Ma chim

17:11 20/07/2009
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

(Ảnh: Internet)

Nhưng, cái buổi trưa tràm chim ấy, lần đầu tiên trong đời tôi được tới nơi, đã thành ký ức lung linh trong tôi đó, từ tầng bốn của một Trạm Quan sát Tràm chim vừa xây xong đó, tôi ngẩn ra trong một nỗi hẫng hụt nghẹn ngào: trên suốt cả vùng cây cối và cánh đồng bao la kia chỉ lèo tèo mươi con cò trắng, dăm bảy con vịt trời mà hễ có người đến gần là chúng đã hốt hoảng bay vù đi. Tôi sực nhớ tới hơn 2 năm trước, trong dịp sang thăm gia đình con gái tôi ở Boston - Mỹ, khi cả nhà bày bữa ăn trưa ra bãi cỏ công viên gần trường Đại học Harvard, những con sóc với cái đuôi dài ngúng nguẩy từ trên các cành cây chuyền lẹ xuống, đến ngay bên cạnh chúng tôi, vui vẻ chờ chúng tôi “chia phần”, thậm chí chúng ăn cả những mẩu bánh ngọt trong lòng bàn tay chúng tôi chìa ra nữa. Con người đã làm gì để muông thú sợ hãi hoặc thân tình với con người như thế?

Trong nỗi bần thần của “Buổi trưa tràm chim”, tôi lại nhớ đến chuyện chim muông ở làng quê tôi.

Nhiều năm về trước, ngày nào cũng như ngày nào, từ những ngày mùa đông với những ngọn gió mùa Đông-Bắc thổi hù hù, lọt qua phên liếp khiến tôi lạnh thấu xương vì thiếu chăn, phải đắp bằng chiếu hở cả đầu và hai chân... cho đến những ngày hè trời nắng như đổ lửa, đi ngoài đường mặt mày cứ nóng ran như có những lưỡi lửa liếm vào hai má, lội xuống con hói đầu làng thì “nước như ai nấu, chết cả cá cờ, cua ngoai lên bờ...”. Mặc cho thời tiết thế nào, ông Châu Chóc, như trong người ông có gắn sẵn một cái đồng hồ ở đâu đó, hễ nghe gà gáy lượt đầu, trời còn tối đen như mực, đã lồm cồm bò dậy, ra đầu chái nhà, nơi ông đã để sẵn một tấm lưới to rộng, ông buộc vào hai cây sào dài đến hơn 3 mét. Rồi ông dò dẫm trong đêm, đi về phía cánh đồng làng.

Khi ban mai hiện lên trên cánh đồng bao la của làng tôi, sau giấc ngủ yên bình, đàn chim mỏ nhát, đông dễ đến mấy trăm con, thức dậy kiếm ăn. Chúng sà xuống cánh đồng lúa xanh mơn mởn để bắt côn trùng, sâu bọ, cào cào, châu chấu... Vào những ngày mùa, khi cả cánh đồng lúa đã chín vàng, với những bông lúa nặng trĩu, những ruộng lúa nếp, lúa nàng hương chín rộ, toả hương thơm ngào ngạt cả không gian... là lúc đàn chim kéo về đông như trẩy hội. Những sâu bọ, côn trùng... mê mẩn trước mùi thơm lúa mới cũng kéo đến hàng lũ, hàng đàn phá hoại mùa màng. Bởi thế, đàn chim mỏ nhát là người bạn thân thiết, là “vệ sĩ” đắc lực của nhà nông. Đàn chim cứ lích rích, lích rích vừa ăn vừa vui đùa với cha mẹ anh chị em, bạn bè, người yêu chúng, có ngờ đâu cái chết đang treo lơ lửng trên đầu.

Và than ôi! Tấm lưới rộng có kẹp hai con sào dài đã ập xuống và ít nhất cũng vài chục con mỏ nhát mắc lưới! Mà đâu chỉ có một mình ông Châu Chóc làm nghề này!

Cứ khoảng mười giờ sáng ông Châu Chóc về, tay nặng trĩu một xách chim mỏ nhát. Đến nhà, ông quăng xoạch xách chim xuống tấm đoanh đúc bằng xi măng đã dùng lâu ngày nên láng bóng, gọi vợ:

- Mẹ thằng Sẻ mô rồi, ra mà làm chim!

Vợ ông đã đun sẵn một nồi nước sôi to tướng, chỉ việc lấy cái gáo dừa múc nước sôi đổ vào cái chậu nhựa lớn rồi nhúng cả xâu chim vào. Trụng qua trụng về vài lượt, bà lẹ tay như múa nhổ sạch lông mấy chục con chim để đi bán kịp phiên chợ mai.

Thật ra, cả chục năm như vậy, là gần ba ngàn sáu trăm ngày, chỉ trừ những ngày bão lụt hoặc thi thoảng đau ốm, còn thì ngày nào cũng sát sinh như vậy, nhiều khi trong lòng ông cũng thấy ray rứt không yên. Nhưng cả nhà năm miệng ăn mà chỉ có mình ông là lao động chính, không bẫy chim thì ông biết làm gì ra tiền, vì ông không biết một nghề nào khác, kể cả nghề nông. Nói cho đúng thì ông cũng có biết nghề bắt tôm, bắt cá, đặt lươn. Những con lươn to tròn, béo múp, da vàng rộm, nấu với miến thì còn ngon gấp mấy lần nấu với thịt gà. Đồ nghề bắt lươn của ông là một cái móc sắt, một thanh sắt nhỏ cỡ chiếc đũa, phần đầu đập nhọn, rồi uốn cong thành hình dấu hỏi; thanh sắt gắn vào cái án nhỏ, vừa tay cầm, dài khoảng hơn 1 mét, gọi là cái khoèo lươn, cái móc đó móc vào cổ con lươn, giật mạnh, đầu con lươn sẽ mắc vào móc sắt. Bắt lươn kiểu này rất dễ, cứ mỗi sáng đi chiều về, ông Châu Chóc bắt được cả thúng rái lươn! Còn bắt cá bắt tôm thì ông đặt chẹp, lờ, cât rớ, làm sáo, bỏ chuôm... Con gì ông bắt cũng giỏi, cũng nhiều hơn người khác trong làng. Nghề tôm cá ông làm khoảng bảy năm. Sau đó “người khôn của khó”, bắt con dưới nước không đủ nuôi sống gia đình, ông quay sang bắt con bay liệng trên trời.

Rồi tai họa, như quy luật “có vay có trả”, đã đến với ông. Buồng ngủ của vợ chồng ông cửa sổ hướng ra bể nước, nơi hàng ngày vợ ông nhổ lông hàng trăm con chim để đem đi chợ bán. Đột nhiên, vào một ngày, cứ hễ ông nằm xuống giường là nghe thấy tiếng rích, li..lí..ich... ri rí... ich của hàng ngàn con chim từ bể nước vọng vào. Rồi ông nghe to như thể đang đứng ngoài cánh đồng, giữa hàng ngàn con chim mỏ nhát. Ban đầu ông chỉ nghe tiếng lích rích ban đêm, sau đó ông nghe tiếng chim cả ban ngày, không chỉ nghe khi nằm ở buồng ngủ mà nghe bất cứ ở đâu, trong nhà, ngoài vườn..., bất kể ngày đêm. Cái tiếng lích rích đó cứ khuấy đảo, làm cho đầu óc ông như muốn vỡ tung ra! Sau ông ít lâu, bà vợ ông cũng bị bọn “ma chim” khuấy đảo không ngơi nghỉ, làm cho hai vợ chồng ông như người mất hồn, đôi khi không còn nhớ ra điều gì nữa.

Ông Châu Chóc có hai người anh sinh đôi Châu Kền và Châu Quạ. Ông Quạ cũng làm nghề bắt chim, nhưng lại bắt loại chim to hơn là loại chim bồ nông. Khi còn học cấp 1 trường làng, ngày nào tôi cũng thấy ông Quạ chèo chiếc troòng (là chiếc thuyền nhỏ bằng gỗ) ra cánh đồng làng. Đứng trên đầu chiếc troòng là những con bồ nông to tướng, với cái mỏ màu vàng dài đến cả tấc rưỡi, lông trên lưng màu xám đen, dưới bụng màu xám trắng, hai cái chân cao lêu đêu. Trong số đó chỉ có 1 con bồ nông thật, nó bị khâu mắt lại thành “bồ nông mù”, nó đứng yên 1 chỗ. Còn nhũng con khác được làm bằng gỗ, phết sơn vào trông y như con bồ nông thật. Hồi đó tôi mới lên 10 tuổi, cứ thắc mắc tự hỏi “không biết ông Quạ làm chi mà ngày mô cũng chở đi chở về mấy con bồ nông rứa hè?” (Những con bồ nông bẫy được, ông để khuất bên trong chiếc troòng nên tôi không nhìn thấy. Hỏi ra mới biết, cứ sáng ra ông chèo chiếc troòng theo con hói ra cánh đồng, đem theo những con “chim mồi” đặt đứng ở những chỗ đất cao giữa những ruộng lúa. Bên cạnh các con chim mồi đã đặt sẵn những cái bẫy. Và ông Quạ ngồi rình ở một chỗ khuất. Những con bồ nông đang bay trên trời, thấy những con đồng loại đứng dưới đông đúc vui vẻ, tưởng đã gặp được bạn, bèn sà xuống... thế là hết đời, ôi thôi!.

Nhiều năm làm nghề sát bồ nông như vậy, mỗi ngày chí ít ông Quạ cũng giết cả chục con...

Quái lạ thay, khi ông Châu Chóc bị “Ma Chim mỏ nhát” ám thì ở làng bên, ông Châu Quạ cũng bị “Ma Bồ nông” hành hạ, còn khổ sở hơn ông em nhiều lần. Bất kỳ ngày nào, giờ nào, hễ ông Quạ nằm xuống, nhắm mắt lại là ông lập tức nhìn thấy hàng đàn chim bồ nông, với những cái mỏ nhọn hoắt và to dài như chiếc đũa cả, tất cả chúng xúm lại và mổ vào hai con mắt của ông. Những con đến sau không chen vào được để mổ vào hai mắt ông thì chúng mổ vào đầu, vào tai, vào mũi, vào miệng, rồi trán xuống cổ, xuống vai! Cứ hàng đàn, hàng lũ bồ nông “xúm đen xúm đỏ” vào người ông như cả tỷ con kiến đen xúm vào mang con gián về tổ vậy. Ông cố la lên, kêu cứu thật to, nhưng miệng không thể há ra được, cổ họng bị tắc nghẹn. Ông ráng hết sức để kêu cứu nhưng cũng chỉ nghe được tiếng ú ú ớ ớ. Còn người ông phải né tránh những con bồ nông nên cứ lăn lộn vật vã trên giường. Nhiều ngày nhiều đêm bị “Ma Bồ nông” ám, ông gầy rạc hẳn đi, nhìn cứ như kẻ nghiện ma tuý.

Ông Châu Quạ chợt nhận ra rằng, bao năm trời nay ông đã triền miên không ngơi nghỉ làm cái nghề giết hại sinh linh, phá hại môi trường của chính làng xóm ông, cái nghề độc ác quá dễ sợ! Học theo ông em Châu Chóc mới bỏ nghề bẫy chim mỏ nhát nên hai vợ chồng đã khoẻ mạnh trở lại, dần quen với nghề cày cấy dù có vất vả hơn nhưng lòng dạ tâm hồn bình yên thanh thản hơn, Châu Quạ sai vợ ra chợ mua hương đèn hoa quả về. Rồi với khăn đóng áo dài nghiêm chỉnh ông đi ra cánh đồng, nơi ông đã sát hại vô số bồ nông trước đây. Ông thắp hẳn cả bó hương to, hai tay kính cẩn nâng lên ngang trán rồi quỳ xuống giữa đám ruộng lúa đầy nước, giọng rền rền ông khấn:

- Hỡi tổ tiên, ông bà, cha mẹ, con cháu Bồ nông! Tôi đã mang tội lớn với các ngài. Tôi xin cúi đầu lạy tạ và xin thề từ rày “tiệt” cái nghề dễ sợ ni. Tôi xin dập đầu thành tâm khấn vái...

Ông vừa khấn vừa vái lia lịa, đến nỗi bộ khăn đóng áo dài của ông bết đầy bùn đất.
Sau lần khấn vái chân thành đó, “Ma Bồ nông” không còn hành hạ vợ chồng ông nữa.

Cầu Ngói Thanh Toàn
xuân Giáp Thân
.
P.T.C
(182/04-04)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHAN TUẤN ANHLớp Lý trong một chiều nhốn nháo. Vài đứa con gái ngồi sụt sùi cho nhân vật nữ trong phim trên ti vi chết sớm và nguyền rủa đạo diễn như một tay giết người. Những đứa con trai thì tiếc rẻ cho một vài pha bóng hụt tối qua, để lại hậu quả là mất hẳn một "tháng lương" mà nhẽ ra đã có thể lĩnh sáng nay tại... chủ quán.

  • NGUYỄN VIỆT HOÀLGT: Khi ánh sáng phản chiếu từ mặt trái đồng tiền ùa vào cánh cửa làng mở rộng, “sức nóng” của nó gần như thiêu rụi mọi nền tảng đạo đức một bộ phận không nhỏ đám thượng lưu gồm cả quan viên hương lý. Căn bệnh mà tác giả Nguyễn Việt Hoà mổ xẻ trong truyện ngắn dưới đây, dẫu chưa cao tay để diệt bằng hết những vi-rút-làng, song việc ngăn chặn một đại dịch bắt đầu là có thể...S.H

  • TRẦN HẠ THÁP1/ Người đàn ông đang huơ rìu. Liên tục những bi củi tươi bị xé phanh, toang toác. Gió lạnh một buổi tàn đông, sắp Tết nhưng trên khuôn ngực mồ hôi loang lổ như mưa. Xóm lò heo. Buổi sáng chưa mở mắt đã hỗn độn, mù trời hơi nước. Cái thế giới được khoanh vùng bằng tiếng kêu bi thiết các con vật thảm tử. Mùi phân chuồng phát tán, nghẹt thở. Tiếng người lê la trả giá, mặc cả. Tiếng cười rộ lên đắc ý trộn lẫn tiếng chửi thề tục tằn đe doạ. Đâu đó, mơ hồ giọng trẻ con khóc và tiếng ru hò ngái ngủ xa xôi…

  • NGUYỄN NGỌC LỢITôi diện bộ "téc gan" quân nhu, dắt súng vào người, dặn dò cậu lái xe rồi hoà vào dòng người đi ra sân bay. Được giao nhiệm vụ về nước sắm hàng, gặp một sự kiện quan trọng, tôi không muốn bỏ lỡ dịp được chứng kiến. Thị xã Lộc Ninh năm 1973 đã trở thành thủ đô của chính phủ cách mạng.

  • THÁI BÁ TÂN…Con chim hung dữ màu đen là trọng tâm của bức tranh, được ông giành hết tâm sức miêu tả rất sống động. Trong tranh, nó đang bám chân vào ngực Prômêtê, xoè hai cánh giữ thăng bằng, chiếc mỏ khoặm ngậm một miếng tim vừa moi từ lồng ngực khổng lồ của chàng…

  • NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾNMọi người đến Huế với những lí do khác nhau. Riêng các văn nghệ sĩ thì thường đến để tìm cảm hứng sáng tác. Tuy nhiên ý tưởng của mỗi người thì mỗi khác, chẳng ai giống ai. Họa sĩ Vĩnh Trung và nghệ sĩ Hải Lý là một trong những trường hợp như vậy.

  • XUÂN ĐÀIChuyện thằng Thanh con cô Ngoan ở làng Đông cuối tháng này tổ chức đám cưới với con Thuý con cô Lâm ở làng Nổi, dân xã Vĩnh Sơn ai cũng tỏ tường. Cái đận cô Lâm có chửa, điều tiếng khắp làng, người ta đoán già đoán non về cha của đứa bé. Đoán vụng đoán trộm, thì thầm nhỏ to sau lưng, chứ thấy bóng cô đi ngang qua là họ im bặt. Nó mà nghe được nó tế cho! Nó vén mồm, vén váy, réo tên cúng cơm ba đời nhà mình ra mà chửi.

  • PHẠM THỊ XUÂNChị Xoan trở mình nhè nhẹ, sợ làm đứa cháu giật mình thức giấc. Chị quay mặt  vào tường như cố tránh cái ánh sáng xanh dịu phát ra từ ngọn đèn ngủ. Chị nhắm kín mắt nhưng vẫn không sao ngủ được. Đầu óc chị rối bời bao ý nghĩ. Có một cái gì day dứt, một cái gì tiếc nuối, một cái gì hẫng hụt vừa đi vào cuộc đời chị. Chị bỗng thấy lòng mình trống trải đến vô vị...

  • PHẠM THỊ XUÂNLGT: Ấn tượng của một nữ tác giả mới lần đầu tiên gửi tác phẩm đến cho TCSH thật khá đậm đà. Ấy là Phạm Thị Xuân, một phụ nữ ở độ tuổi đã qua thời thanh xuân, đang công tác tại một đơn vị y tế huyện Quảng Điền.

  • QUÝ THỂCó ai đến nhà chơi, bà cụ Tuần chỉ mép tấm phản gỗ mời ngồi, bà nói:- Giang sơn của "bầy choa" (chúng tôi) chỉ có chừng ni. Không ghế bàn, xa lông, sập gụ tủ chè chi cả, chịu khó ngồi đỡ, ông bà mô áo quần trắng trẻo sạch sẽ sợ dơ, thì ngồi lên đây. Bà cụ xoè cái quạt giấy cũ đã rách, lộ ra mấy cái nan tre lót cho khách ngồi. Nhưng không ai nỡ ngồi lên cái quạt giấy của cụ.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO...Sáng hôm ấy bà con xóm đạo đi lễ rất đông. Người ta nhìn thấy một vệt sao băng vào lúc trời tảng sáng. Họ cho rằng Chúa thấu hiểu được nỗi đau đang dày xéo trên thân thể Xoan. Nhưng cũng chính vì thế mà bố cô lại quay về làm chính con người liêm khiết hồi xưa. Thiên đường cũng có những con đường riêng để người ta sám hối.

  • XUÂN ĐÀI 1. Mỗi lần từ quê trở về Sài Gòn, sống bên chồng và hai đứa con, tôi không nguôi nhớ đến chị. Năm nay chị đã ngoài bốn mươi, không chồng, không con, lủi thủi ra vào trong ngôi nhà một gian hai chái. Ngôi nhà vừa được xây dựng cách đây gần ba năm bằng số tiền chị tằn tiện, chắt bóp mười mấy năm và tiền vợ chồng tôi phụ giúp chút đỉnh. Vài ba năm, vợ chồng con cái chúng tôi mới về thăm chị một lần. Chị mừng, chị vui, trò chuyện với các cháu suốt ngày. Chị quấn quýt lũ trẻ, lũ trẻ cũng quấn quýt chị.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNGNgày trăng tròn lẻ. Tháng Trung Thu năm Đại Bảo thứ 3.Người hai lưỡi bảo là ngày Sao Thổ phạm vào Thái Âm.Người ngắn lưỡi nói Sao Chổi mọc ở phương Tây.Người dài lưỡi bảo có tinh vượn đen ăn mặt trời, ngày Nhật thực, nếu không yểm kỹ sông Nhị đang nảy vàng ròng sẽ ngừng.Động đất.

  • VIỆT HÙNGTrước đây, anh là người lừng danh, một tay "cua - rơ khét tiếng" trên xa lộ. Đã một thời anh chỉ biết chiến thắng. Người ta từng mệnh danh, anh là người sinh ra để đua xe đạp, anh không hề có đối thủ. Anh xem thường sự chiến thắng của mình, cho nó là điều hiển nhiên. Anh coi ánh hào quang của vòng nguyệt quế chỉ có tác dụng tô điểm thêm cho vẻ đẹp của mình mà thôi. Bởi, không có nó, anh vẫn là một thần tượng chẳng gì "khuất phục nổi".

  • NGUYỄN THÁNH NGÃĐêm nay trăng nhão, không biết là đêm trăng gì. Ở xa nhìn về đồi Kà Mạ vẫn một khối đen sì. Nếu có ai nhướn mắt nhìn thật kỹ sẽ thấy cái khối đen sì ấy nhô lên như một cái đầu người đôi mắt lấp láy đom đóm. Thỉnh thoảng gió hất cái đầu tóc rối bù xù bay về phía ruộng. Tiếng chim cú kêu mỗi lúc một thê lương, ớn lạnh từng đốt xương sống...

  • THÁI BÁ TÂNTháng trước, ở phường B. thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm, nơi tôi về nghỉ hưu mấy năm nay, đã xẩy ra một vụ trọng án có nhiều tình tiết rất kỳ lạ, có thể nói bí ẩn không sao giải thích nổi, đến mức cuối cùng người ta quay sang cho rằng nhất định phải có yếu tố thần linh ma quỷ trong vụ này.

  • PHẠM THỊ ANH NGA                  Truyện ngắn...trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể nào biết được...

  • PHAN VĂN LỢIBuổi giao lưu và trao giải thưởng cho các tác giả đoạt giải trong cuộc thi viết truyện ngắn do Hội Nhà văn tổ chức đã tiến hành được gần nửa giờ. Gã nhấp nhỏm trên chiếc ghế kê phía sau cánh gà sân khấu, bồn chồn không yên. Chừng thông cảm với tâm trạng của gã, cô gái phục vụ mặc áo dài đỏ bưng tới cho gã ly nước, nhẹ nhàng nói: "Chú cứ yên tâm ngồi nghỉ cho khoẻ. Giải A bao giờ cũng trao cuối cùng, chú ạ!"

  • KHẢI NGUYÊN Pa-ri, mùa hạ năm 198...Vườn Bách thảo giữa thành phố kề sông Xen phía tả ngạn. Ông đến đây như một kẻ lánh đời, sợ nơi đông người. Thật ra, phần lớn đường phố Pa-ri trong giờ làm việc không ồn, không thừa thãi người đi nhong như ở Việt Nam. Em ông ở quê ra Hà Nội chơi đứng ngắm dòng người và xe nườm nượp qua lại cứ tự hỏi: những con người này đi đâu, về đâu mà tuôn mãi như là chẳng ai về nhà cả, như là cái "nghiệp" trời đày phải đi.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNhiều năm trôi qua tôi đã trở thành người đàn ông đứng tuổi. Có một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Nhưng mỗi lần nghĩ về nàng, một người đàn bà chỉ kịp quen trên chuyến đò từ Huế ra Phong Điền, chia tay nàng để nhiều năm sau, tôi mới được gặp lại nàng trong một hoàn cảnh khác, tôi vẫn giữ nguyên một cảm giác hết sức lạ lùng. Một ý nghĩa luôn ám ảnh tôi khá kỳ quặc rằng: Tôi đã bị nàng hiểu lầm, là một chàng lính giải phóng “hám gái, dại khờ”... Bởi vì sau vụ việc ấy, chính tôi cũng rủa thầm mình là ngu ngốc.