Mẹ sau núi

14:55 06/01/2009
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGNgày xưa nhà mẹ nghèo hung, cơm không có ăn, khố không có mặc, suốt ngày lang thang trong rừng đào củ mài củ sắn kiếm cái cho vào bụng. Có ngày không tìm được chi, bụng đói lắc lư.

Mẹ Kăn Hốt ngồi giữa nền nhà, lưng còng trên tấm zèng sắp dệt xong, miệng cười trỏm trẻm. Mẹ là người dệt zèng giỏi nhất vùng, là nghệ nhân, nhiều khách đến thăm. Mẹ dệt zèng nhanh, ba ngày xong một tấm. Mẹ cứ cặm cụi ngày qua ngày như thế, được ba mươi tấm zèng thì làm một chuyến qua bán tận xứ Lào. Một mình mẹ băng rừng vượt suối, ngày đi đêm nghỉ, hết năm ngày năm đêm thì qua được đất Lào. Mẹ đi vậy mà không sợ thú dữ ăn thịt à? Không. Mẹ cũng là một con thú giữa rừng mà! Mẹ biết cách tự bảo vệ mà! Zèng của mẹ đẹp, chỉ một vòng quanh bản Lào là hết veo. Bao nhiêu tiền bán zèng mẹ cho hết vợ chồng người con trai sinh sống bên Lào, họ nghèo lắm, cả cho bạn bè của mẹ nữa. Ở xứ Lào mẹ có nhiều bạn, ai cũng thương mẹ. Mẹ lại nheo nheo con mắt cười, chỉ có chồng mẹ là không biết thương mẹ thôi.

Họ không thương mẹ, họ ác với mẹ lắm. Bởi vì họ ác cho nên đời mẹ mới khổ nhiều. Mẹ lấy chồng sớm, năm mười hai tuổi. Nhà họ giàu có nhất vùng, họ đem nhiều heo, nhiều bò đến bắt mẹ đi. Mẹ không ưa họ. Nhà mẹ nghèo nhưng ngày xưa mẹ đẹp lắm, nhiều người ưa mẹ. Mẹ cũng có ưa một người. Nhưng người đó không phải là họ, không giàu có như họ. Họ đến nhà bắt mẹ đi, mẹ sợ quá chạy trốn vô rừng. Mẹ lang thang trong rừng như con mang đói, mệt mỏi, phờ phạc. Mẹ nhai rau rừng, ngủ trong hang tối. Con chồn hoang nhìn mẹ thương cảm bỏ đi. Con ve rừng thấy mẹ tội nghiệp không dám kêu động. Vậy mà họ cũng tìm ra, bắt được mẹ về. Họ trói mẹ vào gốc cây, trói hai tay lên trên, trói hai chân xuống dưới. Vậy là mẹ có con với họ. Mẹ bị trói tám lần, đẻ tám người con. Mẹ buồn hung nên con mẹ cũng buồn mà chết yểu, chỉ còn bốn người: Quỳnh Nâng, Kăn Năn , Kăn Lia, Kăn Lát. Quỳnh Nâng lớn lên, lấy vợ rồi đem vợ qua Lào làm ăn. Nhà Quỳnh Nâng nghèo lắm, hay xin tiền mẹ, xin mấy mẹ cũng cho, lại còn gửi cháu về cho mẹ nuôi. Chỉ có ba con gái Kăn Năn, Kăn Lia, Kăn Lát lấy chồng quanh đây, họ thương mẹ, hay cho mẹ cơm. Bố Cu Mơl từ trong phòng ngủ bước ra, dáng lưng còng ngật ngà ngật ngưỡng, ho sù sụ. Mẹ nói nhỏ, hôm qua họ qua nhà con rể uống rượu, họ còn say rượu đấy. Bố càm ràm một tràng tiếng Tà Ôi dài. Mẹ phiên dịch: họ nói mẹ già rồi, nói chuyện bố láo bố lếu.

Bố Cu Mơl là anh trai của già làng Cu Xe. Khi mẹ có con trai đầu lòng thì Cu Xe vào bộ đội. Thời đó trai làng ai cũng vào bộ đội theo Đảng theo Bác Hồ. Cu Xe đi lâu hung, đi không có tin tức. Rồi một hôm Cu Xe đột ngột về làng, rủ mẹ cùng đi, rủ thêm nhiều người nữa. Anh Uôn vào bộ đội chủ lực, anh Ôm vào du kích. Mẹ rủ thêm mấy chị em Blôm, Bliêu, Blâng cùng đi. Mẹ thấy đi vui. Vả lại đời mẹ buồn tủi nhiều rồi. Chồng lười nhác không thương, con chết lần lượt... Cu Xe bảo mẹ đi để đổi đời. Mẹ tham gia Hội Phụ nữ, đi gùi gạo cho bộ đội ăn, đi tải đạn cho bộ đội giết giặc. Những ngày đó thật vui. Mẹ được các anh bộ đội dạy cho tiếng phổ thông. Ngày công tác mệt nhọc, tối liên hoan ca hát quây quần. Mẹ như được sống lại, như điệu cha chấp gọi bạn rạo rực trong đầu mẹ, trong bụng mẹ. Những đôi trai gái yêu nhau hát lời cha chấp tình tứ. Người con gái hát rằng:
Ơ... em dệt tấm zèng này làm mái nhà đón anh...
em đan sợi teng này cột lên xà nhà đón anh về...
Người con trai ngậm cây arèng thổi say sưa, rồi hát đáp:
Ơ... anh về đan cái gùi cho em đi rừng...
anh đan cái giỏ cho em đi suối...
Ừ, những ngày đó thật vui. Cu Xe nói đúng, mẹ đi để được đổi đời. Mẹ đi liền một mạch, được cấp trên tặng cho nhiều nhiều cái giấy khen thì hết sạch giặc thù. Hòa bình rồi, bà con trên núi cao lại gọi nhau về đây lập làng, dựng nhà phát rẫy.
Cu Xe làm già làng.
Mẹ dệt zèng.

...Bố Cu Mơl ngồi bệt bên thềm, đờ đẫn, hơi rượu còn chưa tan...
Mẹ nói: mẹ già rồi nhưng tóc mẹ không bạc. Bởi vì lòng mẹ to, tình cảm mẹ to. Mẹ thương người, thương mấy con. Mai kia mấy con về lại đồng bằng mẹ nhớ, mẹ sẽ khóc. Khi nào mấy con quay trở lại thăm mẹ? Khi đó chắc mẹ chết rồi. Cu Xe làm già làng, sẽ cúng cho mẹ. Bố Cu Mơl lại càm ràm một tràng tiếng Tà Ôi dài. Mẹ già rồi, nói chuyện bố láo bố lếu. Thật, mẹ không bố láo bố lếu. Ai rồi cũng chết. Ai rồi cũng sẽ về sau núi. Việc đó Cu Xe rành lắm. Cu Xe sẽ chôn mẹ xuống đất, sẽ làm lễ cải mả cho mẹ sau ba năm theo đúng tục lệ của người Tà Ôi. Ngày cải mả là ngày cúng gọi linh hồn. Người ta lấy một ít máu lợn hay máu gà, thêm một dúm gạo rẫy cho vào một cái đĩa, đặt trên mộ. Rồi hát: mời anh mời chị ở đâu trong rừng sâu ở đâu bên bờ suối thì về với chúng tôi, về với làng để ăn một bữa no say. Một lúc sau có con châu chấu nhảy vào đĩa, người ta bắt lại bỏ vô một ống nứa. Mỗi con châu chấu là một linh hồn. Bao nhiêu con châu chấu bay vào đĩa là bấy nhiêu linh hồn người thân trở về tụ họp. Không cứ là châu chấu, nhiều khi linh hồn theo về trong con kiến li ti, con đom đóm lập lòe. Xong xuôi, đem ống nứa đặt vào một manh chiếu con, cuộn tròn lại, hai người gánh hai đầu. Cứ thế mà đi quanh, vừa đi vừa khóc, hò tưởng nhớ. Đêm hôm đó, người ta sẽ đánh trống, đánh la mời bà con thân thích đến chơi, ăn uống, hát hò suốt đêm. Người Tà Ôi mà đánh trống thì nghe buồn lắm, không như tiếng trống của người Pa Kô. Sáng hôm sau, trời còn tờ mờ sương, người ta mở ống nứa cho đàn châu chấu bay đi...
Mẹ nói: mẹ không thích làm con kiến vì kiến rù rì, chậm chạp.
Mẹ không thích làm con đom đóm vì đom đóm khi sáng khi tối lập lòe.
Mẹ chỉ thích làm con châu chấu để về, vì châu chấu về nhanh mà bay đi cũng nhanh...
                              Thôn A Hươr, Nhâm, A Lưới - 9/8/2006
                                           P.N.T

(nguồn: TCSH số 212 - 10 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN QUANG HÀ                        Truyện kýHoà thượng Thích Đôn Hậu gọi đại đức Thích Trí Diệm lên phòng riêng:- Ta đang mắc công chuyện không thể xa Huế được trong thời gian này, nên ta cử thầy vào chùa Hải Đức, Nha Trang tham gia cuộc thuyết pháp quan trọng tại đó. Thầy đi được chớ?Đại đức Thích Trí Diệm cúi đầu thưa:- Dạ, được ạ.

  • VĨNH NGUYÊN                Truyện kýSau “vụ” gặp em, tôi băn khoăn lắm lắm. Là bởi trước đó - trước quả rốc-két mà chiếc F4H phóng xuống và em bị thương dưới đùi, em đang chờ tháo dây thuyền ở hốc đá, còn tôi thì giữ lấy ống ti-dô cho nước vào hai cái thùng phuy trên thuyền cho em. Hai chiếc thùng phuy 400 lít nước sắp tràn đầy. Như vậy là quá đủ thời gian cho chúng ta có thể hiểu biết về nhau, tên tuổi, quê hương bản quán.

  • ĐẶNG VĂN SỞ          Ghi chépKhông hiểu sao tôi lại đi tìm anh - anh Nguyễn Đức Thuận - người anh chú bác ruột cùng chung sống dưới một mái nhà với tôi. Tôi chỉ nhớ là hồi đó chồng của cô tôi nằm mơ thấy anh, và bác vào tận Nha Trang để đi tìm anh Mậu, người đồng đội và là người chứng kiến lúc chôn cất anh.

  • NGUYỄN QUANG HÀMột buổi sáng vợ chồng anh Thảo, chị Ái đang đèo nhau, phóng xe Honda trên đường Nguyễn Trãi, một con đường lớn của thành phố Huế, bỗng có một người lao thẳng vào xe anh Thảo. Nhờ tay lái thiện nghệ, nên anh Thảo đã phanh xe kịp. Hai vợ chồng dựng xe, ra đỡ nạn nhân dậy.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGBút kýAnh đã xứng đáng với danh hiệu "Nghệ sĩ Nhân dân" của nhà nước ta phong tặng. Riêng Hội Nghệ sĩ điện ảnh Nhật Bản đã tặng cho anh giải thưởng vẻ vang dành cho người nghệ sĩ thuật lại sự tích dân tộc mình bằng điện ảnh...

  • ĐÀO XUÂN QUÝĐã lâu lắm, có đến hơn hai năm, kể từ khi bị tai nạn ở chân tôi chưa đi vào các hiệu sách, kể cả các hiệu sách ở Nha Trang. Đi tới các hiệu sách thì xa quá, đi bộ thì không đi nổi, mệt và nóng lắm, mà đi xe thuê thì cũng khó, vì họ không phải chỉ đưa mình tới nơi mà còn phải đợi hàng giờ khi mình phải tìm chọn sách nơi này nơi nọ, quầy này quầy khác v.v...

  • NGUYỄN THANH CHÍHai mươi tám tuổi, nó không biết chữ và không quen đi dép, mặc áo quần dài; lầm lũi, ít nói nhưng rất khoẻ mạnh... Với nó rừng là nhà, các lối mòn trong rừng thì thuộc như lòng bàn tay... Đó là Trương Ngọc Hoàng, sinh năm 1977.

  • NGUYỄN TRỌNG BÍNHMọi chuyện xẩy ra suốt 55 ngày đêm ở đơn vị trong cuộc tổng tiến công nổi dậy xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tôi đều nhớ như in. Thế mà, lạ lùng thay, suốt thời gian đó, hàng ngày mình ăn thế nào, lại không nhớ nổi. Chỉ nhớ mang máng có lúc ăn cơm nắm, ăn lương khô. Về giấc ngủ, có thể là tranh thủ nửa ngủ nửa thức giữa 2 trận đánh hoặc lúc ngồi trên xe trong đội hình hành tiến. Cố hình dung, tôi nhớ được bữa cơm chiều ở dinh Độc Lập, hôm 30-4-1975.

  • NGÔ MINHỞ CỬA NGÕ XUÂN LỘCSư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975.

  • HUỲNH KIM PHONG(Chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền , thống nhất đất nước 30.4.1975 - 30.4.2005)

  • LÊ HOÀNG HẢICon người từ khi cảm nhận thế giới xung quanh là lúc cảm được sự xa vắng, ly biệt... Nhớ hồi thơ dại, đứng trên bến sông trước nhà nhìn sang Cồn Hến thấy sông rộng lắm cứ nghĩ khó mà bơi sang sông được. Mỗi lần đi bộ từ nhà lên cầu Gia Hội dù chỉ vài trăm mét nhưng lại cảm thấy rất xa. Càng lớn khôn cảm nhận về khoảng cách được rút ngắn. Nhưng lạ thay khoa học ngày càng khám phá không gian, vũ trụ thì chạm đến cõi vô cùng.

  • HỒ NGỌC PHÚTôi về lại Huế sau trận lụt tuy muộn nhưng khá lớn vào gần cuối tháng 12 năm 2004. Ngồi ở quán cà phê Sơn bên bờ chân cầu Trường Tiền, nhìn sông Hương vào lúc sáng sớm sao thấy khang khác, trong có vẻ như sáng hơn ngày thường.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGĐã lâu tôi không hề nhắc đến hoa, và tôi cảm thấy tôi đã có lỗi đối với những người bạn tâm tình ấy dọc suốt một quãng đời chìm đắm trong khói lửa. Thật ra, những cánh hoa nhỏ bé và mong manh ấy đã viền con đường tuổi trẻ đầy kham khổ của tôi. Chiến chinh qua rồi có nhiều cái tôi đã quên, nhưng những cánh hoa dại dọc đường không hiểu sao tôi vẫn nhớ như in, như thể chúng đã được ấn vào trí nhớ của tôi thành những vết sẹo.

  • NGUYỄN THẾ QUANG(Chuyện tình chưa kể của nhà thơ Hoàng Cầm)

  • VÕ NGỌC LANTôi sinh ra và lớn lên tại vùng Kim Long, một làng nhỏ thuộc vùng cận sơn, không xa Huế là bao. Bởi thuở nhỏ chỉ loanh quanh trong nhà, trong làng ít khi được “đi phố” nên đối với tôi, Huế là một cái gì thật xa cách, thật lạ lùng. Đến nỗi tôi có ý nghĩ buồn cười: “Huế là của người ta, của ai đó, chứ không phải là Huế của tôi”, ngôi chợ mái trường, một khoảng sông xanh ngắt và tiếng chuông chùa Linh Mụ... mấy thứ ấy mới là của tôi.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhân một lần ghé ngang Paris , võ sư người Huế Nguyễn Văn Dũng đã đi thăm sông Seine. Đứng lặng lẽ bên dòng sông thơ mộng bậc nhất nước Pháp, bỗng lòng ông nhớ sông Hương quá trời. Về lại Việt , ngồi bên bờ sông Hương, ông vẫn hãy còn thấy nhớ cồn cào cái dòng chảy thầm thì trong sương mù như một nhát cắt ngọt ngào giữa trái tim đa cảm.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGTôi rẽ vào nhà Thiệp để đưa bé Miên Thảo đi học. Cô bé hét vang nhà để bắt tìm cho ra chiếc dép đi trời mưa lạc nơi đâu không biết. Miên Thảo mặc chiếc quần Jean xanh và khoác áo len đỏ, choàng một chiếc phu la cổ màu đen trông thật đỏm dáng.

  • NGUYỄN QUANG HÀSông Bồ là con sông không dài, nhưng đẹp ở về phía Bắc Huế. Phía tả ngạn, hữu ngạn vùng thượng lưu sông là hai huyện Phong Điền và Hương Trà, vùng hạ lưu sông chảy qua Quảng Điền rồi đổ vào phá Tam Giang. Làng xóm hai bên bờ sông khá trù mật.

  • MINH CHUYÊN (Tiếp Sông Hương số 12-2008)

  • MINH CHUYÊN (Tiếp theo và hết)