Lời cầu hôn trên đỉnh tháp Phước Duyên

15:15 08/07/2019

NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

Dáng thế của đồi Hà Khê như một con linh thú vừa tách khỏi đất mẹ, rời tổ uống mấy ngụm nước bên bờ dòng Linh Giang. Quay đầu hướng về quê mẹ, đất tổ Trường Sơn như một lời từ biệt, lòng rộn buồn vui. Một nhát gươm chí mạng của thuật sĩ Cao Biền, thân thú mang nặng vết thương vẫn còn hằn sâu ở chân đồi.

Tranh xé giấy dán của tác giả

Linh khí tiêu tan, năm tháng qua đi vết thương chưa lành… Vị thiên sứ nhà trời áo đỏ, quần lục hạ giới, đặt chân lên đồi Hà Khê, mang theo hỷ tín đến những cư dân quanh vùng. Sẽ có vị chân chúa đến đây xây chùa hàn gắn viết chém, xây bảo tháp khơi thông dòng khí đất trời - Một lòng nán đợi.

Một ngày đẹp trời, Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng, dương buồm dong thuyền ngược dòng sông Thơm chiêm ngắm biết bao cảnh đẹp trời đất. Từ xa đồi Hà Khê đột ngột nổi lên giữa bãi đất bằng phẳng lệch về mé sông như chúa sơn lâm đang cúi đầu thưởng thức mấy ngụm nước trong xanh, thơm mát. Một lời mời gọi không thể cưỡng nổi. Ngài rời thuyền theo lối mòn dấu thỏ, đường dê lên đỉnh đồi. Ngôi miếu sơ sài nhưng không kém phần trang trọng, hương khói không nở bay xa. Trên tầm cao mới thấy hết cái diệu vợi của đất trời, của xứ Ô Châu Cận Lục. Những người dân nơi đây đã kể chuyện lai lịch của miếu thờ bà già trời cùng thông điệp của Thiên đình. Trời đã phái vị thiên sứ xanh giữ đất thiêng chờ ta, ta sẽ là chính chủ của mảnh đất này, cùng với con cháu ngàn đời quần cư sinh sống.

Chúa cho xây chùa, thờ Phật, để vỗ về trăm họ an cư, chính Chúa đã giáng bút “Thiên Mụ Tự” (Bà già trời - năm 1601).

Phật ấn được đóng dấu trên đồi Hà Khê là tiên dược chữa lành vết chém, phá bỏ lời nguyền, bùa yểm của bọn tà thuật: “Ta là vị chân Chúa đã thành, người là quan thứ sử chưa thành”. Hậu duệ của chúa Tiên, vua Thiệu Trị hoàn thành nốt tâm nguyện của tiền nhân cho xây bảo tháp “Từ Nhân” (1844 - 1845), sau đó tháp được đổi thành “Phước Duyên”.

Khí hạo nhiên đã trở lại, thông suốt đất trời, lòng người… Hoành Sơn nhất đái… Tháp gồm 7 tầng, mỗi tầng đều được thờ các vị: “Quá khứ Thất Phật”.

- Tầng 1: Trung thiên Điều ngự Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật (Cakya Mauni), 11 tầng.

- Tầng 2: Ca Diếp Phật (Kacvapa) gồm 11 tầng cấp.

- Tầng 3: Câu Xày Xá Mâu Ni Phật (Kanakamouni) gồm 11 tầng cấp.

- Tầng 4: Câu Lưu Tôn Phật (Kra Koutphanda) gồm 10 tầng.

- Tầng 5: Tì Xà Phù Phật (Visvathou) gồm 10 tầng.

- Tầng 6: Thi Khí Phật (Sijkhi) gồm 9 tầng.

- Tầng 6 lên tầng 7 qua một cửa sắt được khóa chặt, niêm phong cẩn thận. Mỗi năm chỉ được mở cửa vào tháp một vài lần để làm vệ sinh, thay nước, dâng hương: Ngày đầu năm, Lễ Phật Đản (tháng 4), Lễ Vu Lan hoặc những lúc vua muốn cầu quốc thái dân an. Tầng 6 và tầng 7 cách nhau khoảng 2m.

Theo lời kể của thầy Hoàng, dạy Đại học Văn khoa Huế những năm trước 1975. Muốn lên tầng 7 phải dùng 1 thang gỗ dài khoảng 2m. Tầng này thờ Đức Thích Ca Mâu Ni, cùng 2 đệ tử của ngài là Ananda và Ca Diếp bằng vàng ròng. Các đồ từ khí: giá đèn, lư trầm, lư hương… đều làm bằng bạc. Bộ chén trà, chén nước làm bằng ngọc, đá quý.

Bộ Lễ giữ chìa khóa, Bộ Công giữ thang và với sự chứng kiến của Ngự tiền văn phòng của Hoàng triều cùng một vị cao tăng của chùa. Sau khi đã bàn bạc, thống nhất nội dung khi vào tháp, có lập biên bản mới được mở cửa. Sau ngày thất thủ Kinh đô 23/5 Ất Dậu (1885) các tượng Phật cũng như các đồ từ khí đều bị mất trộm.

*

Chiều ngày 14/7 Nhâm Tuất (1982). Thầy Trí Tựu, mời thầy giáo Lê Văn Lợi, thầy giáo Hà Xuân Liên, thầy Huyền Thanh chùa Từ Đàm. Tôi mời Trang đi cùng (thầy quen biết ba mẹ tôi). Cây song thọ đào trong khuôn viên chùa là quà đầu năm của ba mẹ tôi dâng thầy Đôn Hậu. Sáng mồng một tết Mậu Thân (1968) thầy ghé nhà thăm ba mẹ tôi sớm, chúc tết bà nội tôi, cùng cành song thọ đào đã được chiết cành, mọc rể về trồng tại chùa, sau đó thầy lên khu.

Chúng tôi lên chùa đúng hẹn, chuyện trò trà nước một lát, thầy giao chìa khóa tháp Phước Duyên và bó hương, nhờ chúng tôi thắp đều các tầng, thầy phải giải quyết một số việc còn lại, thầy sợ ngày mai khách thập phương đông, ồn ào không thể mở tháp dâng hương. Thầy Hà Xuân Liêm đang cần đối chiếu lại, hiện thực trong nội lòng tháp cho một vài chi tiết chưa được rõ cho quyển sách viết về chùa thầy đã dày công nghiên cứu. Thầy Lê Văn Lợi cần một vài tấm hình từ đỉnh tháp nhìn xuống xung quanh.

Từ lúc bước chân vào ngưởng cửa bảo tháp, tôi chợt nghĩ đến nhiều điều dị đoan: Hầu hết dân Huế đều biết chùa Thiên Mụ không phải là nơi hẹn hò của những đôi trai gái đang yêu, những cặp tình nhân đang say đắm yêu nhau, thề thốt. Đó là tín hiệu của sự chia lìa, đôi khi chỉ vì một duyên cớ lãng xẹt. Phải chăng đây là lời nguyền của tay thuật sĩ Cao Biền đã được chân chúa và những người con của thiên tử (các vua nhà Nguyễn) hóa giải. Vết chém đã được hàn gắn nhưng vẫn để lại sẹo. Phá bỉnh những kẻ đang yêu nhau là một gỡ gạc trả thù của Cao Biền. Ngoài nhiệm vụ của Thái thú - Thứ sử Cao Biền làm ngu dân, bóc lột, đàn áp, tha hồ vơ vét tài sản của nhân dân sở tại, hắn còn được Đường Y Tông (860 - 873) ra lệnh phải tìm kiếm những nơi long thủy phát vượng phí, có thể sinh đấng minh quân, một mối họa cho Hán Tộc, sau này đều phải phá yểm, diệt trừ. Cao Biền tha hồ tự tung tự tác, chỗ nào có dấu hiệu đều bị gã triệt hạ không thương tiếc. Cao Biền là tiền nhân của kẻ hủy diệt nhiều tập (do những ám ảnh của một vài lãnh thổ: Việt Tường - An Nam - Lạc Việt - Bách Việt… đã gây ra rất nhiều tổn thất cho các quan thái thú).

Tôi biết đây không phải là đất hứa của tình yêu, nhưng lại là một cơ hội không dễ gì có được nếu mình không có cơ duyên. Một điều hết sức buồn cười, ngộ nghĩnh vào đất Phật lại nghĩ đến Chúa. Tôi thật ham hố, tình yêu dâng đầy. Ca từ trong một bài hát nào đó lại về trong tâm tư chao loạn của tôi “Con quỳ lạy Chúa trên trời, sao cho con lấy được người con thương”, A men - A Di Đà Phật - Thiện tai. Đây là một tai họa đáng yêu. “Con tin có Chúa ngự trong chùa”.

Thầy Hà Xuân Liêm bước vội lên mấy bậc cấp đến tầng thầy cần kiểm tra. Thầy Lợi cũng gấp gáp lên đỉnh để kịp đón nắng cho những tác phẩm ghi ảnh của mình. Hai đứa tôi từng bước một hết tầng này đến tầng nọ, thắp hương như một cái máy. Chúng tôi đang loay hoay tìm cách lên trên đỉnh. Thầy Lê Văn Lợi cũng đã gần như đạt được ý muốn về mấy tấm phim của mình, nghe tiếng ơi ới của thầy Hà Xuân Liêm bên dưới cần giúp đỡ, thầy Lợi vội vã đi xuống. Khá vất vả chúng tôi lên được tầng trên đỉnh tháp, khoảng không gian chật hẹp hơi khó xoay xở. Tôi cũng chỉ kịp nhìn những bãi cát trắng phía Đông Nam, cái bát ngát của Trường Sơn và dòng nguyệt bạch Hương Giang đẹp quá đổi. Trang lên sau cùng, một ý nghỉ chợt ùa đến. Tôi thắp 3 nén hương trước Phật Thích Ca Mâu Ni đứng chờ. Trang xuống, tôi gọi nhỏ Trang lại đứng bên tôi, tôi nói đủ hai đứa cùng nghe:

“Trước đấng vạn năng, con Nguyễn Thượng Hiền đã qua cái tuổi 40, chỉ là một anh giáo nghèo, dị hình, dị tướng: chân cao, chân thấp, vai lệch, vai nghiêng chỉ có trái tim đang yêu. Cầu mong chư Phật cho con được lấy người con gái đang đứng bên cạnh làm vợ”.

Đây là khoảnh khắc chờ đợi lâu nhất đời tôi, không gian tĩnh lặng lạ thường, thời gian như ngưng động, nhịp tim đập thình thịch. Không biết tôi có còn mặt mũi nào để lết xuống những vòng xoáy của cầu thang hạ giới? Một lúc lâu, hơi ấm từ chốn nào đó bám lấy bàn tay tôi, níu chân, thân tôi sắp ngã quỵ. Cảm ơn em! Đã giang tay cho tôi vịn tĩnh ngày tàn, sống tiếp những ngày vui. Cảm ơn Phật đã cho con “phúc duyên”, lành thay, lành thay!

Chúng tôi đã bước xuống 52 nấc thang của thiên đường, chỉ có hạ giới, trần gian mới biết được thiên đường. Khi đã ở chốn thiên đường rồi, đâu còn chỗ cho hạ giới để cân bằng.

*

Lễ Đại tường mẹ các cháu đã qua trong tháng 7, tôi gom lại những mảnh tro tàn đầy hơi ấm của vành khăn sô, áo chế, mũ rơm, gậy vông vào lò hương cũ, đốt mấy nụ trầm để được nhìn thấy những làn khói lam bịn rịn vào mùa Vu Lan. Tôi vẫn được cài lên áo đóa hồng màu hồng, mẹ tôi vần là nải chuối, buồng cau… Nhưng các con tôi phải nhận đóa hoa hồng màu trắng. Biết bao giờ lời nguyền mới chấm dứt! Những ngày còn lại, một mình với em cùng các con yêu dấu.

“Cơm nước chưa xong đầu tiêu muối
Cơm nước xong rồi đầu muối tiêu”

Lạc Viên

N.T.H  
(SHSDB33/06-2019)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • HỒ DZẾNH
             Hồi ký

    Mai sau dù có bao giờ
    Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

                                 NGUYỄN DU

  • LÝ HOÀI THU

    Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.

  • PHẠM THỊ CÚC

    (Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)

  • Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.

  • CAO THỊ QUẾ HƯƠNG

    Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.

  • THÁI KIM LAN

    Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.

  • Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?

  • Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.

  • Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập  thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.

  • NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN

    (Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)

  • BÙI KIM CHI

    Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…

  • LÊ MINH
    Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)

    … Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LAN

    Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.

  • (SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.

  • NGUYỄN CƯƠNG

    Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.

  • PHẠM HỮU THU

    Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
    Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
    Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.

  • TRẦN NGUYÊN

    Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.

  • PHẠM HỮU THU
           Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12

    “Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).