần đầu tiên trước giấc ngủ anh biết đến đêm xanh, rằng bầu trời còn có những vì tinh tú diệu kì và một vầng trăng chất chứa cả những nỗi niềm làm ướt màu đêm.
Giấc ngủ vùi đến sáng, sang trưa Vũ mới dậy. Lò mò đi ăn cơm bụi, đọc sách đến khi chiều buông Vũ đi ra công viên, đứng lặng bên sông Hương. Vũ lao xuống làn nước xanh. Bơi thật xa, lấy dịu mát của nước để xóa cơn bi phẫn trên rong tóc tuổi buồn. Vũ đăm đắm nhìn trời, nhìn hàng cây xanh chạy một hàng dài dọc bờ sông. Màu xanh ấy thỉnh thoảng bị đứt khúc, lộ ra con đường nhựa đen bóng với vạch kẻ trắng lạc lỏng, vô hồn. Lâu lâu, bóng một người kẽo kẹt đạp xe đi về. Mặt úp trong lòng nước mát. Màu đen trộn trong ý nghĩ. Màu nước gợi nhớ về điều gì đó phiêu bồng, mùi mẫn xen lẫn bất cần và điên loạn. Vũ chợt nhớ Giao điên đảo, nhớ đôi môi hải đường chộn rộn lòng son.
Phải đến một tuần sau họ mới lại được gặp nhau. Vũ gầy xọm. Giao dường như bước ra từ một thế giới khác, lộng lẫy khác thường. Vũ chở người yêu đi khắp Huế. Tà dương nhuộm một màu vàng sậm trên mặt sông thăm thẳm. Bên bến Nghinh Lương Đình, dưới bóng cây nguyệt quế, Vũ bất ngờ ôm chầm lấy Giao. Anh nhớ em. Anh muốn nhảy vào giấc mơ của em. Giao cười. Anh nhảy đi nào. Vũ lại tìm thấy vị buồn trên môi người yêu dịu ngọt. Họ rơi về thuở xa xưa.
Giao bảo Vũ thổi sáo cho nàng nghe. Giao đứng bên bờ mặc gió sông lồng lộng thổi xòa tóc mun và nàng cất cao Tương tư khúc. Quạnh quẽ màn loan, tay ôm đàn tình tang tích tịch, cung réo rắc đau lòng riêng càng thêm chạnh, ngồi trông bạn, nào đâu bạn, mờ mịt trời mây én nhạn lìa đôi. Tình đau thương tình ôi! Tiếng ca của nàng, tiếng ca dòng sông xanh. Vũ thổi và Giao hát ngọt ngào một bến sông. Ơ, ba sinh kìa nợ chi tôi, đầy vơi lệ, vì ai tệ, đã nặng cùng nhau lời thệ hải còn ghi. Cao xanh kìa trớ trêu chi, ngán cho tình si, hiệp ly nào có ra gì! Chớp mắt hòa mình trong dòng sông mát. Nàng vẫy nước. Vũ ngại ngùng, ngắm người yêu bơi. Làn da nàng lấp loáng trong ánh nắng chiều. Vũ đỏ mặt. Giao cười nhoe trong làn nước. Ánh nắng càng ngày càng chói chang chiếu lên người Vũ. Bóng Giao căng tràn trong nước. Mắt Vũ thành một vực đen u tối. Vũ hét như xua đuổi cơn mơ. Mở mắt ra, mặt trời đã xuống núi tự bao giờ, bao quanh một màu đen đặc dòng Hương.
*
Giao rất thích ngồi trên những hòn đá khổng lồ trên núi. Bữa Vũ dắt nàng qua sườn Đông ngắm mặt trời. Anh ngồi bên người yêu trên tảng đá hình quả trứng nhìn một biển mây trắng đang ửng hồng. Ở đó, thấy Huế bé như bàn cờ, sông Hương như một chiếc khăn xanh ai đánh rơi trên đồng bằng mênh mông, ngút ngát. Mặt trời như một viên ngọc từ từ nhô lên, tỏa ánh sáng hân hoan. Từng ánh rẽ quạt làm vơi cái lạnh se se. Giao đột ngột đứng lên, hai tay dang ra như cánh én. Gió thổi, tóc xõa, váy trắng tung bay giữa bình nguyên mây. Mùi hương buồn bả phảng phất trong làn gió. Tia nắng nhỏ chiếu qua môi. Họ quyện vào nhau. Bây giờ, Vũ ngửi thấy hương của mây, của nắng và nỗi buồn thăm thẳm.
Vũ thấy mình chở Giao quay trở về ngôi làng của anh vào cuối tuần. Làng Vũ có nghề đan bội, một nghề từng nuôi sống dân làng giờ gần như thất truyền. Ông nội Vũ là một nghệ nhân đan bội. Khi họ đến ông ngồi chẻ tre từng nan tre thoăn thoắt bên bóng chuối trước nhà. Ông bảo, từ cây tre, người ta chẻ ra thành hàng ngàn chiếc nan nhỏ, tùy theo mục đích sử dụng của bội để đan ra những kích cỡ khác nhau. Ở làng chỉ đan bội, giỏ hoa ngày tết. Ngày xưa, cứ mỗi sớm từng đoàn gồng gánh đưa bội đi bỏ cho các mối lái. Ông cụ nhớ về thời bé dại gánh bội đi giữa cơn mưa mùa đông lạnh giá, chân trần dẫm lên bùn ướt, mưa tái tê tạt ướt mặt mày nhưng phải ráng sức gồng gánh cho kịp chợ. Vũ nhìn những rọ con nằm xấp xó một góc vườn. Mùi của tre tươi ngàn ngạt cánh mũi. Ông ơi, đây là bạn gái của cháu. Vũ nhìn Giao mỉm cười. Ông nội nhìn đôi trẻ, lòng hồi tưởng những ký ức u hoài Gió thổi từng cơn mát rượi. Mấy bông hoa ngũ sắc rực rỡ trong nắng chiều, quanh đó những con bướm trắng lượn vòng. Trên sông, mây như thuyền con dạt về một phía chật kín cánh đồng xanh bên kia. Sông và xanh, Giao ơi, em hãy hát đi để ta bước ra ngoài giấc mộng. Vũ lắng nghe Dòng sông xanh hát, tiếng hát ngút ngàn từ phía trời xa, kéo theo cả vọng âm thao thiết. Lời ca ngân vang tiếng nước non, dẫn nguồn cho cả dòng sông xanh chảy bất tận vào lòng người. Cô có thể bay bổng ở những nốt cao và đáp xuống dễ dàng ở những nốt thấp trong âm vực một bài hát. Giọng họa mi ấy làm Vũ quên đi hiện hữu đầy khổ đau của thời gian, những vách ngăn đêm ngày như không còn tồn tại.
Có tiếng máy bay rè rè. Có tiếng người gọi nhau ý ơi. “Mình về thôi anh!”.
Hai người bước chầm chậm trên con đường thành Huế. Mùa thu đã về trên những cây ngô đồng hiếm hoi ở chốn kinh thành. Hoa liễu đã rộ nở, buông cành tơ xuống mặt sông lăn tăn chao sóng. Đàn chim di trú bay chấp chới trên bầu trời đầy những đám mây xốp. Tia nắng mong manh cố lách qua những đám mây rồi thả mình xuống dòng sông lơ thơ đốm bèo trôi. Vũ nắm tay Giao, nhẹ nhàng tựa làn khói mơ áp vào bàn tay thiếu nữ mềm mại. Nụ hôn ấm nồng quyện chặt, trong như tiếng sáo đang vi vút trên trời chiều.
Họ rơi vào một giấc mơ dữ dội. Một trận đánh ác liệt diễn ra ở một miền quê trong chiến tranh Việt Nam. Làng mạc tiêu điều, những căn nhà không người trơ vách đương rực cháy. Đó đây một vài xác trực thăng cháy sụm, những chiến xa đứt xích nằm chỏng chơ như quái vật không đầu, vài chiếc khác chúi mũi xuống những hố bom. Những chiếc dù tải hàng còn vương vãi theo hai bên đường. Một trường tiểu học bị tróc nóc. Một bé gái khoảng 16 tuổi mù hai mắt, gầy yếu xanh xao, cõng người con trai khoảng 17 tuổi trên lưng, bị cụt một chân. Người cụt chân ngồi trên lưng người mù mắt để chỉ đường chạy khỏi vùng pháo kích. Vũ ngồi trên lưng Giao lòng thấp thỏm không yên. Trái phá rơi xuống ầm ầm phía sau làng. Chiến tranh đã cướp mất sự lành lặn của hai cơ thể, hai tâm hồn thơ dại. Chạy theo họ là chị hàng xóm bế con vừa mới sinh chưa tới một năm. Một trái pháo rơi rất gần, mảnh pháo phá đổ gốc cây, găm mảnh vào khuôn ngực và chị ngã ra bất động. Đứa nhỏ không chết, cũng không bị thương, nó bò trên bụng mẹ khóc thét lên trong sự hãi hùng. Khóc mệt, nó lại gục đầu vào ngực mẹ để bú. Vũ bảo Giao dừng lại. Anh lò cò bế em bé ra khỏi mẹ. Pháo vẫn nổ dữ dội. Ngôi làng tàn lụi nhanh chóng trong khói lửa. Một lúc sau đứa bé cũng chết luôn trên tay Vũ, miệng bé giễu ra cả những quành máu mẹ. Giao nói như điên loạn: “Em sợ quá anh ơi! Mình sẽ chết phải không?!”. Vũ im lặng và họ tiếp tục chạy.
Vũ nghiện những giấc mơ. Vì cuộc đời u buồn, những giấc mơ cũng trở nên tẻ nhạt. Giao mang đến cả một thế giới, lẫn mơ và thật. Chiều nay, Vũ nằm chờ Giao đến, rồi cả hai lang thang về phía Tây thành phố. Vũ nằm mãi, cho đến khi có ai đó gõ cửa trong xa vắng. Lỗ tai anh nhói lên những âm thanh lạ. Mắt Vũ choáng váng. Anh lọ mọ đi ra cửa lớn. Gió lồng lộng thổi. Ai đó bật lên bản nhạc của Lê Tín Hương. Phong sương dạn dầy, tuổi xuân đọa đầy. Cứ như thể Vũ bước đi trên con đường nhập nhòa đen trắng. Anh đã mặc nhiều tấm áo đời, áo rách tả tơi, hồn xiêu táng. Tiếng gỗ va vào nhau ngày mỗi mạnh, khó chịu, bức bối.
Tối hôm đó, Vũ chạy về nhà Giao, lên ban công nơi hai người đã hôn nhau lần đầu.
Hôn anh. Hãy hôn anh đi!
Không, mình chia tay đi. Giao buồn bã nói. Những cơn mơ làm em hao kiệt, còn anh trở thành một gã lảng đãng đến mệt mỏi.
Vũ nhìn thấy đôi môi nhiệt đới đắm say phả những hạt mặt rời hồng thắm trên ký ức xanh. Anh bất ngờ chạy lại, đưa bàn tay có tờ giấy gió lên miệng người yêu, ấn lên đôi môi nhiệt đới để lưu lại khuôn hình của một ký ức.
Đêm trừ tịch, Vũ cầm tờ giấy gió vĩnh cửu in hình môi nhiệt đới đi vào miền hiu quạnh. Đàn bà hư ảo, Vũ thốt lên. Và đàn ông cũng hư ảo. Những mảnh ghép đã lướt qua nhau, trong định phận tưởng chừng chắc chắn. Vô vàn cánh cửa được mở ra, Vũ lạc lối trong những cánh cửa sâu hun hút, bất tận. Những giấc mơ được bọc tơ, treo trên khoảng không gian mờ mờ sau tấm cửa. Vũ chọn hái những giấc mơ ngọt ngào, rồi đeo lên người, lang thang vô định. Những cái kết có hậu trong những câu chuyện luôn đẩy người ta về phía trước để tìm kiếm hy vọng. Vũ chọn những cái kết đẹp trong giấc mơ của mình. Giá như có ai gọi Vũ lúc này, giá như hơi ấm của Giao thoang thoảng đâu đây và giá như những giấc mơ là sự thật không chối cãi. Vũ xé những giấc mơ ngọt ngào. Kia cánh rừng đầy hương mật, dòng suối xanh và những thiên sứ đang vẫy vùng. Kia cánh đồng lúa chín với những hạt vàng lóng lánh nắng mai. Giao đã đứng đợi Vũ từ lâu lắm, đôi môi hồng như đốm lửa, đôi môi sẽ kể cho người yêu nghe những chuyện êm đềm của cuộc đời sóng gió.
L.V.T.G
(TCSH355/09-2018)
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.
ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.
NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.