NGUYỄN LUÂN
Trời mưa như thác đổ, từng dòng nước đỏ ngầu tràn từ trên vàn núi dội ào ào xuống đường lớn. Thén xắn quần lên quá gối, cứ nhằm lối cũ trong trí nhớ mà sục chân bước đi.
Minh họa: Phan Thanh Bình
Những cơn mưa ầm ào kéo từ phía rừng trở ra, hơi nước vẩn lên trắng xóa một màu. Bàn chân mới đặt lên bậc thang đầu tiên ngôi nhà cũ, Thén bỗng thấy hơi lạnh chạy từ đỉnh đầu đã lan tới đến tận gót chân. Vì mưa, vì lạnh hay vì những tiếng khóc trên nhà đang nhòe đi trong tiếng nước rơi, Thén cũng không rõ.
Phía trong nhà, một người đàn ông ngồi giữa đám đông. Đôi mắt lão đỏ rực nhìn như dán vào miệng chiếc túi vải đặt dưới sàn. Đám người vây quanh từ phía sau nín thở, mắt dõi theo đôi tay to bè, xù xì như một chiếc nấm đá. Trên tay lão già cầm một nắm cơm nhỏ huơ huơ lên miệng chiếc túi. Bỗng một con rắn phóng ra đớp về phía nắm cơm. Người đàn ông nhanh chân lùi lại, rồi ngồi bệt xuống ván nhà như đã kiệt sức. Đám người phía sau cất tiếng lào xào:
- Hổ mang chúa rồi, chính nó cắn chết cái Sến!
Lão già hai tay run run ấn đầu con rắn vào lại chiếc túi. Lão khoác con rắn lên vai nặng nề bước ra cổng. Trong nhà tiếng kèn đám ma gọi vong người chết trở về vang lên não nề. Thén nhận ra người vừa rời đi ấy chính là lão Phiếng, thầy chữa rắn độc giỏi nhất ở đất này.
*
- Chị dâu mày chết rồi, mẹ cái Dím chết rồi Thén à!
Mẹ Và ngã gục vào vai Thén khóc lên từng cơn nức nở. Thén khẽ đỡ lấy thân người xơ xác như tàu lá chuối khô của mẹ. Những cơn bão cuộc đời đủ xô nghiêng một thằng trai như Thén bỏ quê đi. Nó cũng xô ngã mẹ đã bao lần. Rồi mẹ vẫn đứng lên, nhưng lần này Thén không dám tin mẹ có còn đủ sức nữa hay không. Mẹ khổ và già hơn trí nhớ của Thén nhiều đến thế. Chị Sến nằm giữa nhà, dưới lớp vải xô trắng. Hai đứa trẻ giương đôi mắt thơ dại ngồi bên cạnh, nép vào ngực bà nội như bấu víu vào sự chở che cuối cùng. Một nỗi đau đớn như muốn trào ra từ trong ngực Thén, nó lớn và lởm khởm như những viên đá hộc trên đỉnh đèo khô xám ngày nào.
Ngoài trời đã ngớt mưa. Bóng đêm tô lên những đỉnh núi một màu đen thẫm hoang vu. Rừng bao la, ngút ngàn và câm lặng. Nỗi căm hận núi rừng lại chợt vẩn lên trong lòng của Thén, nó đục ngầu như người ta ném viên đá xuống mặt hồ vừa kịp tĩnh lặng. Một nỗi oán giận chẳng thể nào nguôi tưởng chừng như vô lý. Thén sinh ra thấy rừng, lớn lên cùng với rừng. Nhưng giờ đây Thén nhìn rừng bằng quả tim nguội lạnh. Thén từng thề sẽ chẳng bao giờ đặt chân vào rừng thêm lần nào nữa. Thén đã bỏ đi, rời khỏi mảnh đất này đã hơn năm năm. Ngần ấy thời gian Thén chỉ trở về vài lần, lần nào về trong lòng cũng ngổn ngang nỗi buồn. Lần nào trở về thì ngôi nhà này cũng đang rung lên như thân cây trong cơn bão lốc.
*
- Pa có nhớ hết đường trong rừng không?
- Nhớ đường về là đủ rồi, làm người có đi xa mấy cũng phải biết đường quay về nhà mình chứ.
Tiếng Pa khe khẽ nói với Thén vào một đêm ngủ giữa rừng. Trước cái ngày đau buồn ám ảnh đến tận bây giờ. Thén nhớ như in cái khoảnh khắc anh Sang và Pa đứng hai đầu một khe đá hẹp để kéo những đường cưa vào gốc cây Găng Bầu nằm kẹt giữa hai vách đá. Pa bảo đây là cây Găng Bầu cuối cùng của dãy núi này. Sẽ chẳng còn có cây gỗ nào đẹp hơn thế nữa. Rừng đã tan hoang dưới những lưỡi cưa của từng đoàn người kéo đến, ngày đêm xẻ thịt. Cây gỗ này ngã xuống thì cuối năm anh Sang sẽ lấy được vợ. Thân gỗ đủ đóng giường, bưng ván đón dâu mới về nhà họ Triệu. Thén nhìn thấy niềm vui trong ánh mắt của anh Sang khi ấy. Thén biết anh đem lòng mình gửi vào tim, vào mắt chị Sến đã từ lâu lắm.
Vậy mà tất cả đã biến mất trong giây lát, khi cái cây đứt gốc đổ xuống, nó hướng về phía Pa mà quật tới. Thén chỉ biết đứng nhìn thân cây đè xuống người Pa ngay trước mắt. Tiếng đổ của cái cây như tiếng nổ giữa rừng chặt đứt mọi cảm giác của thằng bé mười lăm tuổi. Thén không thể nhớ mình đã hóa thành đá bao lâu để nhìn ra sự thật khủng khiếp vừa kéo đến nhanh như nhát rạch của bóng chớp giữa trời đêm. Đến khi tiếng anh Sang thét lên rồi lạc dần đi, Thén mới lao đến gồng mình đẩy cây gỗ đến bật máu mười đầu ngón tay. Nhưng có cả trăm người như Thén cũng không cứu được Pa nữa. Suốt hai ngày sau, người ta mới kéo được Pa ra khỏi cái cây, máu của Pa thấm vào những lớp mùn cưa đóng thành từng tảng thẫm đỏ dưới ánh nắng mặt trời. Thén đã không dám nhìn vào chiếc võng dù khi người ta cáng xác Pa trở về nhà. Trên con đường rừng ri rỉ tiếng ve kêu, Thén không nhớ mình đã gục xuống bao nhiêu lần.
Đám tang của Pa diễn ra trong những ngày hè. Anh Sang ngồi lả như người mất hồn bên quan tài của Pa. Anh quên cầm bát lên ăn, quên đặt đầu xuống ngủ. Mo Phớp làm phép gọi vía Pa về đã mấy ngày mà không được. Người ta bảo Pa chết đau đớn thế thì cái vía, cái hồn còn lẩn khuất ở sâu trong vách đá, khe rừng mà quên mất lối về. Khi cái vía còn đi lạc, rời xa cái thân xác thì Pa nằm xuống cũng không yên. Anh Sang nhất quyết giữ Pa ở lại đợi vía của Pa về mới thôi. Đợi một ngày, hai ngày hay nửa tháng anh cũng đợi. Mãi đến ngày thứ bảy người ta đốt lửa đón vía của Pa đến lần thứ ba, Mo Phớp trong nhà mới quệt mồ hôi, thở dồn đánh hồi chiêng báo hiệu đưa người về với đất. Mộ của Pa nằm trên mảnh nương trên gò đất cao gần chân núi. Con đường dẫn lên trên ấy đầy đá tai mèo và ngập cỏ lau xanh ngăn ngắt. Đám hàng phường khênh đòn bước đi, từng bước chập chờn như con rết lớn leo lên núi. Lâu lâu nóc nhà Lình Sền lại khựng lại khi có người bỏ đòn kiệu chạy đi nôn thốc ra từng hồi. Thén bỗng thấy mắt mình hoa lên khi nhìn thấy những dòng nước sánh vàng như những búi nhựa cây rừng mới bị đốn ngã từ kẽ ván chảy ngược ra những tay đòn, tràn cả lên vai những người khiêng áo quan. Một nỗi thương xót râm ran cháy lên trong lòng. Tiếng mẹ Và cất lên khe khẽ trong tiếng gió thổi lào rào trên những tán cây, “Sao con vía ngắn, vía dài của bố thằng Sang không về sớm hơn để thân xác mình đỡ đau đớn như thế này cơ chứ?”
Thén đắp lên mộ Pa nắm đất cuối cùng, lại nghe đâu đó từ phía rừng có tiếng đập cánh của bầy chim đang bay ngang qua. Chẳng biết trên những cánh chim ấy có con vía đi lạc của Pa đang cưỡi đạp mà bay về nhà.
*
Ngôi nhà có đám chợt phập phồng dưới ánh lửa khi trời gần về sáng. Mùi hương khói nồng nồng lẩn khuất quanh những bóng người làm lễ chập chờn giữa nhà. Thén ngồi tựa lưng vào vách nhìn lên mái ngói. Phía trên gác nơi buồng ngủ của vợ chồng anh Sang vẫn treo chiếc cưa đã cũ. Đôi tay cầm bằng gỗ ngày nào sáng bóng nay đã lấm tấm vẩn mốc. Chiếc cưa ấy đã theo chân Pa, rồi theo anh em Thén đi hết những vàn núi xa, núi gần. Giờ nó nằm đó từ ngày anh đón chị Sến về nhà. Thén nhìn chiếc cưa giương lưỡi nhọn hoắt như muốn cắt vào những tiếng ồn ào đã đặc quánh trong đêm, mà lòng bỗng trỗi dậy những điều tưởng chừng như mình đã quên đi từ lâu lắm.
Sau ngày Pa nằm xuống. Anh Sang bỗng trở thành một con người khác. Những buổi chiều khi ánh nắng sắp tàn, anh thường ngồi ở cây cầu bắc qua con suối cạn. Lòng suối mùa khô nhô lên những viên đá nhẵn, rêu xám tròn trịa như những quả trứng khổng lồ. Chiếc cầu mòn lõm bước chân người qua lại ngày ngày. Từ chỗ ấy nhìn lên luôn thấy ngôi nhà sáng đèn, phía sau là rừng hóp mọc ken dày như bức tường của chị Sến. Anh bỗng tránh mặt chị, chỉ ra cây cầu rồi quay về nhà nằm dài trước bàn thờ Pa đốt hương khói nghi ngút đêm đêm. Chị Sến đợi anh không gặp thì tìm đến nhà, chị bước chân lên thang phía sau thì anh đã xuống thang trước bỏ đi. Mẹ Và ôm ngực cầm tay chị Sến khóc bảo: “Giờ nó như con chim mất hướng bay về rừng rồi, con có thương thì đợi nó nhớ đường về mới nên đôi nên cặp... ”. Nói rồi hai người đàn bà ôm nhau khóc.
Chị Sến là con gái lão Phiếng, người biết lá thuốc lại giỏi chữa rắn độc cứu người. Chị mồ côi mẹ từ ngày còn bé. Thén vẫn thường nghe mẹ kể câu chuyện về bà Mén - mẹ chị chết khi đi cõng thớt. Năm ấy vào mùa đói, người ở xa đánh cả xe ô tô vào chân núi mua thớt gỗ để chở về xuôi. Nhà nào cũng đi rừng, người nào cũng đi cắt thớt. Những bãi nương, ruộng vườn khô trắng đất khi không có bàn tay người gieo trồng. Mùa đói ập đến, tiền bán gỗ rừng không đủ lấp đầy những nồi cơm trên bếp mỗi nhà. Bà Mén chỉ quên ăn một bữa mà khi bước xuống đèo cái đói kéo đầu gối bà khuỵu xuống. Những tảng thớt đặc từ phía sau lưng tràn xuống lấp bà ngay giữa con đèo xồng xộc đá. Lão Phiếng mang cây thớt về nhà, trên ấy còn bám một mảng tóc của bà đen nhánh, khô dài xơ xác. Cứ đến ngày bà Mén chết, lão Phiếng lại đem cây thớt ra rửa. Rửa mãi đến khi chị Sến lớn thành con gái mà vết máu của bà vẫn không phai trên từng thớ vân gỗ.
Chị Sến đẹp. Cái đẹp phảng phất nỗi buồn tỏa ra từ đôi mắt của chị. Anh Sang thường bảo đôi mắt ấy chỉ nhìn một cái mà anh thức đến mấy đêm cũng không hiểu hết những điều chị muốn nói. Những ngày xuân, từng tốp thanh niên kéo nhau xuống đèo đi chơi chợ phiên. Chị thường ngồi thêu chiếc túi ba góc dưới gốc mận già. Những cánh hoa mận rơi trên tóc, trên vai người con gái đẹp làm người đi qua đường đều phải ngoái lại nhìn. Nhìn một lần chưa rõ thì nhìn lần hai, lần ba. Lần nào đi qua người ta cũng thấy một thằng trai ngồi ở phía xa đang mải miết nhìn chị. Trên cái túi màu xanh cổ vịt, dưới đôi bàn tay chị, một đôi chim đang vỗ cánh bên nhau đậu trên một cành đào. Cành đào đã lấm tấm nở hoa, còn đôi chim ấy như từ trong mặt vải mà vút lên trời xanh. Đám thanh niên nhìn vào ai cũng ao ước mình sẽ là một con chim trong đó. Tháng ngày qua đi, cuối mùa xuân năm ấy thằng trai ngồi ở phía xa cũng đến gần với chị. Chị ngẩng mặt lên mỉm cười, hai má ửng hồng như hoa đào tháng ba. Lần đầu tiên người ta thấy đôi mắt chị biết cười, và không còn buồn nữa. Từ ngày ấy, đám thanh niên đều nhắc chuyện anh Sang ngồi đợi chị Sến khâu túi. Như thể anh biết chiếc túi đẹp ấy sẽ dành cho mình đeo lên trên ngực cùng chị xuống chợ tình những ngày xuân dài giêng hai.
Phải chăng lần này anh cũng ngồi đợi. Anh đợi chờ một chiếc túi của thời gian sẽ đựng hết những ngổn ngang trong lòng anh bây giờ. Nhưng một ngày lão Phiếng gặp anh Sang trên cây cầu ngoài suối. Lão nhìn anh rồi bảo:
- Cây thuốc có quý đến mấy nếu không đem chữa bệnh lúc cần thiết nhất thì cũng bỏ phí, người không biết mình phải làm gì vào lúc nào thì hối hận cả đời. Tao sẽ không gả con gái cho một thằng trai còn nửa cái xác đâu.
Lão nói xong thì gùi đám lá thuốc bỏ đi, anh Sang ngồi nhìn theo đến khi trăng non lên lưng trời. Sương xuống đẫm vai áo anh mới trở về. Đêm hôm ấy Thén chẳng biết anh đã nghĩ điều gì, chỉ thấy anh lôi những thứ đồ đi rừng của Pa đã bỏ quên bấy lâu ra mài, giũa. Tiếng giũa cưa, mài rìu chầm chậm như tiếng mọt kêu từ trên mái ngói. Ngoài trời gió khe khẽ thổi, mẹ Và trở mình mấy lần nhìn ra ngoài, lại thấy bóng anh lồng lộng đổ xuống giữa nhà như bóng núi.
*
Những đám cỏ ven rừng bắt đầu ngả vàng phía đuôi lá. Buổi sáng sương mỏng lây rây đổ tràn từ trên đỉnh núi xuống thì cũng đến mùa người Tằng Luông đi rừng. Năm ấy mùa khô đến sớm, khi những đám lau chưa kịp nở những đợt hoa đầu mùa thì những đoàn người đã rậm rịch kéo nhau lên đèo. Chẳng còn gì trên những cánh rừng. Những cây ông, cây bà ngã xuống, rồi đến cây bố, cây mẹ, cây con cũng chẳng còn. Người Tằng Luông đi, người Pú Luồng cũng đi, người ở xa, ở gần cũng kéo nhau đi cắt gỗ như ngày xuân đi hội. Từng đoàn người nối dài lỉnh kỉnh trên lưng, trên vai những cưa đục, chăn màn cho những chuyến nằm rừng dài ngày. Thén chợt rùng mình khi nhìn theo những bóng người lầm lũi bước lên đèo, gió heo may thổi lây phây. Thén ngửi trong gió lẫn một thứ mùi quen thuộc, mùi của lá khô cháy phảng phất từ trên những vàn núi bay về từng hồi.
Một buổi sáng anh Sang kéo chiếc cưa ra ngồi giữa sàn. Anh nhìn rất lâu vào lưỡi cưa ánh lên ánh thép xanh, tay cưa đã nhẵn bóng. Anh nhìn cái cưa bỗng trong mắt có bóng nước. Thén biết anh đang nghĩ về Pa.
- Anh sẽ vào rừng...
- Nhưng...
Thén định nói với anh điều gì đó nhưng lại thôi. Nhìn đôi tay anh nắm chặt, hai mắt hướng ánh nhìn hun hút buồn lên phía chân đèo Phu Cùn. Sương đã tan, một vệt nâu đỏ vẩn lên như màu đất mới bởi dấu chân người đi hằn trên lưng con đèo vắt qua dãy núi. Những bước chân người đã bắt đầu hối hả. Một sự vội vã vô hình chực lôi kéo người ta khi nhìn lên phía trên ấy. Phía sau con đèo ấy là rừng. Hay là một điều gì khác nữa mà chính Thén cũng không thể trả lời cho riêng mình.
*
- Thén mang cái này cho anh Sang nhé!
Có người dúi vào tay Thén một gói lá còn hơi nóng. Thén quay lại nhìn đã thấy bóng chị Sến lẫn vào sau vách núi. Tiếng cười của đám con gái trong bản vang lên như dây xà tích bạc va vào đá. Gói lá quả Mề Gà vẫn còn ấm sực trong tay. Thén bước chân định chạy xuống nơi anh Sang đang cố kiếm tìm những mảnh bìa, còn vương lại. Nhưng những mẩu ván, xốc bìa cũ mục nằm ngổn ngang chắn lối đi. Từng bóng người lom khom như đang muốn lật tung những vàn núi, nhặt nhạnh từng thớ thịt gỗ cũ lấp sau lớp lá cây mục. Đâu đó có tiếng ầm ào như tiếng cây đổ làm Thén giật mình. Từ ngày Pa mất, Thén bỗng sợ hãi đến chùn cả hai chân khi nghe tiếng cây đổ giữa rừng hay tiếng người réo lên giữa im lặng. Thén tự trấn an mình vung lưỡi rìu bổ xuống. Và hình như có tiếng người đã thét lên. Hai mắt Thén như có ngàn con đom đóm bay lên. Thén gục xuống, lại thấy Pa đứng đó nhìn mình, Pa ôm đầu rồi khóc.
- Thén ơi! Thén!
Thén giật mình tỉnh giấc, một giấc mơ mê mệt vừa kéo đến. Hai lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi. Tiếng thanh la của đám thầy cúng gióng lên đã kéo Thén ra khỏi giấc mơ. Chẳng biết có đúng là giấc mơ, hay là những ký ức đã qua vừa chợt bùng lên trong Thén. Thén nhìn xuống bàn chân trái, nó chỉ còn một nửa, vết sẹo đã lành, nhưng nỗi sợ hãi vẫn còn âm ỉ mãi trong người không thể dứt. Thén vừa mơ thấy chị Sến, chị vừa rời đi trong nháy mắt. Tiếng chị cười vẫn còn đâu đó. Có phải chị vẫn chờ anh Sang trở về mới nhắm mắt ra đi, hay chị muốn nói điều gì mà Thén không hay.
Ngày ngày anh Sang lao vào rừng kiếm tiền trong hối hả và lo âu. Anh sợ mất chị, hay sợ núi rừng không còn gì để nuôi sống con người. Rồi cái nghèo sẽ quấn vào chân người ta. Nhưng rừng chỉ còn xơ xác trên những chỏm núi vắng dấu chân người. Thén nhìn anh ngồi ôm gối ở đầu sàn vào mỗi buổi chiều, chợt thấy thương anh trong lòng. Nỗi niềm ấy lại kéo Thén bước cùng anh vào rừng, lại đi trên những con đường ngày nào theo Pa. Đã nhiều lần Thén nghĩ, mình sẽ chẳng bao giờ thôi đặt chân lên những con đường núi đá nếu không có ngày hôm ấy. Cái ngày mà núi rừng đã ban cho Thén thêm một nỗi đau trên thân xác của chính mình. Lần ấy lưỡi rìu oan nghiệt đã trượt qua khỏi chiếc rễ nghiến cong vẹo, đẩy khúc gỗ lật ngang, lưỡi sắc phóng thẳng xuống bàn chân Thén bên cạnh. Thén chỉ kịp thấy cơn đau nhói lên, lành lạnh chạy dọc sống lưng rồi gục xuống. Đến khi tỉnh dậy, Thén không nhớ mình đã ngủ bao nhiêu ngày. Mẹ Và bảo muộn thêm chút nữa thì Thén đã chết. Thén nhìn sang bên cạnh, anh Sang vẫn ngồi gần đó. Lưng anh chùng xuống, cả thân người như thân gỗ mục đã mấy mùa rêu xanh. Cả người anh rung lên như cây rừng trong gió khi nhìn thấy Thén tỉnh dậy. Một nỗi buồn chợt ngân nga mãi trong lòng khi nhìn xuống một bàn chân đã không còn lành lặn như hôm nào. Khi ấy Thén đã biết, nhát rìu ấy cũng đã chặt đứt đường trở lại rừng của mình. Thén hận những cánh rừng, và sợ hãi những thứ căn nhà này đã phải đánh đổi, rừng bao la nhưng không hề nhân từ với con người như Thén vốn nghĩ.
*
Lễ “Khảu Mạy” cho chị Sến vừa xong. Tiếng khóc của cái Dĩm và thằng Líu đứt quãng từng hồi vang lên, khi lần cuối cùng được nhìn thấy mặt mẹ. Thén đã không dám nhìn vào những đôi mắt của chúng. Những đôi mắt khiến người đối diện không thể cầm được lòng mình. Đây là lần thứ hai Thén có cái cảm giác ngột ngạt và đau đớn đến như thế khi nhìn vào những đôi mắt của những đứa nhỏ. Chúng không biết chôn vùi, giấu đi nỗi đau và sợ hãi. Chính vì thế mà mắt chúng khi buồn, thường buồn hơn người lớn biết bao nhiêu phần.
Ngày Thén rời bản đi. Suốt đêm ấy anh Sang không ngủ. Anh ngồi ngoài sàn nhìn lên những đỉnh núi chập chờn ánh sao. Những ngọn núi đen ngòm như những hốc mắt người đã chết. Những đỉnh núi như bầu vú mẹ đã khô kiệt dòng sữa. Thén nhìn anh hồi lâu rồi nói như với chính mình “Chẳng còn gì trên ấy đâu anh”. Anh không đáp lại, nhưng sâu trong đôi mắt là những nỗi niềm mênh mang không có bờ trong anh ngay lúc ấy. Thén muốn rời xa mảnh đất này, và anh cũng muốn làm gì đó. Nhưng anh không đủ sức mạnh để rời nơi này đi. Pa đã ngã xuống, căn nhà này cần một cây cột cái, một mái nhà vững chãi để đi qua những mùa giông gió. Anh còn cả chị Sến, còn một gia đình dang dở cần bàn tay người dựng nên.
Rồi anh Sang và chị Sến cũng nên vợ thành chồng. Lần lượt cái Dím, thằng cu Líu ra đời. Nhớ lần Thén trở về sau những ngày trên đất quê người. Anh Sang nói với Thén sẽ theo đám lái buôn về xuôi. Buôn gì cũng được nhưng sẽ phải có tiền để nuôi những đứa nhỏ. Anh sẽ làm tất cả vì cái Dím, thằng Líu, vì căn nhà này. Những cánh rừng đã chết lần lượt đẩy con người nơi đây đi tìm những nguồn sống mới. Nói rồi anh nằm ngửa ra sàn, đôi mắt ánh lên một thứ niềm tin mãnh liệt. Thứ ánh sáng của sự say mê và phảng phất niềm hạnh phúc đơn sơ. Sau vài phút tĩnh lặng, anh nhìn Thén như muốn cất tiếng hỏi khi nào sẽ trở về. Núi rừng vẫn còn đó, căn nhà từ ngày hai anh em cất tiếng khóc chào đời vẫn còn đó. Thén chẳng biết mình vô tình hay tận trong lòng mình vẫn chưa yên ngày nào. Thén làm mọi thứ, đến cả những nơi xa lạ để cố kiếm tìm cho mình một cuộc sống mới. Nhưng mỗi buổi chiều nhìn lên những vòm mây tím sẫm, Thén lại chợt nhớ đất quê. Cả trong những giấc mơ Thén vẫn thấy mình đi trong những cánh rừng. Những cánh rừng yên ả, và cả những cánh rừng đã ngổn ngang dấu chân người...
Thén thả mình trôi theo ngày tháng dài ở những nơi mà chính mình cũng không thể gọi tên. Thời gian đi qua, những nỗi đau buồn tưởng chừng đã lặn sâu vào nơi bình lặng nhất trong Thén. Nhưng sự dằn vặt và lo âu lại bắt đầu dội lên trong lòng.
Anh Sang bị công an bắt tội vì vận chuyển ma túy. Thén nghe tin đó như thác đổ bên tai. Trong lòng Thén trách anh đã gục ngã trước đồng tiền bao nhiêu, thì thương mẹ con chị Sến bấy nhiêu. Rồi sau này gánh nặng trên vai anh sẽ vô tình đẩy lên lưng người mẹ già, lên trên vai người vợ trẻ như chị Sến. Càng nghĩ Thén càng thấy mình bất lực, chỉ có thể đứng ngoài nhìn vào ngôi nhà của mình đang lắc lư trong cơn bão. Thén đã chạy trốn mình, chạy trốn mọi thứ. Thén cứ nghĩ mình mạnh mẽ hơn anh khi dám đi tìm cho mình một con đường, nhưng chính anh mới là con người có trái tim mạnh mẽ. Dù anh có đi những bước chân đã yếu mềm đi chăng nữa.
Thén vội vã trở về vào một chiều tối muộn sau một ngày đêm thức trắng. Mới tới con đường đá dẫn lên nhà, đã nhìn thấy hai đứa trẻ đứng dưới chân thang gà gật đợi chờ. Nhìn khuôn mặt chúng, Thén thấy lòng mình thắt lại. Suốt buổi tối con bé Dĩm ngồi ôm gối ngó ra ngoài đường. Bóng tối nhuốm đen một màu phía trước mặt. Trong tâm trí non nớt của nó đã lờ mờ nhận ra bố nó không trở về vào mỗi buổi chiều muộn với chị em nó. Thén lại gần con bé, đặt tay lên mái tóc hoe vàng khét nắng của nó. Con bé ngước nhìn Thén rồi ngân ngấn nước mắt:
- Pa có về không hả chú?
Thén dằn lòng, cố nở một nụ cười rồi khẽ gật đầu với con bé. Rồi chị em chúng sẽ phải như cái cây non mọc trên đỉnh núi, hứng ánh mặt trời mà âm thầm vươn lên, trơ trụi một mình khi những cái cây lớn lần lượt ngã xuống, rời xa chúng đi mãi mãi...
*
Thén cứ nghĩ ông trời sẽ không đẩy con người ta vào đến đường cùng. Sau lần trở về nhà ấy. Nhưng con người thường tự nhốt mình trong những cái vòng luẩn quẩn mà không có điểm dừng. Cái vòng ấy đã đẩy chị Sến trở lại rừng sau ngày anh Sang đi. Chị lại lẫn vào bóng dáng những người đàn bà, đàn ông gồng gánh lầm lụi leo lên những con đèo để vớt những tàn tích cuối cùng của những thân gỗ để lấy than. Những gánh than ướt đẫm mồ hôi, những tàn than biết làm phai má bao người đàn bà. Biết làm bạc phai vai áo những người đàn ông ngày đêm gồng gánh lên dốc xuống đèo. Thén ngồi nhìn những đẫn than xám, ánh lên một màu như thứ ánh sáng xanh mơ hồ lóe lên.
Rồi những gánh than lặng thinh ấy đã cướp đi sinh mạng một con người đau khổ như chị Sến. Chị đã chết trên đường trở về vì rắn độc cắn khi gánh nặng vẫn còn trên vai. Người ta đã cố giữ chị ở lại, nhưng chị vẫn đứng dậy, hình như trong mắt chị khi ấy chỉ có bóng hình của hai đứa con bơ vơ đang đợi chờ. Chị đã cố lên đến đỉnh con đèo gần nhà nhất rồi mãi mãi chẳng thể tự bước chân trở về nhà. Chị nằm xuống mà đôi tay vẫn còn bám đầy bụi tro than. Trên gò má người đàn bà xấu số vẫn vo tròn những giọt nước mà chẳng ai biết đó là mồ hôi hay những giọt nước mắt cuối cùng....
Thén ngồi nghĩ về một kiếp người khi người trong nhà đã rục rịch đưa chị xuống thang về với đất. Chẳng biết anh Sang sẽ đứng thế nào khi một ngày anh trở về với ngôi nhà này. Trên con đường đi tìm ánh sáng của mình, có lẽ bóng đêm sẽ còn dưới chân anh thêm những đoạn đường dài hơn nữa.
*
Mộ chị Sến nằm bên cây cầu gỗ vắt qua con suối cạn. Mẹ Và bảo chị nằm ở nơi ấy sẽ thấy người thân ở cạnh hai bên bờ. Khi đám người đưa tiễn đã trở về nhà. Thén ngồi một mình trên cây cầu gỗ cũ, những vạt nương như dải mây sớm lờ mờ chẳng biết đâu là bãi bờ. Trước căn nhà bên rừng hóp mênh mông vàng úa, lão Phiếng ngồi ôm gối gục xuống, cả người lão ngả nghiêng như đang ngồi trong cơn bão. Thén ngó về phía nhà mình, chị em cái Dĩm dắt tay nhau men theo những bờ nương rực một màu cỏ úa. Bóng áo trắng hai đứa trẻ phất phơ trong gió đang đi về phía chân núi. Trên vách đá, những mầm xanh tím ngắt trong nắng chiều.
N.L
(TCSH375/05-2020)
KIỀU VƯỢNGĐêm giữa thu. Hà Nội se lạnh. Sao chới với nhưng mây vẫn vũ làm nền trời như khô khốc, nhạt nhòa. Một hồi còi tàu rú dài như thả thêm vào đêm luồng khí lạnh. Quang nhìn đồng hồ sân ga dã quá mười hai giờ khuya.
CAO HẠNHTôi sinh ra ở làng quê, lớn lên cũng ở làng quê. Tôi là hạt máu đỏ rơi xuống bùn đất mọc lên một thằng người cùng với ngọn cỏ lá rau, cây lúa và những sinh linh khác. Tôi cùng chịu đựng chia xẻ với chúng ngọn gió Lào cát trắng và những trận mưa dầm dề của xứ miền Trung khắc nghiệt.
HỒ ANH THÁI Tác giả thấy cần phải tóm tắt chuyện cô bé quàng khăn đỏ trước, rồi mới kể tiếp phần hậu cô bé quàng khăn đỏ. Con sói đến lừa bà cô bé, nuốt sống bà, rồi mặc váy áo của bà, trùm khăn giả vờ làm bà. Cô bé về nhà, thấy bà rởm mà không biết, cứ hỏi vớ hỏi vẩn sao tai bà to thế, sao mắt bà to thế, sao mồm bà to thế. Sốt ruột. Con sói bèn nuốt chửng luôn cô bé. Nhưng rồi quần chúng tiến bộ tập hợp lại đấu tranh, con sói phải nôn cả bà lẫn cháu ra, hứa cải tà quy chính. Từ đây bắt đầu phần hậu cô bé quàng khăn đỏ…
PHẠM XUÂN PHỤNGHọ như không còn trẻ. Người lớn tuổi hơn có khuôn mặt thanh thản vì đã giãn mềm những nếp nhăn. Người trẻ tuổi khuôn mặt nhuốm già bởi màu từng trải và những nét khắc chán chường.
MAI HUY THUẬTNằm cuộn tròn trong cái rọ lợn Cuội mới có thì giờ ngẫm nghĩ về cái thân phận của mình. Cả cuộc đời dối trá, lừa gạt bây giờ bị tù hãm sau mấy cái nan tre tưởng như mong manh thế mà càng cựa quậy càng trầy da rách áo, không thể nào thoát được.
NGUYỄN VĂN VINH Thường thường, mỗi sớm tôi và các bạn gặp nhau ở quán cà phê vỉa hè. Ngồi vệ đường, không tiếng nhạc quấy phá phút tĩnh tâm để ngẫm ngợi sự đời, quả thú vị! Tôi biết các loại quán đều tiêu phí thời giờ của mình, nhưng quán cà phê ít tốn, ít nguy hiểm hơn quán bia ôm và các toan tính, bon chen trong vòng danh lợi gươm đao nên tôi không bỏ uống cà phê buổi sáng, ngày mình giết một tí, lại được chuyện vãn với nhau: nào thời sự, tin tức trên trời dưới biển, cũng vui!
LINH CHIKhi chỉ mới là giọt máu, sự kết hợp của hai nhiễm sắc thể XY bám vào dạ con của mẹ, nó đã không được công nhận. Chào đời, mẹ con nó ở với ông bà ngoại cùng các cậu, các dì cho đến năm nó tròn bảy tuổi. Nhà ngoại nó ở ven triền núi của vùng đồi miền trung du hẻo lánh độ chừng vài ba chục nóc nhà rải rác trên mấy quả đồi đầy hoa sim, hoa mua tím. Chiều chiều nó thường hay tha thẩn trước sân nhà ngắm nhìn những đàn chim bay về tổ, thả hồn theo những đám mây màu cánh vạc đùn lên phía sau dãy núi đối diện nhà ngoại và tưởng tượng, ước ao…
TRẦN CHINH VŨAnh nghĩ là mình có thể ngủ được trong đêm nay - ngủ ngon là khác nữa - Đêm qua anh đã ít ngủ rồi - Hơn nữa, cùng với cậu em trai anh lại vừa có cuộc đi chơi đêm ở công viên Đầm Sen, đến muộn mới về. Vậy mà cho đến lúc này, đã qua nửa đêm được ít phút, mắt anh vẫn cứ trơ ra, cứ như thể nó chưa biết khép lại bao giờ.
ĐÔNG TRIỀUMười hai giờ đêm.Tôi bước ra khỏi rào lưới sắt còn ngoảnh lại nhìn căn trọ, nơi cửa sổ vẫn phụt ra luồng sáng trắng bởi đèn điện. Tất cả đã im lặng. Tiếng cót két của đôi cánh cửa gỗ mà người thiếu phụ vừa khép lại hòa vào nhịp rơi lộp độp của những giọt sương trên lá, tiếng côn trùng trỗi lên cùng thanh âm mà con chim cú đâu đây vẫn bỏ tiếng rúc đều đều nghe rợn người.
PHẠM NGỌC TÚY“Ngày...tháng...nămDòng nhắn tin trên báo cho em biết rằng em đã tìm thấy anh. Cuối cùng thì chúng mình cũng nhận ra nhau. Anh thân yêu. Hôm nay trời không mưa và không nắng. Từ cửa phòng em nhòm ra có một cây trạng nguyên. Cây này nhô lên cao giữa khoảng trời xanh hiếm hoi. Những chiếc lá đến mùa, đỏ thắm màu xác pháo. Nó là cây hoa độc nhất ngoài cửa phòng em.
NGUYỄN BẢNHắn đến tôi, mặt thẫn thờ ngơ ngác như người vừa mất của. Tôi hỏi ngay:- Có chuyện gì vậy?- Không, không có chuyện gì.
ĐÔNG LA Sài Gòn mùa mưa, trời lúc nào cũng âm u. Những tán cây sẫm hơn, không khí nóng rát của những tháng cuối mùa khô đã được làm nguội lại, dịu mát. Mấy ngôi nhà cao lênh khênh dường như chỉ cần kiễng chân lên một chút là có thể gội đầu được trong những đám mây sũng nước, là là bay trên đầu.
ĐÀO PHONG LAN Tôi là đứa con gái duy nhất của cha mẹ, và trời cũng ban cho tôi một nỗi bất hạnh để tương xứng với niềm hạnh phúc của một đứa con chắc chắn được cưng chiều: Tôi bị liệt hai chân từ bé.
MAI HUY THUẬTCon tàu Thống nhất nhả Văn xuống ga Huế vào một trưa mưa tầm tã khiến Văn chợt thấm thía một câu thơ Tố Hữu:...“ Nỗi niềm chi rứa Huế ơiMà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên?”...
NGUYỄN VĂN THANHSau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi không ngờ được Ngọ hỏi làm vợ. Không giống như những cô dâu khác, ngày tôi về nhà chồng có dắt theo một đứa con riêng. Tên nó là Hòa. Ngọ rất thương yêu hai mẹ con tôi. Không có gì đáng trách anh ấy dù cuộc hôn nhân của chúng tôi không bình thường.
NGUYỄN LÊ VÂN KHÁNHTôi xa nhà trọ học thành phố khác. Dịp nghỉ ngắn ngày không về nhà được, tôi đón xe về thị trấn men con nước nhánh sông lớn về nhà ngoại. Từ ngoài ngõ con Bơ sủa váng, Vinh chạy ra ôm bụi chè tàu nơi đầu bến nước, gọi mạ ơi, Sương về.
NGUYỄN HÙNG SƠN Một buổi chiều cuối tháng ba trong lúc ngồi bón cháo cho chồng, bà Loan nhận thấy hôm nay Hào, chồng bà có những biểu hiện khác thường. Ông có vẻ suy nghĩ, ăn uống uể oải.
LỆ THANHBé Khánh Hạ - đứa con gái duy nhất của chị đã đi! Chiếc lá xanh độc nhất trên thân cây khô héo, khẳng khiu đã lìa cành. Ngọn lửa cuối cùng trong đêm dài trơ trọi của chị đã tắt ngấm trong bỗng chốc. Chị tưởng rằng mình sẽ không thể sống nổi trên cõi đời héo hắt này nữa.
HOA NGÕ HẠNHHọ Nguyễn ở Trung Lộc quê gốc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, Thanh Hóa. Gia phả ghi rõ, ông tổ của dòng họ theo chân Chánh đô An phủ sứ Phạm Nhữ Dực vào khai khẩn đất Thăng Hoa năm 1402. Ban đầu họ Nguyễn định cư tại Hương Ly. Đến đời sau, một nhánh trong tộc chuyển hẳn lên Trung Lộc, nằm ở thượng lưu sông Thu Bồn.
Đàm quỲnh NgỌcChiều nay, tôi nhận được điện khẩn của Tâm, bức điện vỏn vẹn chỉ có dòng chữ: “Thứ bảy tới, tao đi Hoa Kỳ, mày tới gấp”. Tôi không ngạc nhiên khi biết Tâm đi Hoa Kỳ, với nó, đi nước ngoài đã trở thành bình thường như các bà đi chợ. Tôi chỉ ngạc nhiên khi Tâm đã điện khẩn cho tôi, điều mà từ trước đến nay chưa bao giờ có.