(Để tưởng niệm thi sĩ Mary Oliver, vừa mất ngày 17 tháng 1, 2019, tại Florida, 83 tuổi)
ĐỨC TÙNG
Thi sĩ Mary Oliver
Rainer Maria Rilke: “Không có gì dễ bị đập vỡ hơn là sự xấu xa.”
Mùa hè này, tôi thường đọc lại Oliver. Nhớ một mùa hè khác trong ký ức, một mình đứng trong tiệm cà phê lướt vài trang sách, gặp bài thơ của bà. Đó là một mùa hè lạ lùng, tuyết rơi trắng xóa vào tháng Sáu, nhẹ hẫng trên tay, khi chúng tôi vừa kết thúc năm học ở đại học, nghỉ hè. Những ngày tháng tối đen hun hút, trượt đi dưới chân như băng vỡ. Có lần nào trong đời bạn nhận ra mình mất tất cả, đứng trước một tương lai mù mịt không lối thoát? Có khi nào bạn giật mình vì đọc được một cái gì như bài thơ hay truyện ngắn?
Rồi một ngày kia bạn hiểu ra
Khởi đầu của triết học là hoài nghi. Trong đời sống, sự không bằng lòng, bất mãn với tình trạng hiện tại là bước khởi đầu cho cái mới. Sự đau khổ là điều kiện bắt buộc cho bạn trưởng thành, thất bại là những ngày chuẩn bị, lẫn lộn, phân vân, thậm chí cay đắng giận dữ trước những giá trị bị thách thức, là cánh cửa sắp được mở bật ra. Nhưng bên này cánh cửa, sẽ có bao nhiêu người níu tay bạn lại?
Cũng khá nhiều.
Rồi một ngày kia bạn hiểu ra
Ta phải làm chi đời mình
Và bạn bắt đầu. Mặc cho thiên hạ
Không ngớt đưa lời khuyên bậy bạ
Ngay cả những bài thơ dịu dàng nhất của Oliver cũng thường được khởi động mạnh mẽ. Một khi bắt đầu, người đọc bị cuốn hút vào dòng ngôn ngữ của bà, như suối chảy đi giữa hai bờ, một bên là kỳ vọng của người đọc và một bên là sự bất ngờ của chính anh ta.
Một bài thơ hay có khả năng làm cho người đọc xúc động. Hiếm hơn, chúng làm bạn bất ngờ, giật mình. Mỗi khi đọc lại bài “The Journey” của Mary Oliver với đoạn mở đầu trên đây, lòng tôi đều dâng lên một nỗi niềm khó tả.
Ta đợi em từ ba mươi năm
Uổng hoa phong nhụy hoài trăng rằm
Đó là mối tình của tôi, dài lâu, tan vỡ trong bão tuyết mùa hè. Đó có thể là một lời trách yêu gửi đến cố nhân. Nhưng cũng có thể là câu hỏi mà Vũ Hoàng Chương dành cho chính mình hay cho cuộc đời, vượt ra ngoài tình yêu. Nhà thơ quay lại nhìn quá khứ, có lẽ cùng lúc nhìn lại cuộc đời của anh em bè bạn, của một thế hệ và mấy mươi năm đất nước nhiễu nhương, ly tán, lao đi trong huyễn mộng bạo lực. Đó là một câu thơ hoài niệm, một câu thơ thế sự, một câu thơ tập thể được viết với tâm thức cộng đồng, mặc dù là thơ tình.
Trong khi đó, bài thơ của Oliver là một bài thơ cá nhân, thức tỉnh, một bài thơ tâm linh. Nhìn lại: một cuộc đời không được xem xét, đánh giá, là một cuộc đời phí hoài, không đáng sống. Thơ tự do dùng ngôn ngữ gần với văn xuôi. Tuy nhiên sự khác nhau giữa văn xuôi và thơ là trong thơ không có một trật tự thứ hai. Trật tự của các chữ chính là hiện thân thực thể của một cấu trúc cao hơn. Ví dụ như là nhạc điệu. Nhạc điệu là một vấn đề riêng tư, cá nhân, như vân tay, như tiếng nói, là cái nền của bất kỳ sự đổi mới nào, nơi các nhà thơ từ bỏ các truyền thống. Những hình thức thật sự mới bao giờ cũng phản ánh nhận thức mới. Hơn thế nữa, nhịp điệu trong thơ của một nhà thơ chính là nhịp điệu của đời sống thật của anh ta, của hơi thở, trái tim. Nó là phương cách duy nhất mà nhà thơ giữ gìn các sự vật, đời sống, các ý tưởng và cảm xúc, cố gắng bảo tồn chúng như hóa thạch trong thời gian.
Hành trình
Rồi một ngày kia bạn hiểu ra
Ta phải làm chi đời mình
Và bạn bắt đầu. Mặc cho thiên hạ
Không ngớt đưa lời khuyên bậy bạ
Mặc cả căn nhà
Bắt đầu rung chuyển
Cảm giác hiện dần cái nhéo ở cổ chân
Nhắc nhở: hãy giúp tôi trước đã đi nào!
Toàn những tiếng kêu gào.
Nhưng bạn không dừng lại.
Bạn biết mình cần phải làm gì
Mặc gió bão giật tung mọi thứ
Mặc cuộc đời hú gọi khắp nơi.
Đã muộn
đủ rồi, đêm tối hoang vu
Con đường nhỏ, đầy cành, đầy sỏi đá.
Từng chút từng chút một,
Bạn bỏ lại sau lưng những tiếng kêu nhí nhố
Rồi những ngôi sao dần dần sáng tỏ
Chiếu qua vầng mây đen
Một tiếng nói mới, vang lên
Mạnh mẽ, bạn từ từ nhận biết
Đó thật là tiếng nói của mình thôi
Nó trở thành người sánh đôi với bạn
Khi ngày càng sâu hơn, bạn dấn bước
vào thế giới này, quả quyết
làm một điều duy nhất
đó là kiên tâm cứu lấy
Một cuộc đời. Chỉ cuộc đời này của bạn mà thôi
The Journey
One day you finally knew
what you had to do, and began,
though the voices around you
kept shouting
their bad advice–
though the whole house
began to tremble
and you felt the old tug
at your ankles.
“Mend my life!”
each voice cried.
But you didn’t stop.
You knew what you had to do,
though the wind pried
with its stiff fingers
at the very foundations,
though their melancholy
was terrible.
It was already late
enough, and a wild night,
and the road full of fallen
branches and stones.
But little by little,
as you left their voices behind,
the stars began to burn
through the sheets of clouds,
and there was a new voice
which you slowly
recognized as your own,
that kept you company
as you strode deeper and deeper
into the world,
determined to do
the only thing you could do–
determined to save
the only life you could save.
Bản dịch ngắt câu, nhưng nguyên tác của bài thơ viết liên tục. Đó là sự cố ý của tác giả, làm cho bài thơ có nhịp mạnh.
Hình ảnh tiết kiệm, chi tiết cụ thể: căn nhà, cổ chân, tiếng kêu gào, những ngôi sao. Sự ngắt câu gẫy gọn:
It was already late
enough
Đủ rồi có thể là muộn đủ rồi, có thể là sai lầm đủ rồi, có thể là con đường mà chúng ta đi đã mòn rồi, mọi chuyện mà chúng ta đã làm như thế đã quá cũ rồi cho một sự khởi đầu khác.
Về mặt hình thức, một bài thơ, cũng như một truyện ngắn, thường có một bước ngoặt về sự kiện hay về nhận thức. Tôi để ý rằng không có bước ngoặt, không có bài thơ nào có hy vọng thành công.
Những ngôi sao là hình ảnh đứng ở khúc quanh này: hình ảnh đẹp, nhưng dễ trở thành sáo vì được dùng nhiều. Mỗi lần bắt gặp các chữ như mặt trăng, trái tim, mái tóc, đôi mắt, bàn tay, bộ ngực, sex, tôi đều giật mình vì biết trước rằng thế nào tác giả của các hình ảnh đó cũng vấp và ngã. Trái với nhiều người tưởng, nhà thơ không thể vừa đi vừa nhắm mắt mơ màng.
The stars began to burn
Cháy đỏ lên, chứ không phải chỉ là chiếu sáng. Hình ảnh tự nhiên, đúng là cái mà ta bắt gặp khi đang đi trên đường trong đêm tối và các ngôi sao là thứ ánh sáng đầu tiên, báo hiệu, dẫn đường. Tuy nó vẫn còn có ý nghĩa biểu tượng (symbol) nhưng nhờ sự tự nhiên và lối nói trực tiếp mà nó tránh được cái bẫy của các ẩn dụ sáo rỗng. Đọc, ta tin là điều này có thể xảy ra.
Nhưng khoan đã, bạn nghĩ bạn là người như thế nào?
Là người thất bại từ đầu đến cuối, công danh lận đận, hôn nhân trắc trở, học thức thuở thiếu thời trở thành thứ thông minh lặt vặt, chạy chọt loanh quanh? Hay bạn là người thành công, đi đúng đường, tiếng tăm lừng lẫy, làm ăn một vốn bốn lời, người ngoài nhìn vào ai cũng ao ước?
Nhưng có chắc thế không?
Cuộc sống hàng ngày
nhỏ nhen
tàn bạo
Rác rưởi gia đình
miếng cơm
manh áo
Lê Đạt viết những câu thơ này năm 1956, để nói về thời trước đó, nhưng có lẽ ông không ngờ rằng chúng cũng đúng cho chính thời đại của ông và sau ông.
Tôi biết rằng bạn đã từng biết đến ý tưởng này đâu đó, đã nghe ai nói hồi còn nhỏ. Đã đọc trong sách. Hay bạn chẳng đọc ở đâu cả và bạn tự mình nghiệm ra nó từng ngày từng ngày một, nhưng bạn chưa đi tới đó, chỉ gần tới mà thôi: sức bạn chỉ có hạn.
Niềm ao ước được sống một cuộc đời đầy ý nghĩa bị dập tắt ngay khi người ta lớn lên, sau một khúc quanh. Những giấc mơ thời trẻ tàn đi trong mưa gió của cảnh đời, một không khí làm việc tẻ nhạt nặng nề đầy rẫy sự vô lý không thể giải thích được làm bạn mụ mị cả người, về trí tuệ lẫn tâm hồn. Bạn mòn đi như chiếc áo sơ mi trong máy giặt đồ hiện đại ngày này qua ngày khác, những sợi chỉ hồng phai màu nhạt sắc, dần dà đến nỗi bạn không bao giờ để ý khi nào nó xảy ra.
Nhưng sự thay đổi cũng có thể không đến từ hoàn cảnh cá nhân mà từ sự đổ vỡ của một niềm tin hay một tư tưởng lớn lao hơn. Như trong câu thơ của Trần Đăng Khoa:
Bao thần tượng ta tôn thờ, cung kính
Mưa nắng bào mòn còn trơ lõi đất thôi
Một buổi chiều nào đó, giữa bộn bề công việc hay bận rộn tiệc tùng, thờ ơ bước ngang qua chồng sách cũ, bạn rút một cuốn sách cầm tay, mở ra và trong khi đứng chờ vợ bạn ngồi trước gương trang điểm xong, bạn cúi xuống đọc thử vài đoạn. Như tôi đã đọc trong quán cà phê một ngày hè tuyết rơi rực rỡ. Một trang sách đã lay động một điều gì lớn lao trong mình.
Mặc cả căn nhà
Bắt đầu rung chuyển
Cảm giác hiện dần cái nhéo ở cổ chân
Though the whole house
Began to tremble
And you felt the old tug
At your ankles
Mary Oliver sinh ra và lớn lên ở Maple Heights, Cleveland, Ohio, một môi trường mà thơ Oliver sau này sẽ ghi lại dấu ấn. Bà sinh ngày 10, tháng 9, 1935. Thuở nhỏ bà chịu ảnh hưởng của nhà thơ Mỹ Edna St Vincent Millay, nhà thơ nữ đầu tiên được giải Pulitzer, và đã từng sống một thời gian ngắn ở nhà của Millay. Bà xuất bản tập thơ đầu vào năm hai mươi tám tuổi, 1963, và sau đó viết rất đều tay, với sức làm việc phi thường. Từ những năm 1980, Oliver dạy ở trường đại học Case Western Reserve University. Thường viết về mùa màng, hoa cỏ, thú vật, cây cối, thơ bà tràn ngập một tình yêu bát ngát đối với con người, thiên nhiên, chứa đựng một nền tảng triết lý sâu sắc, nhân từ. Được trao Giải thưởng Pulitzer năm 1984 và nhiều giải thưởng khác, Oliver là một trong vài nhà thơ kiệt xuất hiếm hoi của Hoa Kỳ hiện nay.
Oliver được xem là một nhà thơ của thiên nhiên và trong nhiều bài thơ nổi tiếng của bà, thiên nhiên vừa là đối tượng thực sự vừa là tiếng nói đồng tình, là hình ảnh gợi ý, là môi trường truyền đi thông điệp, nhưng lại có khả năng trở thành nơi cất giữ thông điệp. Bà sử dụng một kỹ thuật vần điệu ít gặp trong các nhà thơ làm thơ tự do.
Thử nghe Oliver nói về cái chết:
When death comes
like the hungry bear in autumn;
when death comes and takes all the bright
coins from his purse
Khi cái chết đến bất thần
Như con gấu đói lượn gần mùa thu
Khi cái chết đến bất ngờ
Lộn trong túi áo đồng xu cuối cùng
Những âm comes, autumn, comes liền nhau gây cảm giác gầm gào hoang dã, thì thầm huyền bí. Cái chết không còn là cái chết trừu tượng, nó hóa thân vào con gấu đói đi lang thang tìm mồi trong mùa thu rừng phong vàng rực đá núi khe truông Bắc Mỹ, trong những đồng xu sáng chói cuối cùng mà cái chết dùng để mua đứt linh hồn người sống.
Thơ đi giữa hai đối cực: một bên an toàn và một bên nguy hiểm. Nó luôn luôn vận động tiến về cái chết. Bài thơ hay nằm ở biên giới của cái chết ngôn ngữ.
Tôi cũng nghĩ rằng, những bài thơ thành công mang trong nó một khoảng cách bắt buộc giữa ngôn ngữ và sự hiểu biết. Khoảng cách đó không bao giờ được lấp đầy, càng tiến từ ngôn ngữ về phía hiểu biết thì sự hiểu biết càng lùi xa, càng tiến từ sự hiểu biết về phía ngôn ngữ thì ngôn ngữ càng phôi pha, trôi dạt, đổi màu.
Vì không có vần điệu nhất định, thơ tự do cần ở người đọc hai điều. Sự đoán trước nhịp điệu của thơ, sự ngắt dòng xuống câu, sự ngừng ở giữa hai chữ trong một câu, thông qua kinh nghiệm đọc thơ của mỗi người. Tôi lấy làm tiếc rằng, do không chú ý, rất nhiều nhà thơ đã hạ câu chữ, dấu chấm, dấu phẩy không theo một quy luật riêng nào. Điều thứ hai là sự bất ngờ. Mối quan hệ giữa điều đã biết và điều không biết giữ sự thăng bằng cần thiết của các tác phẩm nghệ thuật nói chung. Nếu sự tiên đoán thỏa mãn một cách dễ dàng, chúng ta gặp một bài thơ tầm thường, nếu sự tiên đoán hoàn toàn bị lệch đi, người đọc sẽ không đọc nữa. Mặc dù đối với một số độc giả vào một lúc nào đó, một số bài thơ có thể quan trọng hơn về nội dung so với hình thức, và một số bài thơ khác có hình thức quan trọng hơn nội dung, nhưng nhìn chung không thể kết luận như thế đối với một bài thơ cụ thể trong mọi trường hợp.
Thơ của Oliver không có những biểu hiện xúc cảm. Ít khi tìm thấy trong thơ của bà sự đau đớn, sự tiếc thương, lời than khóc hay ca ngợi. Đó không phải là sự khô lạnh mà là sự tiết chế điềm đạm của một trái tim nồng nàn.
Tôi tin rằng để làm mới thơ Việt Nam, cần bắt đầu từ chỗ từ bỏ lối làm thơ và đọc thơ nặng về xúc cảm, hoặc ngược lại, nặng về thực nghiệm hời hợt, tung hứng bề ngoài. Phá phách trong văn chương là tuyệt đối cần thiết: chỉ có sự giả tạo của phá phách mới là sát thủ của nó mà thôi.
Người đọc sẽ bảo nhau:
Bạn cứ thoải mái nhìn thực đơn
Nhưng chẳng thứ gì bạn ăn được
You can look at the menu
But you just can’t eat
(Một ca khúc của Howard Jones)
Khi đọc một bài thơ, đó không phải chỉ là hoạt động thính thị, nó còn là một hoạt động văn hóa và tâm thức: cả ý thức lẫn tiềm thức, cả cái tôi và cái ta đều tham dự vào. Thơ là tấm gương soi mặt của một nền văn học, đúng hơn là, của một nền văn hóa.
Là một tài năng điệu nghệ, Oliver lại tránh dùng thủ pháp tu từ trong thơ. Tôi thấy phong cách của bà có phần nào giống Emily Dickinson. Oliver tỏ ra do dự ở phần kết thúc, Dickinson tỏ ra do dự ngay ở lúc mở đầu. Trong bài thơ này, tránh sử dụng các vần hiển lộ, thay thế vần bằng các phương pháp như: các vần lưng, vần phụ âm, các ý liền nhau, các câu liền nhau, nối vào thành một câu văn phạm, sử dụng rất nhiều chữ you kèm với các chữ though, through, làm cho bài thơ là một cấu trúc xoay quanh một vòng xoắn chính.
Bằng cách nào một bài thơ như bài thơ trên đây lại có quyền năng thay đổi?
Không ai biết chính xác. Có thể có nhiều cách. Người duy nhất có thể cho phép bài thơ phát động quyền năng của nó chính là người đọc, là bạn. Bạn là người giữ cánh cửa của tâm hồn mình. Bài thơ nói cho bạn biết rằng ngoài cuộc đời mà chúng ta đang sống đây còn có một cuộc đời khác nữa, ngoài những thành tựu mà bạn thấy, mà bạn đã đạt được, còn có những thành công khác mà bạn không bao giờ biết tới.
Mặt khác, bạn chưa bao giờ dám nghĩ rằng bạn là một người thất bại, rằng cảnh đời mà bạn đang chung sống là một cảnh đời xấu xa. Muốn như thế, bạn cần phải can đảm để nhận ra và vượt qua chúng. Bài thơ làm bạn thay đổi nhận thức đối với thế giới, và vì đó là một quá trình nhận thức có tính hình ảnh (figurative), nó cũng có khả năng làm thay đổi chính cảm xúc của chúng ta.
Kết thúc ân cần, nhưng quyết liệt:
làm một điều duy nhất
đó là kiên tâm cứu lấy
Một cuộc đời. Chỉ cuộc đời này của bạn mà thôi
Đọc những bài thơ như thế này người ta không thể tiếp tục sống như ngày hôm qua được nữa.
Muốn tìm lại chính mình. Muốn tiến về phía nguy hiểm. Muốn thoát ra khỏi sự mù mờ tăm tối, sống một cuộc đời trong sạch, đẹp đẽ, hạnh phúc hơn, nếu quả thật có khả năng hiện hữu một cuộc đời như thế.
Đ.T
(SHSDB32/03-2019)
-----------------
Nguồn:
- Rainer Maria Rilke, The Wisdom of Rilke, English by Ulrich Baer, Modern Library, New York, USA
- Mary Oliver, Dream Work, Grove/Atlantic, USA.
- Mary Oliver, New and Selected Poems, Volume Two, Beacon Press, USA.
- Thơ Việt Nam thế kỷ XX, Thơ trữ tình, Nxb. Giáo Dục, Việt Nam.
TRẦN THÙY MAI.Năm giờ sáng, máy bay chở chúng tôi đáp xuống sân bay Incheon. Giọng nói ngọt ngào của nữ tiếp viên vang lên với lời cảm ơn và câu chào tạm biệt, sau khi báo một thông tin làm chúng tôi ớn lạnh: Nhiệt độ bên ngoài là 4 độ C...
ĐẶNG NHẬT MINHLà một thương cảng của Nhật Bản, nhưng Fukuoka lại được nhiều người biết đến như một thành phố của nhiều hoạt động văn hoá mang tầm quốc tế. Tôi có duyên nợ với thành phố này từ năm 1991 khi được mời tham dự Liên hoan phim quốc tế Fukuoka lần thứ nhất với bộ phim Bao giờ cho đến tháng 10.
PHẠM XUÂN PHỤNGChữ tea trong tiếng Anh là do dùng mẫu tự La -tinh để ký âm chữ trà (âm Hán Việt) mà người Trung Hoa nói rất rõ là chè. Lâu nay cứ tưởng chè là tiếng thuần Việt hoặc là biến âm của trà, hóa ra chè lại là từ gốc của trà. Mẹ mà nhầm là con, vui thật.
BÙI NGỌC TẤNLần đầu tiên đặt chân tới Châu Âu, có biết bao nhiêu ấn tượng. Ấn tượng về những nét mặt người, về những dáng người đi, về bầu trời không vẩn bụi trong veo, về những xa lộ, về những chiếc xe phóng với tốc độ 140 kilômét không một tiếng còi, nối nhau trên các con đường tám đến mười làn xe chạy không còn biên giới cách ngăn...
NGUYỄN VĂN DŨNGCó người nói Praha đẹp hơn Paris . Tôi không tin. Nhưng bây giờ thì tôi thấy nhận xét ấy không phải không có căn cứ. Praha là thành phố cổ kính nguyên vẹn nhất châu Âu, là “thành phố của trăm tháp vàng”, là “bài thơ bằng đá”, là khúc hát đắm say, là cốc rượu nồng nàn, là bức tranh tuyệt mĩ, là mảnh thời gian còn sót lại... Năm 1992, Praha được công nhận là di sản văn hoá thế giới.
PHẠM THỊ CÚCCó người nghĩ rằng, ở các nước giàu, thì ít người thất nghiệp. Không đâu, ở Pháp, người thất nghiệp cũng khá nhiều, mà đâu phải vì không có bằng cấp mà thất nghiệp, đa số họ đều có bằng kĩ sư, cử nhân, cả thạc sĩ hẳn hoi.
NGUYỄN VĂN DŨNGAmazon là tên khu rừng lớn nhất thế giới. Amazon cũng là tên con sông, theo khảo sát mới đây, là con sông dài nhất thế giới. Amazonas, quê hương của hai Amazon kia, là bang rộng nhất trong 26 tiểu bang của Brasil - rộng hơn cả diện tích của nước Anh, Đức, Pháp, Ý cộng lại. Còn Manaus, là kinh đô của Amazonas miên man núi rộng sông dài.
NGUYỄN VĂN DŨNG Tôi thật sự xúc động khi đứng trước ngôi mộ của Lý Tiểu Long. Trước đây tôi hình dung nơi an nghỉ cuối cùng của anh phải là một ngôi đền cực kỳ tráng lệ cho xứng với tên tuổi lẫy lừng của anh. Sau khi anh mất, một tờ báo ở Sài Gòn hồi đó viết đại loại trong thế kỷ XX, anh là một trong ba nhân vật nổi tiếng nhất châu Á.
NGUYỄN VĂN DŨNGVới Phật giáo, Linh Thứu là ngọn núi thiêng. Sau khi thành đạo, một thời gian dài Linh Thứu là trú xứ của đức Phật và các đệ tử của Ngài. Tại đây Ngài đã giảng kinh Pháp Hoa và nhiều bộ kinh quan trọng khác. Linh Thứu còn là nơi khởi phát dòng Thiền Ấn Độ để rồi từ đây hạt giống Thiền được gieo trồng khắp nơi trên trái đất.
PHẠM PHÚ PHONGTrong lịch sử đất nứơc Trung Hoa có sáu nơi được chọn làm thủ đô, theo thứ tự Lạc Dương, Tây An, Nam Kinh, Khai Phong, Hàng Châu và Bắc Kinh là thủ đô thứ sáu, tồn tại cho đến ngày nay. Bắc Kinh đầu tiên là kinh đô của nước Yên, nên còn gọi là Yên Kinh, sau đó đến thời Minh Thành Tổ cho xây dựng trở thành Bắc Kinh ngày nay. Với diện tích 18.826 km2, Bắc Kinh rộng gấp 18 lần so với thủ đô Hà Nội, được mệnh danh là thành phố bốn nhiều: nhiều người, nhiều xe, nhiều cầu vượt, nhiều di tích...
Từ một trại lính đầy vết đạn ở vùng California (Hoa Kỳ) đã xuất hiện một tu viện Phật giáo - Tu viện Lộc Uyển - do nhà sư gốc Huế - Thiền sư Thích Nhất Hạnh - gầy dựng. Tại đây, ảnh hưởng của Thiền học Việt Nam đã tạo được một sự chuyển hóa đầy thử thách: biến trung tâm luyện tập bắn súng trở thành thiền đường đầy ánh sáng và tình thương, có ảnh hưởng rất lớn đối với nhiếu người ở Hoa Kỳ.Sông Hương xin giới thiệu bài viết của Teresa Wattanabe đã đăng trên tờ Los Angeles Times, tờ nhật báo lớn hạng ba của Hoa Kỳ, với bản dịch của Làng Mai và ảnh của Nguyễn Đắc Xuân để giới thiệu với bạn đọc như một dòng chảy của văn hóa Phật giáo xứ Huế.
TRẦN THÙY MAICác quan chức ngành khí tượng Nhật Bản đã cúi gập mình xin lỗi toàn dân: Hoa anh đào sẽ nở ngày 23 thay vì 16 - 3 như dự báo. Đến sân bay Narita vào đúng sáng 24, tôi tự nghĩ mình đến rất kịp thời, nên khi cậu cảnh sát làm thủ tục nhập cảnh hỏi về mục đích đến Nhật, tôi đã không ngần ngại trả lời chắc nịch: “Ngắm hoa anh đào”. Cậu cảnh sát khoanh cái rụp vào lời khai của tôi và “OK” ngay với một nụ cười trên môi.
NGUYỄN VĂN DŨNGNằm giữa trung tâm bán đảo Iberia, thủ đô Tây Ban Nha trải rộng trên các ngọn đồi dưới chân rặng Sierra de Guadarrama, ở độ cao 640m so với mặt nước biển - là thành phố cao nhất châu Âu. Diện tích 607 km2. Dân số gần 4 triệu người.
KEVIN BOWEN
(Giám đốc WJC)
LTS: Trong 25 năm qua tên tuổi nhiều nhà văn, nhà thơ của Trung tâm William Joiner (Đại học Massachusetts - Hoa Kỳ) như Kevin Bowen, Fred Marchant, Nguyễn Bá Chung, Lady Borton, Martha Colline, Bruce Weigl, Lary Heinemann... đã xuất hiện trên Sông Hương cũng như trên nhiều báo chí văn nghệ, văn hoá trong nước với những tác phẩm tâm huyết, mến yêu đất nước Việt Nam cũng như những hoạt động trên các lãnh vực giao lưu văn hoá, giúp đỡ y tế, giáo dục cho Việt Nam sau chiến tranh, như những biểu hiện của sự ân hận, tủi hổ với những gì mà đất nước họ đã gây ra trên mảnh đất này.
NGUYỄN BÁ CHUNG
Tháng 10 năm 2007 đánh dấu 25 năm thành lập trung tâm Joiner. Nhưng với tôi, nó đánh dấu một đoạn đường 20 năm nổi chìm với trung tâm, trong đó có 15 năm làm thiện nguyện và 10 năm cuối cùng làm việc chính thức. Hai mươi năm là một thời gian dài đủ để nhìn lại, ghi lại một số kỷ niệm và rút ra một số kinh nghiệm để nhìn tới đoạn đường phía trước.
NGUYỄN ĐẮC XUÂNHoạt động yêu nước ở miền Nam từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, tôi không lạ gì nước Mỹ. Thuở ấy, Phan Ch. anh bạn vong niên của tôi làm phiên dịch ở cơ quan MACV ở Huế từng bảo tôi “Người Mỹ giống như một cậu bé con nhà giàu nhưng thiếu lễ độ”.
VÕ QUÊNhận lời mời của Hội đồng quốc gia vì nghệ thuật truyền thống Hoa Kỳ (National Council for the Traditional Arts), đoàn nghệ sĩ thuộc Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã tham dự Festival dân ca dân nhạc tại thành phố Lowell, bang Massachusetts, Hoa Kỳ từ ngày 25-7-1995.
NGUYỄN XUÂN THÂMChúng tôi đến Aten vào cuối tháng chín, mà buổi trưa vẫn còn oi bức như bao trưa miền biển ở Việt . Thanh Tùng và tôi loay hoay mãi vẫn không bắt được taxi để chuyển tiếp đến sân bay nội địa.
NGUYỄN VĂN DŨNGSau Cali tôi định đi Dallas, nhưng rồi chuyển hướng, tôi lên Seattle theo vẫy gọi của bạn bè. Ai ngờ cái thành phố nầy dịu dàng, xanh và đẹp đến vậy. Hèn chi người ta gọi nó là “Thành phố ngọc bích” ( Emerald City ), hay “Mãi mãi xanh tươi” ( Evergreen State ).
PHẠM THƯỜNG KHANHĐầu năm nay khi biết tôi chuẩn bị đi công tác Trung Hoa, em gái tôi, một người thơ gọi điện từ Huế ra bảo: “Anh cố gắng mà cảm nhận vẻ đẹp rực rỡ của văn minh Trung Hoa. Hình như với bệ phóng vững chắc của nền văn minh hàng ngàn năm ấy, người Trung Hoa đang có những cuộc bứt phá ngoạn mục và trong tương lai dân tộc này còn tiến xa hơn nữa”. Là một quân nhân, tôi đâu có được trí tưởng tượng phong phú và trái tim dễ rung động như em tôi, nhưng 10 ngày trên đất nước Trung Hoa đã để lại trong tôi những ấn tượng thật sâu đậm.