Lần theo những dấu chân

10:50 30/10/2008
PHẠM PHÚ PHONGPhạm Đương có thơ đăng báo từ khi còn là sinh viên khoá bốn, khoa Ngữ văn đại học Tổng hợp Huế. Đó là thời kỳ anh sinh hoạt trong câu lạc bộ văn học của thành đoàn Huế, dưới sự đỡ đầu của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm (lúc này vừa rời ghế Bí thư thành đoàn, sang làm Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương vừa mới thành lập.)

Trong đó có những người sau này trở thành những cây bút quen thuộc với bạn đọc, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam như Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Quang Lập, Trần Thị Huyền Trang, Hồ Thế Hà...Tốt nghiệp ra trường, một thời gian dài lận đận xin việc, đi lính, trở về làm báo, trở thành nhà báo Trần Đăng của tờ Lao Động, nhưng cái nghiệp văn chương đã quàng vào anh từ thuở ấy vẫn không chịu buông tha:
đừng đợi những điều không thể
tôi đang vô ích
từng ngày
mà không biết
gieo những con chữ u u minh minh
mà không mong hái quả
thơ như ma tuý
khó cai nghiện nếu đã chơi với nó
                                             (cách tôi)
Những bước chân gửi lại (NXB Hội Nhà văn, 2006) là tập thơ thứ hai của anh (trước đó đã có tập Bùn non, cũng do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2003) gồm có ba mươi ba bài, là những tình cảm chân thành của anh viết dành cho những người thân như người cha “đối  mặt với cả một cuộc chiến tranh / cha không rợn bằng ngôi nhà không còn mẹ nữa” (ngôi nhà ấy), và người anh kế đa tình, đa đoan mà đoản mệnh khi “có lúc anh lầm lẵng hoa với vòng hoa / đi ăn cưới mà mặc như đưa đám / vục đầu vào sự giả dối / cứ tưởng được yêu thương” (có lúc), hoặc về người mẹ bao năm tảo tần, lận đận nuôi con được anh nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong ngôi nhà ấy, trong xó bếp, hoặc lúc nửa khuya:
                        ngồi như thể dễ tan vào chiều lắm
                        hai mươi năm một dáng ngồi kiên nhẫn
                        mẹ tôi

Phải có sự quan sát tinh tế đến mức nào, phải nhìn nhiều lần, nhìn đi nhìn lại dáng ngồi của mẹ như thế nào mới có thể tạc vào không gian sức lưu giữ lâu bền với thời gian đến mức ấy. Thơ Đương phần lớn là dùng thể tự do, không vần, không điệu, nó gần gũi với giọng điệu sôi động của đời sống hàng ngày, nhưng khi đọc lên, nó là thơ chứ không là ngôn ngữ nói, không thể không thừa nhận đó là thơ. Anh tinh tế trong cách chọn từ và cách tổ chức cái  nhìn đầy chất thơ của cuộc sống để tạo nên một ngôn ngữ thơ của riêng mình, không xa lạ mà riêng biệt, là đặc trưng đầy chất Phạm Đương...Có thể nói, cái tồn tại trong anh đã được gọi là thơ, bởi chất thơ ấy không trộn lẫn với các thể văn chương khác. Như một người luyện võ, anh sử dụng vô chiêu nhưng vẫn biến thành chiêu thức, những khuôn mẫu bỗng trở nên tinh tế và đầy chất thuyết phục. Trong cách biểu tỏ không vần, không điệu vẫn thấm đẫm chất thơ len lỏi vào tâm hồn người đọc. Dường như cái làm lên chất giọng tâm hồn của riêng anh, xuất phát từ cách nhìn, từ cảm xúc tình cảm nhẹ nhàng mà đằm sâu, không mãnh liệt, không xô bồ mà xót xa, day dứt, nhất là những bài thơ trữ tình thế sự.

Khác với nhiều người, thơ Phạm Đương được tạo nên bởi chất liệu văn xuôi. Anh quan tâm đến phần bụi bặm của đời thường. Anh thường nói nhiều đến sự nhàm chán, nhạt nhẽo (tôi chờ, nhàn nhạt, trong cơn giông), những cặn bã của đời sống (tình cờ, diệp lục), những thứ rác rưởi eo sèo (buổi sáng, sau lễ)... Anh luôn sống trong tâm trạng “nhiều ngày nhàn nhạt trôi qua”, như cứ muốn tự bỏ thêm muối vào, muốn lục tung ký ức, mở nhạc thật to để không phải nghe những điều dối trá, nhưng rồi tất cả đều bất lực, bởi “có ngâm toàn thân vào muối / cũng không thể nào mặn được” (nhàn nhạt). Chúng ta đang sống trong một thời buổi đầy những biến động, không thiếu những thăng hoa phát triển, nhưng trong lòng  nó cũng không thiếu những miền khuất tối lạnh lẽo, những mặt trái của đời sống mà đôi khi nhìn vào đâu cũng thấy:
                buổi sáng
                mở trang báo ra là gặp rác
                ập đến từ mọi phía
                cả cái phía từng được coi là sạch nhất

Nó tràn ngập, làm cho con người sờn mòn cảm xúc, đến nỗi có lúc ta có cảm giác rằng chính bản thân mình cũng tham gia vào đống rác ấy: “bây giờ anh mới thấy / đôi khi mình cũng là một thứ rác / vô cảm lặp lại mỗi ngày / mãn tính (buổi sáng). Cảm giác đó trở thành nỗi ám ảnh, trì nặng tâm trạng của người làm thơ, chi phối cách nhìn về đời sống, trước những vận động đổi thay:
hôm qua là hoa
còn nay là rác
bao lời xum xuê
thay bằng tệ bạc

từ hoa sang rác
cách một ngày thôi
tôi hỏi thằng tôi:
mày hoa hay rác
                                               (sau lễ)
Nhưng đừng vội cho rằng Phạm Đương hằn học với đời sống, thiếu niềm tin vào những điều tốt đẹp của con người, vì nhìn đời bằng đôi kính màu đen. Anh xới tung tất cả những tối tăm để tìm ra ánh sáng, trong cái lạnh lẽo của mùa đông anh vẫn nhận ra sự nẩy lộc đâm chồi của nhựa sống mùa xuân:
hình như vẫn còn vẳng đâu đây
tiếng của cành bàng vừa trút lá
anh không nghĩ đó là lời tiễn biệt cuối cùng Hà Nội
chỉ hy vọng sau phút lìa cành ấy
sẽ là tiếng cựa mình chồi non
                                                         (Hà Nội mùa đông năm ngoái)

Nghịch lý của đời sống cũng chính là nghịch lý của cảm xúc thơ ca. Giữa bộn bề của đời sống, sự bươn chải của con người trong nhịp sống đời thường, vẫn không thiếu những phẩm chất tươi đẹp, giữa trạng thái thế sự nặng nề không thiếu những cảm xúc tươi non. Xuyên suốt trang thơ, ta dễ nhận ra anh luôn có một cái nhìn đằm thắm, ấm áp về quá khứ, về những tháng ngày phù sa trong ký ức bãi bồi. Lần đọc trang thơ, như lần lại những dấu chân, buồn nhiều hơn vui, chiêm nghiệm, xót xa hơn là thoả mãn hài lòng, nhưng vẫn có thể tìm thấy sự chấp nhận, bằng lòng như chính đời sống con người vốn là như thế:
gửi lại tháng giêng
giấc mơ bầu bí
gửi lại những bước chân sợ hãi
từng đi qua hoang mạc đời người
cơn gió nồm thổi lại
anh cũng vừa phôi thai...
                                             (những bước chân gửi lại)

Nếu những bài thơ viết về những người thân thấm đẫm tình cảm, thì ở những bài thơ trữ tình thế sự biểu hiện sức nghĩ nhiều hơn là sức cảm, thể hiện thái độ của một người nhập cuộc nhưng vẫn nhìn đời sống bằng con mắt điềm tĩnh, luôn mang tâm trạng đối lập với những tiêu cực, eo sèo của đời sống nhưng vẫn tha thiết yêu đời. Điều đó thể hiện rõ trong  nhiều bài thơ hay trong tập như buổi sáng, cách tôi, tôi chờ, một phần tư ngày, nhàn nhạt, có lúc, diệp lục, mai, những bước chân gửi lại, Hà Nội mùa đông năm ngoái... Điều đáng lưu ý nhất trong thơ Phạm Đương là những cố ý về hình thức, những yếu tố tạo nên giọng điệu ngôn từ và thế giới hình tượng nghệ thuật trong thơ. Những tiêu đề, những chữ đầu câu tôi dẫn ra từ đầu bài viết cho đến nay, đều không viết hoa, là trái với ngữ pháp thông thường, nhưng đúng với nguyên văn hàm ý của tác giả.

Toàn tập thơ, từ đầu đến cuối, ngoại trừ một số tiêu đề in theo mẫu chữ in hoa và một số tên riêng như Chu Thượng, Văn Cao, một số địa danh như Hà Nội, Khâm Thiên, Quảng Ngãi anh có viết hoa, còn lại đều viết thường, kể cả đầu câu, đầu đề, nhan đề của tập thơ và cả tên tác giả. Đó là sự cố ý của tác giả, nhằm tạo nên sự liền mạch giữa các yếu tố, sự bình đẳng giữa từng con chữ, làm cho mạch cảm xúc của người đọc không bị ngắt quãng và hình tượng thơ được đặt trong mối quan hệ mật thiết với nhau, hình thành thế giới nghệ thuật thơ của riêng anh, không trộn lẫn với bất kỳ ai. Đọc thơ anh, phải “đọc” cả tiêu đề mới hiểu hết bài thơ; đề không chỉ là sự khái quát chủ đề của nội dung, mà là mở đầu cho nội dung, mang một nội dung khác, một bộ phận làm nên nội dung. Về thi pháp hình thức, tất cả các yếu tố, các thành tố tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật đều có giá trị nội dung, tách rời, bỏ qua hoặc thay đổi bất kỳ yếu tố nào, đều ảnh hưởng đến giá trị tác phẩm. Cái thế giới không viết hoa của Phạm Đương là một hàm ngôn nghệ thuật độc đáo.

Về thể thơ và giọng điệu ngôn từ, ngoài bài chợ Chùa viết theo thể lục bát, một vài bài viết theo thể năm chữ, bốn chữ, nhưng vần điệu cũng phóng túng như thể thơ tự do. Anh viết như nói thường ngày. Nhưng nói có chất thơ. Không bị ràng buộc bởi một niêm luật nào, tạo cho thơ anh sức bứt phá về ngôn từ và cả về cảm xúc. Người làm thơ không chú trọng đến việc chải chuốt về câu chữ, mà chỉ nhằm chải chuốt ý tưởng, trình bày ý tưởng, đồng cảm với nỗi niềm của tha nhân và muốn nói với họ một điều gì:
tôi đi tìm hạt muối
dưới đáy
lại gặp một dòng sông héo khô
những tầng nước ngầm quên lãng

ở đó
đang mọc lên những câu thơ
diệp lục
                                                     (diệp lục)

Là nhà báo có tài, Phạm Đương giỏi phát hiện ra đề tài và có cái nhìn lộn trái vấn đề để tìm ra một cách nói, một cách lý giải vấn đề có sức thuyết phục. Điều đó, ít nhiều ảnh hưởng đến sáng tạo thơ ca. Trước sự ra đi của người anh kế, nhờ có công nghệ máy tính, người ta khoác lên tấm ảnh một chiếc áo vét, một thứ trang phục mà khi còn sống, anh chưa mặc bao giờ, làm tác giả chạnh lòng nghĩ đến sự tha hoá nhân cách (di ảnh); mỗi người có một nhân cách, một cái bóng riêng, khi đã đánh mất nhân cách trở thành cái bóng của người khác, thì cái bóng của chính mình cũng mất đi (cái bóng), hoặc nhìn hoa tàn sau ngày lễ, nhìn mẹ ngồi chờ con lúc nửa đêm, nghĩ về địa danh chợ Chùa, nhìn hai cây hoa đại trên hè phố Khâm Thiên...anh đều cài cảm xúc bủa giăng như mắc lưới, để có những câu thơ đầy trăn trở trước cuộc đời. Đọc thơ anh, nghe cái giọng tưng tửng mà thấm đẫm nỗi niềm, lòng tôi buồn thăm thẳm.

Tuy nhiên, theo tôi người làm thơ hay có thể trở thành nhà báo giỏi, nhưng một nhà báo giỏi chưa chắc đã có thể trở thành người làm thơ hay. Đây chỉ mới là tập thơ thứ hai của anh. Anh còn trẻ. Đường còn xa, đôi khi xa đến mức ngao ngán. Chưa thể nói sớm một điều gì. Chỉ có một điều cần khẳng định là, khác với nhiều loại thơ du dương về giọng điệu, nồng nàn về cảm xúc nhưng đọc lên vẫn cứ nhàn nhạt, không đọng lại điều gì, với thơ Phạm Đương, mỗi bài là một trăn trở, một đề xuất với cuộc đời, mà cảm hứng chủ đạo là khát vọng về sự hoàn thiện nhân cách của con người, vượt lên trên tất cả thói giả dối, khoa trương, tìm đến bản chất người của con người với tất cả những biểu hiện phong phú của nó. Đó là cái đáng quí và đáng ghi nhận ở Phạm Đương.
                        P.P.P

(nguồn: TCSH số 217 - 03 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÊ HUỲNH LÂMDạo này, thỉnh thoảng tôi nhận được tin nhắn “nhìn đời hiu quạnh”, mà theo lời thầy Chạy đó là câu của anh Định Giang ở Vỹ Dạ mỗi khi ngồi nhâm nhi. Khi mắc việc thì thôi, còn rảnh rang thì tôi đến ngồi lai rai vài ly bia với thầy Chạy và nhìn cổ thành hắt hiu, hoặc nhìn cội bồ đề đơn độc, nhìn một góc phố chiều nguội nắng hay nhìn người qua kẻ lại,… tất cả là để ngắm nhìn cõi lòng đang tan tác.

  • THU NGUYỆTLTS: Tập truyện Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư được giới chuyên môn đánh giá cao như một hiện tượng văn học trong thời gian gần đây. Giữa lúc đông đảo bạn đọc đang hứng vị với hiện tượng này thì có một hiện tượng khác “ngược chiều” đã gây sốc dư luận.Để bạn đọc Sông Hương có thêm thông tin, chúng tôi xin trích đăng một số ý kiến sau đây.

  • HIỀN LƯƠNGVậy là Nguyễn Ngọc Tư sẽ bị kiểm điểm thật. Cầm tờ biên bản của Ban Tuyên giáo tỉnh Cà Mau trên tay, trong tôi trào dâng nhiều cảm xúc: giận, thương, và sau rốt là buồn...

  • BÙI VIỆT THẮNGTôi có theo dõi “vụ việc Nguyễn Ngọc Tư” đăng tải trên báo Tuổi trẻ (các số 79, 80, và 81 tháng 4 năm 2006) thấy các ý kiến khen chê thật ngược chiều, rôm rả và quyết liệt. Kể ra không có gì lạ trong thời đại thông tin mọi người đều có quyền cập nhật thời sự, nhất là trong lĩnh vực văn chương vốn rất nhạy cảm.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ“Người kinh đô cũ” (NKĐC - NXB Hội Nhà văn, 2004) là tác phẩm thứ 14 của nhà văn Hà Khánh Linh, cũng là tác phẩm văn học dày dặn nhất trong số tác phẩm văn học của các nhà văn ở Thừa Thiên - Huế sáng tác trong khoảng 20 năm gần đây.

  • HỒ THẾ HÀ   Trong cuộc đời mỗi con người, điều sung sướng nhất là được hiểu biết, khám phá và sáng tạo để ý nghĩa tồn sinh không ngừng được khẳng định và nâng lên những tầm cao mới. Theo đó, những thang bậc của nhận thức, nhân văn, của thành quả lao động lại biến thành những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể lấp lánh lời giải đáp.

  • TÔ VĨNH HÀNếu có thể có một miền thơ để mà nhớ mong, khắc khoải; tôi tin mình đã tìm được rồi, khi đọc Mưa Kim Cương của nhà thơ Đông Hà (Nxb Thuận Hoá, Huế, tháng 11.2005). Sợi dây mảnh mục như các khớp xương đan chằng, xéo buốt, chơi vơi; được giăng giữa hai bờ lở xói của cuộc đời. Trên cao là “hạt” kim cương thô ráp và gan lỳ hơn cả là đá nữa, nhưng lại giống với thân hình thần Vệ Nữ đang rơi, đang rơi, nhọn sắc, dữ dằn... Minh hoạ ở trang bìa xanh và sâu thẳm như những trang thơ.

  • TRẦN THANH HÀLGT: Có thể nói rằng, “Tiểu thuyết và tiểu luận về tiểu thuyết của Milan Kundera được xem như là một trong những hiện tượng độc đáo đáng được chú ý trong văn học Châu Âu hiện đại”. Mỗi cuốn tiểu thuyết cô đọng của nhà văn, mang lại cho độc giả một cái nhìn độc đáo về thế giới hiện đại và vị trí con người trong đó, một thứ triết học riêng về cuộc sống và mối quan hệ liên cá nhân, “các chủ đề sắc sảo và các tính cách con người sinh động được kết hợp với những suy tư về các đề tài triết học và hiện sinh mang tính toàn cầu”.

  • HOÀNG VĂN Đọc Hoang thai ta có thể hình dung ra xã hội Ba Lan đương đại và những vấn đề nẩy sinh trong xã hội này.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊGặp nhà văn - dịch giả Đoàn Tử Huyến - một người “chơi” sách có hạng ở đất Hà Thành - tại nhà sách lớn của Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây mới khai trương trên khu Cầu Giấy, trước ngày hội thảo về tiểu thuyết “Mẫu Thượng ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh, tôi hỏi: “Có đúng là ông đã nói trên một tờ báo rằng “Một tác phẩm kiệt xuất như “Nghệ nhân và Margarita” (NNVM) mà chưa có một nhà phê bình Việt Nam nào sờ đến cả! “Đúng vậy không?” Đoàn Tử Huyến cười nhăn cả mũi: “Thì đúng vậy chứ sao!”

  • HOÀNG VŨ THUẬT(Đọc Hoạ mi năm ngoái - Thơ Trần Kim Hoa, NXB Văn học, 2006)

  • LTS: Sông Hương vừa nhận được lá thư của ông Tế Lợi Nguyễn Văn Cừ gửi cho nhà nghiên cứu Phan Thuận An nhằm cung cấp lại bản gốc của bài thơ “Cầu ngói”. Xin nói thêm, ông Nguyễn Văn Cừ là con của ông Nguyễn Văn Lệ, tác giả bài thơ.Sông Hương xin đăng lá thư này để hầu mong rộng đường trao đổi.

  • HOÀNG VŨ THUẬT(Đọc Ngày không ngờ - thơ Nguyễn Bình An, NXB Thuận Hóa 2007)

  • VĨNH NGUYÊN(Nhân xem tập thơ Nhật thực của Nhất Lâm, Nxb Thanh Niên, 2008)

  • NGÔ MINHLTS: Ngày 13-2-2007, Bộ Văn hoá Thông tin đã công bố quyết định của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam về việc tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật. Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ được là 1 trong 47 nhà văn được giải thưởng nhà nước với chùm tác phẩm: Đề tặng một giấc mơ (tập thơ 1988), Trái tim sinh nở ( tập thơ - 1974), Bài thơ không năm tháng (tập thơ - 1983). Nhân dịp ngày Quốc tế phụ nữ 8-3, TCSH xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Ngô Minh về nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.

  • BÙI VIỆT THẮNGVịt trời lông tía bay về (*) là sự lựa chọn có thể nói rất khắt khe của chính nhà văn Hồng Nhu, rút từ cả chục tập và chưng cất ba mươi truyện ngắn tiêu biểu của gần trọn một đời văn. Con số 33 là ít những không là ít vì nhà văn ý thức được sâu sắc quy luật nghiệt ngã của nghệ thuật ngôn từ “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. 33 truyện được chọn lọc trong tập sách này có thể gọi là “tinh tuyển truyện ngắn Hồng Nhu”.

  • HÀ KHÁNH LINHNgười lính chiến trở về bỏ lại một phần thân thể của mình trên trận mạc, tựa vào gốc nhãn hoang bên vỉa hè lầm lụi kiếm sống, thẳng ngay, chân thật, khiêm nhường.

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNTrong Ngày Thơ Việt vừa qua, một tuyển tập thơ “nặng hàng trăm năm” đã được đặt trang trọng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Rất nhiều những bài thơ xứng đáng với danh xưng hay nhất thế kỷ XX đã “biện lý do” vắng mặt, và ngược lại. Đấy là một trong nhiều sự thật được đa phần dư luận kiểm chứng. Cũng là một góc nhìn khá rõ nét, Sông Hương xin giới thiệu ba bài viết của Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Hữu Qúy và Phước Giang về tuyển tập thơ “nặng ký” trên.

  • NGUYỄN HỮU QUÝCuộc thi bình chọn 100 bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ XX do Trung tâm Văn hoá doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo Dục phối hợp tổ chức đã kết thúc. Một ấn phẩm mang tên “100 bài thơ hay nhất Việt thế kỷ XX” đã được ra đời. Nhiều người tìm đọc, trong đó có các nhà thơ và không ít người đã tỏ ra thất vọng, nghi ngờ.

  • PHƯỚC GIANGTrung tâm Văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo dục vừa tuyển chọn và giới thiệu 100 bài thơ hay nhất thế kỷ XX.Việc này thực hiện trong hai năm, theo ông Lê Lựu, Giám đốc Trung tâm Văn hóa doanh nhân thì kết quả thật mỹ mãn: hơn 10.000 phiếu bầu, kết quả cuối cùng “không ai bị bỏ sót” và “trong 100 bài đã được chọn chỉ chênh với các danh sách khác khoảng 5-7 bài”.