Ký ức hương trà

15:01 30/11/2009
TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

Suốt đời tôi vẫn lang thang đi kiếm tìm cái đẹp tiềm ẩn trong cuộc sống. Mãi gần nửa đời người tôi mới ngộ ra rằng, với riêng tôi, cái đẹp của đời tôi, niết bàn của đời tôi lại ở ngay trong cốc trà luôn nóng ấm thơm ngát giọt đắng trong tay. Trà là người bạn tri kỷ của tôi, là một phần trong tôi và một phần trong người tôi yêu dấu.

Tôi đã đi lang thang và vẫn còn phải lang thang mãi theo đuổi một làn hương, mà khởi đầu của hành trình bất tận ấy là từ trong ký ức. Hương vị trà đã ôm ấp, thấm đẫm, vương vấn tuổi thơ tôi. Ký ức thơm ngát hương trà của quê hương, gia đình và cha mẹ cùng tinh túy đất trời đã nuôi dưỡng tôi, cùng cho tôi hình hài và tâm cảm. Tôi vẫn mơ về nơi tôi đã bắt đầu...

Tôi còn nhớ, hồi xưa ba tôi vẫn được phân phối một hay hai lạng chè mỗi tháng, những lạng chè thời khó khăn được người ta đóng gói trong những lớp giấy mộc đen đen cũ cũ. Có trà, ông cụ thích lắm, cẩn thận cho hết vào trong cái lọ thủy tinh, bên ngoài còn bọc thêm một lớp giấy bạc. Cụ bảo là để chống ánh sáng, ánh sáng và độ ẩm sẽ làm cho chất lượng của chè giảm đi rất nhiều. Ông cụ còn là người rất thích chơi bài Tổ Tôm và uống trà đàm đạo với bạn bè vào mỗi ngày nhàn rỗi,  cái thú tiêu giao tao nhã này vào cái thời buổi ấy cũng thật là hiếm. Ngay từ tấm bé,  những hình ảnh ấy của Ba tôi đã có ảnh hưởng với tôi nhiều lắm.

Trong vườn nhà hồi ấy có trồng một cụm hoa Nhài, tuy không tốt tươi lắm nhưng vẫn cho hoa quanh năm. Bình thưòng ông cụ dậy rất sớm, lúc mà hoa Nhài đang còn ngậm sương đêm, cánh hoa vừa như hé nụ. Cụ cẩn thận hái từng búp hoa đang còn hàm tiếu cho vào cái cốc sạch trắng tinh. Sau đó đi vào nhà, cụ cẩn thận rửa bộ ấm chén bằng sứ Hải Dương thật sạch. Biết ý của cụ ông, sáng nào cũng vậy khi nghe tiếng ho trở dậy của ông là bà cũng dậy theo, vơ vội nắm rơm để đun cho ông một ấm nước sôi già để pha trà. Tôi không để ý, mà cũng không tham gia vào cái công việc này của hai cụ, nhưng cái hiện tượng ấy cứ lặp lại một cách êm đềm ngày này qua tháng nọ, bất kể là mùa nắng hay là mùa mưa bão của đôi “tình nhân” già kia vào mỗi sáng tinh mơ làm cho tôi có cảm giác vô cùng ấm cúng. Bữa nào ông cụ mệt trong người không dậy sớm uống trà được là tôi cảm thấy thiếu thiếu một cái gì đó lớn lắm, tựa như thiếu một tiếng chuông chùa xa vọng lúc mờ sương, hay tiếng gà gáy dập dồn vào mỗi sáng sớm. Sau này khi đã lớn, có rất nhiều lúc tôi còn cảm thấy cái thiếu của thời thơ ấu ấy là cái gì đó hơn thế nữa, mà tôi không thể định nghĩa đó là cái gì...

Rồi một ngày kia, xa nhà đi học, xa quê đi làm, phiêu bạt lên tận miền cao nguyên sương phủ, tôi vẫn luôn cảm nhận được một cách mơ hồ và dịu ngọt cái hương vị trà đẫm màu ký ức. Hương thơm toả ra từ chén trà sớm tinh khiết của ba tôi cứ vương vấn, quấn quýt trong mỗi góc nhỏ sâu kín trong tâm hồn, trong mỗi bước chân phiêu bạt của tôi trên hành trình lữ thứ vì cuộc sống và vì cả cái đẹp trong cuộc đời này. Xa rời mái ấm gia đình và làng quê Liễu Thượng, gởi lại “đôi tình nhân  già “cho cốc trà buổi sớm - vị ngọt lưu hương cho nghĩa trầu cau, đứa con út yếu đuối mà gan góc là tôi, lặng lẽ khăn gói lên đường về phương nam lập nghiệp, chỉ đem theo trong hành trang, trong tiềm thức hình bóng của mẹ cha, chỉ đem theo thoang thoảng hương vị của một cốc trà trong ký ức.

Đời người có muôn vàn mơ ước. Tôi cũng là một kẻ tham lam! Nhưng qua đi mọi phù phiếm của cuộc đời, còn lại trong tôi chỉ là một ước mơ giản dị như màu áo nâu bạc màu mà ba tôi thường mặc, như chiếc nón lá giãi dầm mưa nắng mẹ tôi vẫn đội trên đầu tảo tần khuya sớm vì chồng con. Tôi chỉ mơ ước một ngày kia cuối con dốc dài của cuộc đời mệt mỏi vì phiêu bạt, lại được về bên mái nhà xưa, về lại bên cội chè già cỗi, lại hái những nụ hoa lài tinh khiết còn quyện sương đêm... Tôi mơ thấy mình trong những tiếng ho khù khụ của tuổi già, với phong thái an nhàn, chậm rãi châm một bình trà sớm thơm nồng hương mai. Cũng vẫn thứ nước mưa đêm tích trữ đầy ắp ngọt ngào trong cái lu sành mẻ góc dưới gốc cau già kia, được múc lên bằng một cái gáo dừa cũ kỹ. Và nhất là cũng vậy, được đun sôi bằng một nắm rơm nhà quê cũ mà người bạn đời tri kỷ, giờ cũng đã già nua như tôi, đã hiểu ý mà đun và đồng ẩm bằng cả tấm tình già…

Cứ mãi thế, rồi con trai tôi, rồi cháu chắt của tôi... Mong sao cứ sẽ mãi được ướp trong hương thơm chén trà ký ức tuổi thơ.

T.G.N.M.Q
(248/10-09)



Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN VĂN DŨNGTôi không tin rằng một cô gái đẹp thì lúc nào cũng đẹp. Sông Hương cũng thế. Sông Hương là quà tặng ưu ái của Thượng đế dành cho kẻ phàm trần.

  • NGUYỄN HỮU THÔNGĐêm thêm như một dòng sữa.Lũ chúng em, âm thầm rủ nhau ra trước nhà.Đêm thơm, không phải từ hoa,Mà bởi lòng ta thiết tha tình yêu thái hòa.Đời vui như men sayNgọt lên cây trái..

  • NGUYỄN XUÂN TÙNGSống lạc quan yêu đời, luôn luôn làm chủ được những suy nghĩ, tình cảm và hành động để tự thắng mình trong mọi hoàn cảnh là một phẩm chất cao đẹp của Bác Hồ.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGỞ Huế hình như không có mùa thu, mùa thu chỉ ghé lại thành phố giữa một mùa nào đó, mùa hè chói chang hay mùa đông rét mướt. Vì thế, bao giờ người ta cũng đón chào mùa thu bằng nỗi vui mừng đến với một người thân đi xa mới về để lại vội vã ra đi, bằng một cái mà nhạc sĩ tiền chiến Đặng Thế Phong gọi là “Con thuyền không bến”. Trên sông Hương, hình như thường có nỗi bơ vơ chờ sẵn những tâm hồn lãng tử quen xa nhà từ vạn cổ.

  • TRẦN THÙY MAI“Khuôn mặt em đâu phải chữ điền, Trúc không che ngang mà che nghiêng”

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGCái tin anh Phương mất đột ngột đến với tôi lúc 11 giờ đêm, qua giọng rã rời nghẹn ngào của nhà thơ Lương Ngọc An báo Văn nghệ, lúc tôi đang “dùi mài kinh sử” ở khu ký túc xá trường Đại học Y Hà Nội để lấy cho xong cái bằng Thạc sỹ.

  • Hành trìnhĐã từ lâu tôi cứ muốn đi núi Tuý Vân để tìm hiểu xem sao nó được vua Thiệu Trị liệt vào hàng thứ 9 trong “Thần kinh nhị thập cảnh”.

  • Trước năm 1945, mỗi lần đi qua Ái Tử, tôi không khỏi lo sợ… Một sự lo sợ mơ hồ. Còn vì sao mà sợ thì cũng chẳng biết.

  • Ngay lần đầu tiên gặp ông đã đầy kỷ niệm. Đại đội tôi giao quân bên bờ một con suối đẹp cách sông Hương không bao xa. Anh Nguyễn Châu trưởng ban quân lực Thành đội nhận quân xong, ông đến bắt tay từng người.

  • Tôi vừa đến vùng Bắc Tây Nguyên được mấy hôm thì gặp địch càn quét. Hôm đó tôi định vào cơ quan xã Đaktô để làm việc không ngờ gặp địch dọc đường, tôi tạt vào rừng và nhắm hướng trở lại đơn vị, nhưng càng đi càng lạc sâu vào rừng thẳm.

  • Rời Bắc Hải chúng tôi bảo nhau từ giờ trở đi sẽ chỉ ở khách sạn chứ ở nhà người quen có cái vui nhưng cũng gây phiền toái cho bạn bởi chúng tôi đi chơi bất tử chẳng có giờ giấc nhất định nào.

  • Có một lão ngư kiêm lão nông suốt mấy chục năm trời vắt mồ hôi thành muối, tưới mồ hôi thành sông hồ mà mảnh vườn nhà vẫn cằn khô, chiếc thuyền nhà vẫn không tanh mùi cá biển. Quang cảnh vườn nhà cứ một mùa xanh lại ba mùa rụng lá, khô cành. Vợ chồng con cái chỉ thấy mắt chẳng thấy mồm. Xung quanh hàng xóm cũng chung hoàn cảnh.

  • Đấy là vào khoảng cuối chiến dịch Điện Biên Phủ – 1954. Đơn vị chúng tôi (đại đội 410 – đội 40 – TNXP Trung ương) được điều đi nhận nhiệm vụ mới.

  • 1. Cô bạn cùng cơ quan nghe nói tôi “có tay nuôi người”, lại quen biết giao du rộng rãi nên có ý nhờ tìm một người giúp việc nhà cho vợ chồng cô em gái.