Cuối mùa hè năm 1978 chúng tôi là lứa lưu học sinh đầu tiên được tới Liên Xô bằng máy bay, trước đây chỉ đi bằng tàu hỏa liên vận qua Bắc Kinh. Đối với nhiều người Việt Nam lúc bấy giờ, nhất là những người lính sau mấy năm chỉ sống ở núi rừng, Moscow thực sự là thiên đường.
Mùa đông năm 1979 ở Liên Xô (tác giả đeo kính ngồi hàng trên, cùng các du học sinh quốc tế)
Choáng ngợp với hệ thống tàu điện ngầm
Chúng tôi choáng ngợp trước một thành phố to đẹp. Cái gì cũng lạ lẫm. Nhớ lần đầu tiên đi tàu điện ngầm (metro), tôi cùng một anh bạn trong túi chỉ có mỗi ruble cũng quyết đi khám phá. Giá vé tàu điện ngầm chỉ 5 copec, nếu bạn không lên mặt đất thì 5 copec có thể đi tất cả các tuyến từ sáng sớm đến đêm. Đến ga gần Trường Tổng hợp Lomonoxop, chúng tôi phải quan sát một lúc lâu xem cách thức người dân bản địa qua cửa kiểm soát thế nào mới dám bỏ đồng 5 xu ấy vào khe để qua cửa kiểm soát. Mọi thứ hoàn toàn tự động. Cầu thang máy dẫn xuống sâu hun hút dưới lòng đất. Bước vào sân ga là cảnh tượng vô cùng hoành tráng. Phải nói các nhà ga metro của Moscow rất đẹp, mỗi ga có kiến trúc riêng như một công trình nghệ thuật.
Quy hoạch mạng lưới các tuyến và bến ga metro cũng rất hợp lý, khoa học, liên kết chặt chẽ với bến, nhà ga các phương tiện giao thông trên mặt đất, thuận lợi cho hành khách. Nghe nói khi duyệt thiết kế hệ thống metro này, Stalin trầm ngâm suy nghĩ rồi cầm chiếc ly cà phê úp xuống bản thiết kế các tuyến ngang, dọc, nói phải thêm đường vòng tròn này nữa. Đứng chờ ở ga, vài phút có một chuyến tàu đi, đến, giờ cao điểm thì chỉ 1 phút. Hàng ngày hệ thống metro này chuyên chở mấy triệu lượt hành khách. Thời kỳ chiến tranh chống phát xít Đức các công trình xây dựng dân dụng đều dừng lại, riêng công trình này vẫn được tiếp tục. Quan sát chỉ riêng hạ tầng giao thông cũng thấy tiểm lực của đất nước Xô Viết lớn nhường nào.
Con người đôn hậu
Được tuyển chọn từ những người đạt điểm cao nhất tại kỳ thi đại học trong nước, nên đối với chúng tôi việc học tập không quá khó khăn, nhất là các môn khoa học tự nhiên. Chúng tôi còn phụ đạo cho các bạn sinh viên khác. Nhưng năm đầu tiên thì đúng là cực hình. Lên giảng đường nghe giảng mà chẳng hiểu các thầy cô nói gì, chẳng ghi chép được gì, nhất là các môn như Triết học, Kinh tế chính trị học, Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô… Tối về phải mượn vở bạn Nga chép lại, rồi tra từ điển, học từ mới… Những năm sau thì khá hơn do vốn tiếng Nga tốt hơn. Đúng là học ngoại ngữ tốt nhất là được tiếp xúc thường xuyên với người bản xứ. |
Sáu năm sống và học tập ở Liên Xô, được tiếp xúc với nhiều người từ thầy cô giáo, bạn bè sinh viên đến người dân thường gặp trên đường phố, cảm nhận chung của tất cả lưu học sinh chúng tôi là người Nga và các dân tộc khác của đất nước Xô Viết đều rất đôn hậu, tốt bụng. Nếu bạn hỏi đường họ không những chỉ dẫn cặn kẽ mà có thể còn dắt bạn đến tận nơi. Một lần vào mùa đông 1981 lên thăm thành phố Leningrad (Saint Petebourg bây giờ), tôi hỏi đường đến ký túc xá Học viện Lâm nghiệp, mấy thanh niên người Nga dẫn tôi đến tận cửa ký túc xá rồi mới quay lại hàng trăm mét dưới trời tuyết rơi trắng xóa.
Đầu năm 1979 tôi đang học tiếng Nga ở Trường Hóa dầu Bacu, Thủ đô nước Cộng hòa Azerbaijan thuộc Liên Xô thì chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra. Chúng tôi biết tin này thông qua những người bạn Liên Xô. Lên lớp, thầy cô giáo và bạn bè đều nhìn chúng tôi với con mắt lo âu. Họ hỏi Hà Nội cách Lạng Sơn bao xa, nhà mày có gần chiến trường không, tổn thất của Việt Nam mấy ngày qua có lớn không…? Họ lo lắng cho Việt Nam như chính cho họ vậy. Cảm động nhất là phong trào phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam do các bạn Liên Xô tổ chức rất rầm rộ. Hàng chục cuộc mít tinh, tuần hành của thanh niên, sinh viên thu hút rất nhiều sinh viên các nước khác tham dự.
Ngày ấy, thỉnh thoảng vào dịp nghỉ hè chúng tôi được đi lao động tình nguyện, thường là về các vùng phía nam ấm áp giúp thu hoạch nho, táo hoặc bẻ hoa thuốc lá ở các nông trang tập thể. Đây mới thực sự là cánh đồng bát ngát cò bay. Ô tô chạy hàng giờ mới hết cánh đồng nho. Những người Nga đi làm cùng bảo nho ngọt lắm đấy, chúng mày cứ chén thỏa thích. Bọn sinh viên chúng tôi làm thì ít, nô nghịch thì nhiều, mệt nhưng vui.
Tôi nhớ hình như vào mùa hè năm 1983, tôi được đi dự Liên hoan Thanh niên hai nước Việt Nam - Liên Xô do Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức ở thành phố Kazan - thủ phủ của Cộng hòa Tatarstan thuộc Liên bang Nga. Bạn tổ chức rất chu đáo, trọng thị, với tinh thần đoàn kết hữu nghị mẫu mực, làm chúng tôi và các thanh niên khác ở trong nước sang dự hết sức cảm động…
Gần 40 năm đã trôi qua, tôi cũng chưa có cơ hội quay lại nước Nga. Có thể bây giờ nước Nga đã khác xưa nhiều lắm. Ký ức về nước Nga, về Liên Xô, về những người thầy, người bạn nhiều khi hiện ra cứ như mới ngày hôm qua. Sáu năm sống và học tập ở Liên Xô đối với tôi thực sự là những năm tháng không thể nào quên.
HỒ DZẾNH
Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
NGUYỄN DU
LÝ HOÀI THU
Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.
PHẠM THỊ CÚC
(Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)
Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.
CAO THỊ QUẾ HƯƠNG
Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.
THÁI KIM LAN
Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.
Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?
Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.
Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.
DƯƠNG PHƯỚC THU
LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.
NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
LÊ MINH
Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)
… Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.
NGUYỄN KHOA BỘI LAN
Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.
(SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.
NGUYỄN CƯƠNG
Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.
PHẠM HỮU THU
Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.
TRẦN NGUYÊN
Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.
PHẠM HỮU THU
Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12
“Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).