PHAN VĂN NAM
Sau các tập thơ Cùng đi qua mùa hạ (Nxb. Văn nghệ, 2005), Phía bên kia cây cầu (Nxb. Phụ nữ, 2007) và Ngày linh hương nở sáng (Nxb. Hội Nhà văn, 2011) được trao nhiều giải thưởng văn chương uy tín, tác giả Đinh Thị Như Thúy tiếp tục ra mắt tập thơ mới Trong những lời yêu thương (Nxb. Hội Nhà văn, 12/2017).
Ảnh: internet
Đây là cuốn sách nằm trong kế hoạch sách Nhà nước đặt hàng hằng năm nhằm tôn vinh ghi nhận hơn nữa những đóng góp thiết thực, hiệu quả trong lao động sáng tạo nghệ thuật, của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu lý luận phê bình vào sự nghiệp văn hóa, văn nghệ của đất nước.
Với 62 bài trong gần 200 trang in, chủ yếu là thơ tự do và thơ văn xuôi, nhà thơ Đinh Thị Như Thúy đã thổi một mạch ngầm trong trẻo, dịu dàng với những dòng thơ tươi mới, quyết liệt, ngập tràn sự khai phá, táo bạo. Mang sứ mệnh kiến tạo giá trị thi ca xuất phát từ những yêu thương tự trong sâu thẳm, tác giả làm sống dậy linh hồn đất đai, từ thực thể đến tâm thức, với những ám ảnh lạ lùng, sâu sắc và cũng không kém phần thi vị. Những bông hoa trắng ẩn hiện từ xa xôi vang vọng tiếng gọi tự do, từ đại ngàn đến thành thị chỉ như một giấc mộng dài, đánh thức đất đai xứ sở:
“Vẻ đẹp đó. Quá chừng tinh khiết và lộng lẫy. Làm con người choáng váng. Thấy mình sao trần tục. Một ước muốn gột rửa bất chợt dâng đầy/ Là vậy. Bạn biết không? Sự cứu rỗi của cà phê không chỉ ở trong trái chín. Trong từng giọt sậm thơm lừng mỗi sáng/ Mà ở đây. Cả trong mùa tưới. Mùa hoa. Trong đất đai nồng nã. Trong ngọn gió hoang. Mang nỗi nhớ bay đi. Vượt trùng trùng xa ngái. Tìm đến một người”. (Hoa trắng tháng hai).
Đọc thơ Đinh Thị Như Thúy, thực khó định vị chính xác chúng ta đang ở đâu, những không gian nối tiếp nhau, mở ra vô tận, trong từng ánh mắt, từng hơi thở, từng cử chỉ, từng cái động chạm. Dường như những biến động trong thơ chị lạ lùng, tràn đầy tinh tế, cứ ẩn hiện chập chùng như sương, như gió, như mây, như nước, chẳng mang hình hài cụ thể nhưng vẫn mang lại cảm giác ấm áp, bao dung và nhân hậu. Nhà thơ Phan Hoàng từng nhận xét: “Từ vùng đất Tây Nguyên, từ khu vườn của mình, Đinh Thị Như Thúy đã cất lên tiếng thơ trong trẻo như suối nguồn, huyền ảo như đại ngàn, nghiêm cẩn như bảng đen phấn trắng, mang đến cho nền thơ Việt đương đại một ánh chớp, một giấc mơ đẹp và quyến rũ”. Sinh ra và lớn lên ở mảnh đất thi ca Thừa Thiên Huế, chị có khoảng thời gian dạy học ở Tây Nguyên, năm 2012 chị chuyển về công tác tại Liên hiệp các Hội VHNT Đà Nẵng. Đến với thành phố bên bờ sông Hàn không lâu, chị đã phát lộ miền tâm tưởng cao đẹp với nhiều khát vọng thầm kín:
“Thường đi dọc sông Hàn mỗi sớm mai/ Thời khắc vắng/ Đón ngọn gió đến từ bờ Đông/ Ngọn gió ăm ắp ánh mặt trời/ Ban mai/ Sông Hàn trắng/ Vẫn thương làm sao những vòm cây xa xôi/ Khu vườn thiếu hơi thở/ Lặng/ Dịch chuyển không làm nên ngăn cách/ Sông Hàn ban mai kéo một vệt sáng/ Cơn rùng mình bén ngọt/ Cắt vào ngày” (Ban mai đi dọc sông Hàn, trang 99).
Nỗi u hoài thế nhân vận vào đôi mắt nữ sĩ, cứ quấn lấy không rời, không đành tâm dứt bỏ, đành buông xuôi cảm xúc dưới những hơi thở khác, những sự sống khác, khoảnh khắc khác, tưởng như thật gần gụi nhưng lại hóa xa xôi: “tôi thuộc về giọng nói thì thầm trong tôi”. Định hình phong cách theo con đường của một người mê đắm với thi ca, nhưng chị là vô cùng tỉnh táo trong những lời yêu thương gửi trao đến độc giả, đến công chúng, dẫu đôi khi rơi vào cảm tính cá nhân, tuy nhiên điều đó càng minh chứng sự sắc sảo trong thơ chị, những con chữ được viết ra từ gan ruột, từ đáy lòng:
“Ta chờ tiếng thì thầm/ Chờ hơi thở gấp/ Chờ một động chạm để tỏ bày cảm xúc/ Sao tất cả luôn quá chừng xa xỉ/ Cô độc níu bàn tay ta lưng chừng/ Không cho phép/ Chẳng điều kỳ diệu nào có thể xảy ra/ Sao chúng ta chạm mặt nhau chỉ để rời xa/ Sao cứ muốn trốn nhanh về nơi trú ẩn/ Vùi mặt vào gối chăn/ Tìm dấu vết chính mình/ Nghe đơn côi chảy rùng rùng trong máu/… / Đau đớn thú nhận đời sống thật quá buồn” (Chưa bao giờ ta đến được giấc mơ của nhau, trang 57).
Tầng tầng lớp các câu thơ đa nghĩa dẫn chúng ta đến một miền thơ nhiều gập ghềnh, khúc khuỷu nhưng cũng tràn đầy hoa thơm trái ngọt, ở đó không gian, xúc cảm tưởng chừng mong manh dễ vỡ, man mác u buồn nhưng cũng lấp lánh sắc màu, sắc màu của cái đẹp, sắc màu của tình yêu. Tác giả sử dụng nhuần nhuyễn nghệ thuật tu từ “phép điệp” tạo nên phong cách thi ca riêng, thú vị và độc đáo. Những bài thơ với trùng trùng điệp điệp thi ảnh, âm thanh gợi lên cõi giới thẩm mỹ đẹp đẽ, trong trẻo lạ lùng đã cho thấy những nỗ lực đáng ghi nhận của tác giả nhằm chuyển tải đến bạn đọc những khao khát tìm kiếm, tỏ bày, những lời trao gửi yêu thương:
“Những tiếng gọi như tan vào khoảng rỗng/ Sương dâng mịt mờ/ Suốt một ngày dài một đêm dài/ Một ngày dài một đêm dài/ Rồi ngày dài rồi đêm dài tiếp nối/ Những tiếng gọi cứ tan vào khoảng rỗng/ Sương dâng mịt mờ/ Chỉ cây/ Và cây/ Và cây/ Những cây trổ mầm xanh bên cầu/ Những cây trơ trụi lá/ Những cây nứt ngang thân mềm rễ đỏ/ Những cây ngơ ngác đơm hoa/ Nhẫn nại đứng im lìm trong màn sương bủa vây như sữa/ Chỉ cây/ Và cây/ Và cây/ Đầm đìa chảy/ Từ lá từ thân/ Những dòng nước mắt trong suối lạnh/ Chỉ cây/ Và cây/ Buồn bã chịu đựng/ Chỉ cây/ Và cây/ Vẫn những tiếng gọi như tan vào khoảng rỗng/ Vẫn sương dâng mịt mờ/ Suốt những ngày dài những đêm dài/ Vẫn chỉ cây/ Và cây/ Và cây/ Bất lực/ Cháy những đốm lửa rưng rưng trong ký ức (Cây trong sương, trang 145).
Với chỉ hai hình ảnh chỉ “cây” và “sương”, tác giả đưa ta lạc vào chốn mê hoặc trong cõi giới thi ca đầy ngọt ngào và quyến rũ, tác giả luôn tạo ra khoảng trống bất tận để độc giả được hòa mình vào tâm hồn của tác giả, cùng hòa nhịp và cùng đồng điệu. “Đốm lửa” trong thơ Đinh Thị Như Thúy chính là đốm lửa của niềm tin và hy vọng, của sự dâng hiến cháy bỏng, của yêu thương vẫy gọi từ xa xăm diệu vợi. Còn rất nhiều điều đặc biệt trong tập thơ khá dày dặn “trong những lời yêu thương” được xuất bản lần này, đưa chúng ta khám phá mọi ngóc ngách của con chữ từ khi được gieo trồng đến khi “mọc như một kiêu hãnh lặng câm”.
P.V.N
(TCSH357/11-2018)
HÀ VĂN THỊNHTrong lịch sử của loài người, những vĩ nhân có tầm vóc và sự nghiệp phi thường chỉ có khoảng vài chục phần tỷ. Nhưng có lẽ rất chắc chắn rằng sự bí ẩn của những nhân cách tuyệt vời ấy gấp nhiều lần hơn tất cả những con người đang sống trên trái đất này. Tôi đã rất nhiều lần đọc Hồ Chí Minh Toàn tập, nhưng mỗi lần đều trăn trở bởi những suy tư không thể hiểu hết về Người.
HOÀNG NGỌC VĨNHHồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh tụ xuất sắc của phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam, là người Việt Nam đầu tiên soạn thảo và ban bố các sắc lệnh tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam.
BÙI ĐỨC VINH(Nhân đọc tập thơ “Đá vàng” của Đinh Khương - NXB Hội Nhà văn 2004)
NGÔ XUÂN HỘITính tình phóng khoáng, Trần Chấn Uy chắc không mặn mà lắm với những cuộc chơi mà luật chơi được giới hạn bởi những quy định nghiêm ngặt! Ý nghĩ trên của tôi chợt thay đổi khi mở tập thơ Chân trời khát của anh, ngẫu nhiên bắt gặp câu lục bát: “Dòng sông buồn bã trôi xuôi/ Đàn trâu xưa đã về trời ăn mây”...
TRẦN THUỲ MAI( “Thơ Trà My” của Nguyễn Xuân Hoa - NXB Thuận Hoá, 2005)
HỒ THẾ HÀ(Đọc tập thơ Lửa và Đất của Trần Việt Kỉnh - Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hoà, 2003)
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO(Đọc tập ký ''Trên dấu chim di thê'' của Văn Cầm Hải- NXB Phương - 2003)
NGUYỄN QUANG HÀ(Đọc Huế trong thơ Nguyệt Đình)
NGUYỄN VĂN HOA(Nhà xuất bản Lao Động phát hành 2004)
PHẠM NGỌC HIỀNChưa lúc nào trong lịch sử Việt , các nhà văn hoá ta lại sốt sắng ra sức kêu gọi bảo tồn nền văn hoá dân tộc như lúc này. Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế công nghiệp cộng với xa lộ thông tin đã mang theo những ngọn gió xa lạ thổi đến từng luỹ tre, mái rạ làm cho "Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều". Mà "Trách nhiệm của mỗi dân tộc là phải thể hiện rõ bản sắc của mình trước thế giới" (R. Tagor).
NGUYỄN THANH MỪNG Miền duyên hải Nam Trung bộ gần gũi với Tây Nguyên lắm lắm, Bình Định gần gũi với Gia Lai lắm lắm, ít nhất ở phương diện địa lý và nhân văn. Ừ mà không gần gũi sao được khi có thể chiều nghe gió biển Quy Nhơn, đêm đã thấm trên tóc những giọt mưa Pleiku. Giữa tiếng gió mưa từ nguồn tới bể ấy nhất thiết bao nhiêu nỗi lòng ẩn chứa trong tiếng thơ diệu vợi có thể chia sẻ, bù đắp được cho nhau điều gì đó.
NGUYỄN QUANG HÀSau ba tập: Thơ viết cho em - 1998, Lối nhớ - 2000, Khoảng trời - 2002, năm 2004 này Lê Viết Xuân cho xuất bản tập thơ thứ tư: Đi tìm.
NGÔ MINHThật may mắn và hạnh phúc là Hoàng Phủ NgọcTường đã vượt qua được cơn tai biến hiểm nghèo của số phận, để được tiếp tục đến với đọc giả cả nước trong suốt mười một năm nay. Đối với tôi, khi bên chiếu rượu ngồi nghe anh Tường nói, hay đọc bút ký, nhàn đàm, thơ của Hoàng Phủ là những lần tôi được nghe các “cua” ngoại khóa sâu sắc về nhân văn và nghề văn.
VÕ THỊ XUÂN HÀVào rằm tháng Giêng năm 2003 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, Ngày Thơ Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức long trọng. Mở đầu bằng lễ kéo Lá cờ Thơ, rồi ngâm đọc bài thơ Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh. Sau đó là các chương trình giao lưu thơ với công chúng, đọc những bài thơ hay nhất của đất nước, ngâm thơ, bình thơ v.v…
VÔNG VANGCó thể nói cùng với chiều dài lịch sử của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân, không thể và không khi nào mà khi nói đến nơi đây người ta lại không nhắc đến Thơ. Bởi vì ngoài “nhiệm vụ” là một bức thông điệp giúp cho ta biết hơn về lịch sử, về con người, Thơ còn giúp ta hiểu hơn về chính nó, về một ký ức lãng đãng đang trôi qua từ thẳm sâu trong trí nhớ, trong cái thăng hoa luân chuyển của vũ trụ và của chính con người.
TRẦN THÙY MAI(Đọc “Thơ của người cô độc” tập thơ của Tường Phong, NXB Thuận Hóa xuất bản)
TRẦN HỮU LỤCChân dung Huế (*) - tập bút ký nhân vật, là một trong 12 đầu sách liên kết giữa Tủ sách Nhớ Huế với NXB Trẻ.
BÍCH PHƯỢNG thực hiệnLTS: Trong dịp vào Huế thực hiện một số phim trong chương trình “Người của công chúng” (Đài Truyền hình Việt Nam), nhà báo Bích Phượng đã có dịp tìm hiểu tác phẩm, gặp gỡ trò chuyện với nhà văn Nguyễn Khắc Phê tại ngôi nhà vuờn xinh đẹp của ông trên đường Xuân Diệu. Ông đã trả lời một cách cởi mở và thẳng thắn những vấn đề đặt ra.
NGUYỄN PHÚC VĨNH BATrong cuốn “Hồ sơ văn hoá Mỹ”, nhà nghiên cứu Hữu Ngọc có giới thiệu một số nhà thơ cổ điển Mỹ như Walt Whitman, Edgar A. Poe, Henri W. Longfellow… Về Longfellow, ông Hữu Ngọc viết:“Nếu không đòi hỏi tâm lí và tư duy sâu sắc thì có thể tìm ở thơ Longfellow sự trong sáng, giản dị, cảm xúc nhẹ nhàng, bâng khuâng, hình ảnh duyên dáng và âm điệu du dương. Ông làm thơ về lịch sử và truyền thuyết, đất nước và thiên nhiên, ông ca ngợi tình thương, lòng tốt, chịu đựng cuộc đời.
LÊ HUỲNH LÂMTừ “Vọng sông quê” đến “Mang” của Nhà xuất bản Trẻ, rồi “Gửi thiên thần” của Nhà xuất bản CAND và bây giờ là “Đồng hồ một kim” của Nhà xuất bản Văn Học” được gửi đến bạn đọc, Phan Trung Thành đã khẳng định được gương mặt thơ của thế hệ 7.X. Ở đây, số lượng tác phẩm không định hình nên một gương mặt thơ, mà chính những câu chữ đã vẽ lên chân dung một nhà thơ.