Kỳ lạ ông tôi

15:31 12/08/2009
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

(Ảnh: huevatoi.com)

Thời vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương từ Huế chạy ra miền Tây Quảng Bình đóng bản doanh chống Pháp, vùng tôi nổi lên danh tướng Lê Trực chỉ huy một cánh quân hoạt động rộng khắp cả vùng phía Bắc tỉnh, kẻ địch cũng phải khiếp vía. Bấy giờ ông tôi vừa tuổi đôi mươi, tâm hồn nhạy cảm sớm bén lửa yêu nước liền sung ngay vào đội cảm tử dưới lá cờ nghĩa. Thấy ông nhanh như sóc, Lê Trực bèn cho làm chân liên lạc. Từ căn cứ vùng núi Chóp Chài, Cu Trắt đã đi khắp nơi với đôi chân đất, đầu trần, bên hông mang cái túi, tay cầm con dao bầu. Những thông tin qua về giữa triều đình của ông vua yêu nước tận chốn rừng xanh và cánh quân Lê Trực đều do một mình ông đảm trách. Nhiều lần Cu Trắt từng gặp đại tướng Tôn Thất Thuyết và Tả quân Trần Xuân Soạn và dù chỉ là anh lính trơn, nhưng có những mưu kế của Cu Trắt các danh tướng xem là cao kiến. Người làng còn nói rằng ông từng được ăn chung mâm, ngủ cùng giường với đức vua Hàm Nghi, chắc đó chỉ là chuyện bịa đặt cốt nhằm tăng thêm oai danh của ông mà thôi.

Phong trào Cần Vương đang lên thì bị nội gián làm phản, vua Hàm Nghi bị bắt và đày biệt xứ. Mấy cụm quân từng theo nhà vua chiến đấu oai hùng một thời tan rã dần, có đám ra hàng, có người mai danh ẩn tích. Nguyên Đề đốc hộ thành Hà Nội, Đệ tam giáp võ tiến sỹ Lê Trực không chịu quy hàng, vẫn lẩn quất đâu đó với tâm trạng "Tấm lòng trung của tôi đối với vua buộc tôi phải khi ẩn khi hiện, song dù ẩn hay hiện, cũng không khi nào tôi chịu đầu hàng người Pháp và vua Đồng Khánh!".

Cu Trắt phải về làng làm ăn, vì cha già mẹ yếu nhưng niềm cô trung vẫn đỏ như son. Ông đặt vè ca ngợi vua Hàm Nghi, ca ngợi nghĩa khí Cần Vương và chế nhạo bọn thực dân, tay sai. Ngày nay trong dân gian vẫn còn sót lại đôi câu:

            Bớ Phú- lang- sa
            Bớ phường bán nước
            Làm hại vua ta!
            Thề cùng nhật nguyệt
            Dao phay ta mài
            Hòn đạn ta đúc
            Còn đất còn trời
            Ta chưa nhắm mắt!...

Bọn lý dịch địa phương rất tức tối, bèn trình quan trên về làng vây bắt. Khi đám sai nha kéo đến thì Cu Trắt đang ngồi đan rổ trước cổng, liền bỏ chạy vô nhà vì không còn cách nào hơn. Bọn chúng hò hét đuổi theo, sộc vào mọi nơi trong căn nhà lợp lá cọ nho nhỏ nhưng chẳng thấy đâu. Tin đồn anh Cu Trắt có phép tàng hình khiến chúng rất hoang mang. Nom thấy một con ễnh ương đang ôm lấy cột nhà, bọn chúng chộp lấy, chắc đây chính là tên tội đồ đang bị truy nã. Cố nhiên chuyện Cu Trắt biến thành con ễnh ương chỉ là chuyện tiếu lâm. Vậy Cu Trắt trốn đâu tài thế? Thì ra Cu Trắt đã thông minh nhảy vào cuộn tròn trong một cái thúng, bảo người nhà đậy lại rồi nín thở nằm im trong đó...

Ông tôi có những bảy người con, đặt tên toàn Hương, Lý, Cửu, Hội, Chánh... cốt để chửi cho sướng miệng. "Bớ thằng Chánh, mày ăn cứt hay sao mà ngu thế!", hoặc "Này thằng Lý, tao vô phúc đẻ ra mày bán trời không văn tự!"... Bọn chức sắc trong vùng hễ đi qua nhà ông liền lo lủi cho nhanh, bởi chậm chân là thế nào cũng được nghe chửi. Có anh vốn là đồng chí trước đây trong đội nghĩa binh, sau về làm trương tuần, hay hạch dân đen, bị ông lôi ra đồng đánh cho một trận, dạy cho bài học làm người, từ đó thôi luôn...

Chuyện nội tôi thì nhiều, nhưng câu chuyện sau đây mới thực là hay. Đó là cuộc tình giữa ông và bà vợ xinh đẹp mà lẳng tính. Do tài ba lỗi lạc, Cu Trắt vớ được cô vợ trẻ người làng bên, da trắng, tóc dài, hai hàm răng đều tăm tắp, đen như hạt huyền. Nàng tên Xuân, rất mê đàn ca hát xướng. Về làm vợ Cu Trắt nhưng nàng Xuân vẫn còn mắt đưa ngang khiến trai làng lắm anh phải lòng nhưng sợ Cu Trắt một phép, còn nàng Xuân cũng tưởng không cách chi thoát khỏi tài nghệ của bậc anh hùng. Thế nhưng cái kim trong túi vẫn cứ lòi ra. Một hôm, có một gánh hát từ tỉnh về làng diễn tích Lưu Bình- Dương Lễ. Trò diễn ba đêm thì nàng Xuân có mặt cả ba. Gã trai thủ vai Lưu Bình đã hớp mất hồn nàng khiến nàng cháy cả ruột gan, đến khi bọn họ nhổ rạp, cuốn màn, đóng hòm xiểng ra đi thì nàng tưởng muốn nhảy xuống giếng! Không rõ giữa hai người đã có quan hệ tới mức nào nhưng cứ vào đó thì thấy nặng tình lắm.

Gánh hát lưu diễn khắp vùng, họ dừng lại chỗ nào nàng Xuân đều biết cả. Thế là nàng quyết chí dứt tình với chồng để theo bằng được anh nọ. Tôi nghe chuyện này nhiều lần, mỗi người kể đều thêm bớt ít nhiều nhưng cốt lõi của nó thì không thay đổi. Tôi chọn ra đây những nét chính để thuật lại, và chắc chắn nếu hương hồn ông tôi có hiện về cũng không cho là vẽ rắn thêm chân.

Chuyện rằng, sáng hôm ấy, Cu Trắt theo việc đi đâu đó, khi đi nói với vợ là sớm nhất cũng phải tròn bóng mới về được. Chồng ra khỏi nhà, tức thì nàng Xuân bắt tay ngay vào thu vén cho chuyến đào tẩu. Nhà có một cái bao mây, loại bao to, hình hài giống cái va- ly bây giờ, đan bằng mây song rất đẹp và chắc chắn, có móc chốt và tay xách, có thể xách hoặc vác trên vai. Do có ý đồ trước nên nàng cho gọn vào bao mọi thứ rất nhanh, gồm áo quần loại tốt, đồ nữ trang và toàn bộ số tiền chồng vừa bán đàn trâu chuẩn bị làm nhà. Khối tiền đồng ấy nặng lắm, cả một bì to gồm nhiều cuộn xâu bằng dây lòi tói. Lèn chặt mọi thứ vào bao xong, nàng móc chốt khoá lại. Đúng lúc đó thì có đứa cháu từ ngoài sân gọi vào, nói rằng chú có dặn lại là thím nấu cơm trưa chú về ăn, thế nào chú cũng về, trưa mấy cùng về. Nàng Xuân đứng dậy vào bếp nhóm lửa, lấy gạo đem vo với ý nghĩa đây là chút tình gửi lại. Đợi cơm sôi cạn, nàng khép cửa rồi xách gói ra đi.

Thuở ấy làng tôi chỉ có hai lối thông ra được với hàng tổng, đó là con đường thuỷ qua bến đò Tràng và con đường rừng vượt qua Hung Khái đầy những câu chuyện rùng rợn về cọp bắt người và những toán cướp ngày dữ tợn. Chưa ai dám qua Hung Khái một mình, đi đôi đi ba có khi còn nguy. Nàng Xuân suy tính hết nước. Không thể đường đường tay xách nách mang xuống đò Tràng mà đi trước mặt bàn dân thiên hạ, bèn liều lĩnh mình vượt qua Hung Khái.

Tiếng gọi con tim đã giúp nàng vượt mọi gian nan, cái bao trên vai nặng nề nàng cũng coi thường, cứ vác mà đi, cả đi cả chạy qua những con đường gồ ghề sỏi đá, nắng tháng năm thiêu đốt mồ hôi chảy ra như tắm nhưng nào có biết. Vừa chạy nàng vừa đưa mắt ngó chừng tứ phía, cuối cùng Hung Khái đã hiện ra với tiếng chim nháo nhác hai bên, có lẽ chúng rất ngạc nhiên khi có người đàn bà lẻ loi cả gan bước vào xứ sở của thần sầu. Đường càng đi càng nhỏ dần, hoang vu, rậm rì, có chỗ phải rẽ rau sậy mà bước khiến da thịt tứa máu, bộ áo quần lụa trên người rách tung từng mảng. Có lúc nàng đã phải thốt lên thành lời than thân và gọi người tình một cách tuyệt vọng. Mệt quá, nàng gục xuống bên vệ cỏ, hai mắt không mở ra được nữa, nàng thiếp đi. Lúc sau tỉnh dậy, nàng lại bước tiếp. Bỗng từ mấy vách đá ven đường xuất hiện ba tên cướp mặt trùm khăn, tay cầm dao. Bọn chúng vây lấy nàng, quát lớn:

- Con mụ kia. Đứng yên không tao chém!

Nàng Xuân chưa kịp định thần thì chúng nó đã nhảy vào vít cổ xuống, rồi đứa bịt mồm, đứa giằng lấy cái bao khiến nàng lăn đùng ra đất. Bằng phản xạ tự nhiên, nàng cắn mạnh vào tay tên đang bịt mồm mình khiến hắn phải kêu ối lên rồi buông ra.

- Cướp! Cư...ớp! Làng nước ơi! Cứu tôi! Cứ...ứu!... Nàng Xuân la lên.

Bọn cướp bóp lấy cổ nàng, cười sằng sặc:

- Câm đi! Ai vô đây mà cứu! Không biết đây là giang sơn của chúng ông hay sao? Hơ hơ!... Con mụ này thịt thơm lắm!

Thằng đang giữ cái bao mây định mở, tức thì bị thằng đầu đảng quát:

- Tao giết mi liền! Hắn chỉ vào rừng. Vác vào hang. Biến!

Cả bọn sềnh sệch lôi nàng Xuân đi lúc này đã bị nhận giẻ đầy miệng, tóc tai sổ tung, mặt cắt không còn hột máu. Kéo nàng vào đằng sau tảng đá xa nhất, chúng giằn ngửa nàng ra, đứa giữ tay, đứa nắm tóc, lũ sói mặt người hả hê cười. Ba con quỷ chúi mũi vào định bắt đầu làm tình làm tội một người đàn bà khốn nạn, chúng không thể ngờ một sự kiện chưa từng xảy ra đã xảy ra đối với chúng. Đó là tự dưng cái bao mây cựa quậy, rồi bật ngay nắp, rồi từ trong đó một người đàn ông nhảy ra, tay múa dao, miệng hét vang:

- Bớ quân kẻ cướp! Tao chém đầu hết lũ chúng mày! Tao - Người đàn ông bé nhỏ chỉ tay vào ngực mình - Tề Thiên Đại Thánh Cu Trắt đây!

- Dạ... dạ... thưa anh... chúng em lỡ dại... mong anh tha cho!

- Tha này! Tha này! Cu Trắt túm cổ tên đầu đảng xách lên, xọc mũi dao nhọn hoắt vào yếu hầu, mắt gườm gườm. Tao giết mày như giết con chó, nghe chưa! Cởi khăn trùm ra coi. Còn hai thằng kia - Cu Trắt đưa mắt sang hai bên - Ngồi yên, lơ ngơ là mất đầu!

Tên đầu đảng trật khăn, phơi ra khuôn mặt nhem nhuốc, râu ria lởm chởm, cặp mắt đục ngầu.

- Tưởng ai - Cu Trắt lắc đầu - Té ra lại vẫn mấy thằng dân xóm trại năm đời quen nghề ăn cướp, đêm đào ngạch, khoét tường nhà thiên hạ.

Cu Trắt lại bắt hai tên kia trật khăn ra để nhận diện, làm thế cốt để chúng không còn dám báo thù. Cả ba tên lê lết dưới chân Cu Trắt, run như giẽ.

- Từ rày lo làm ăn, đói thì gặm cỏ mà sống, không được giết người cướp của nữa, nghe chưa! - Cu Trắt quát vào mặt chúng - Lần sau nếu còn gặp lại tụi bay, là tao chặt đầu ném cho hổ đói Hung Khái. Thôi, cút!

Toán cướp được thể bỏ chạy không dám ngoái lại. Cu Trắt ném mấy con dao của chúng vô bụi rồi vực vợ lên. Mắt nhằm nghiền, không nói một lời, nàng Xuân lả oặt trong tay người chồng bị nàng phụ tình. Có lẽ do quá sợ hãi, lại quá kinh ngạc trước sự xuất hiện đầy bất ngờ của chồng đã khiến nàng lịm đi. Xấu hổ, ân hận, đau đớn, biết ơn... đó là tất cả mớ lòng bong rối rắm trong tâm trí nàng lúc này.

Đợi lúc nàng mở mắt ra, Cu Trắt mới nói nhẹ nhàng:

- Tôi biết thế nào mình cũng sẽ gặp nguy khốn, nên đã tìm cách đi theo để giải cứu. Bây giờ thì tuỳ mình: Nếu muốn tiếp tục đi nữa, thì tôi sẽ đưa mình đến nơi cần đến, hoặc giã muốn quay về, thì ta cùng về. Tôi không ép.

Nàng Xuân gục vào vai chồng khóc to, nức nở như trẻ bị đòn oan, lúc lâu mới đưa tay chỉ về phía làng, mếu máo nói "Em xin lạy mình, cho em về cùng!"

Tâm phục khẩu phục, nàng te tái theo chồng về nhà, lúc này mới bình tâm nghĩ xem chồng nàng đã bằng cách nào lọt vào cái bao mây mà nàng không thể biết. Đây là chương có nhiều dị bản nhất trong những chuyện kể về nội tôi. Giai thoại kể rằng lúc nàng Xuân xách gói ra đi thì có một con ong bò vẽ bay theo, đó chính là Cu Trắt đã hoá thân vào. Con ong không rời nàng nửa bước, chờ lúc nàng mệt quá, thiếp đi bên đường, liền chui ngay vào bao hô khẽ một câu thần chú khiến mọi thứ trong đó biến mất (có người kể mọi thứ biến thành con dao), rồi trở lại là anh Cu Trắt cuộn tròn trong đó. Sự thật thì thế nào? Sự thật là từ lâu Cu Trắt đã biết rõ lòng dạ của vợ, biết có ngày nàng sẽ tìm theo anh kép hát, nên chàng giương lên một cái bẫy. Việc chàng nói đi đâu xa hôm đó, lại hẹn trưa trật mới về, rồi lúc nàng sắp lên đường thì có đứa cháu tới bảo nấu cơm cho chú là những sắp đặt của một anh cao mưu. Lúc đó Cu Trắt đi đâu? Chẳng đi đâu hết, mà trèo lên nằm ép bụng trên kèo mà theo dõi mọi chuyện, chờ lúc vợ vào bếp, bèn lẻn ngay xuống, mở khoá, cất hết áo xống, tiền nong vào tủ rồi gồng người chui vào bao, rồi bằng tài nghệ của mình, cũng có thể nhờ đứa cháu nấp đâu đó, bấm khoá lại như cũ!

Vợ chồng Cu Trắt lại thương nhau như xưa. Dân làng ai cũng ngợi khen Cu Trắt giàu lòng nhân ái, bởi một ả lộn chồng, cuỗm hết gia tài chạy trốn theo trai như thế mà chưa cho một nhát dao là may, lại còn đón về và không hề tiếng bấc tiếng chì. Cũng có ý kiến cho rằng vì nàng Xuân quá đẹp, Cu Trắt một bề chiều vợ, mặc nó lông loàn. Nghe thế, anh Cu Trắt chỉ cười ruồi, chợt nhớ một câu học mót được từ ngày Đề đốc Lê Trực thời tụ nghĩa Cần Vương, bèn nhẹ nhàng đáp:

- Làm người nên khoáng đạt, đem tấm lòng nhân ra mà xử thế là không mất gì, đem oán cừu ra mà xử thế là được một mất mười. Bậc đại trượng phu không vung gươm khi kẻ thù quỳ gối!

Thời gian trôi đi, Cu Trắt ăn ở với vợ vẫn như bát nước đầy, nhưng nàng Xuân thì vẫn không quên mối tình sét đánh với anh chàng nọ. Người nàng héo hon, gầy mòn, sắc diện tàn phai dần. Cu Trắt hiểu tất cả. Một hôm chàng nói với nàng:

- Tôi biết sự thể rồi sẽ đến nước này. Chúng ta vui vẻ chia tay thôi. Mình đi đi. Mong mình tìm được hạnh phúc!

Nàng Xuân khóc:

- Mình rộng lượng lắm, nhưng số trời không cho em chung sống với mình, mong mình thấu hiểu. Còn người kia với em chắc tiền kiếp có duyên nợ với nhau nên nay gỡ không ra. Vậy xin mình hãy chém em đi, hoặc cho em ra khỏi chốn này!

Cu Trắt chia nửa gia tài cho nàng, đưa nàng qua bên kia bến đò Tràng, lại gọi một chiếc xe ngựa cho nàng bước lên rồi mới quay lui. Nàng Xuân vốn mau nước mắt lại ôm gói khóc, xe khuất dần sau ngàn dâu xanh, bụi cuốn mù trời! Về sau nàng làm gì, ăn ở với ai làng tôi không ai biết.

Một thời gian sau ông tôi cưới người khác, đó là một thôn nữ hiền thục, đảm đang, và đó là người mẹ của đàn con bảy đứa trong đó có bố tôi. Bà mất năm Ất Dậu 1945, mộ táng cạnh mộ ông trên đồi sau làng.

H.T.S
(184/06-04)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHAN TUẤN ANHLớp Lý trong một chiều nhốn nháo. Vài đứa con gái ngồi sụt sùi cho nhân vật nữ trong phim trên ti vi chết sớm và nguyền rủa đạo diễn như một tay giết người. Những đứa con trai thì tiếc rẻ cho một vài pha bóng hụt tối qua, để lại hậu quả là mất hẳn một "tháng lương" mà nhẽ ra đã có thể lĩnh sáng nay tại... chủ quán.

  • NGUYỄN VIỆT HOÀLGT: Khi ánh sáng phản chiếu từ mặt trái đồng tiền ùa vào cánh cửa làng mở rộng, “sức nóng” của nó gần như thiêu rụi mọi nền tảng đạo đức một bộ phận không nhỏ đám thượng lưu gồm cả quan viên hương lý. Căn bệnh mà tác giả Nguyễn Việt Hoà mổ xẻ trong truyện ngắn dưới đây, dẫu chưa cao tay để diệt bằng hết những vi-rút-làng, song việc ngăn chặn một đại dịch bắt đầu là có thể...S.H

  • TRẦN HẠ THÁP1/ Người đàn ông đang huơ rìu. Liên tục những bi củi tươi bị xé phanh, toang toác. Gió lạnh một buổi tàn đông, sắp Tết nhưng trên khuôn ngực mồ hôi loang lổ như mưa. Xóm lò heo. Buổi sáng chưa mở mắt đã hỗn độn, mù trời hơi nước. Cái thế giới được khoanh vùng bằng tiếng kêu bi thiết các con vật thảm tử. Mùi phân chuồng phát tán, nghẹt thở. Tiếng người lê la trả giá, mặc cả. Tiếng cười rộ lên đắc ý trộn lẫn tiếng chửi thề tục tằn đe doạ. Đâu đó, mơ hồ giọng trẻ con khóc và tiếng ru hò ngái ngủ xa xôi…

  • NGUYỄN NGỌC LỢITôi diện bộ "téc gan" quân nhu, dắt súng vào người, dặn dò cậu lái xe rồi hoà vào dòng người đi ra sân bay. Được giao nhiệm vụ về nước sắm hàng, gặp một sự kiện quan trọng, tôi không muốn bỏ lỡ dịp được chứng kiến. Thị xã Lộc Ninh năm 1973 đã trở thành thủ đô của chính phủ cách mạng.

  • THÁI BÁ TÂN…Con chim hung dữ màu đen là trọng tâm của bức tranh, được ông giành hết tâm sức miêu tả rất sống động. Trong tranh, nó đang bám chân vào ngực Prômêtê, xoè hai cánh giữ thăng bằng, chiếc mỏ khoặm ngậm một miếng tim vừa moi từ lồng ngực khổng lồ của chàng…

  • NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾNMọi người đến Huế với những lí do khác nhau. Riêng các văn nghệ sĩ thì thường đến để tìm cảm hứng sáng tác. Tuy nhiên ý tưởng của mỗi người thì mỗi khác, chẳng ai giống ai. Họa sĩ Vĩnh Trung và nghệ sĩ Hải Lý là một trong những trường hợp như vậy.

  • XUÂN ĐÀIChuyện thằng Thanh con cô Ngoan ở làng Đông cuối tháng này tổ chức đám cưới với con Thuý con cô Lâm ở làng Nổi, dân xã Vĩnh Sơn ai cũng tỏ tường. Cái đận cô Lâm có chửa, điều tiếng khắp làng, người ta đoán già đoán non về cha của đứa bé. Đoán vụng đoán trộm, thì thầm nhỏ to sau lưng, chứ thấy bóng cô đi ngang qua là họ im bặt. Nó mà nghe được nó tế cho! Nó vén mồm, vén váy, réo tên cúng cơm ba đời nhà mình ra mà chửi.

  • PHẠM THỊ XUÂNChị Xoan trở mình nhè nhẹ, sợ làm đứa cháu giật mình thức giấc. Chị quay mặt  vào tường như cố tránh cái ánh sáng xanh dịu phát ra từ ngọn đèn ngủ. Chị nhắm kín mắt nhưng vẫn không sao ngủ được. Đầu óc chị rối bời bao ý nghĩ. Có một cái gì day dứt, một cái gì tiếc nuối, một cái gì hẫng hụt vừa đi vào cuộc đời chị. Chị bỗng thấy lòng mình trống trải đến vô vị...

  • PHẠM THỊ XUÂNLGT: Ấn tượng của một nữ tác giả mới lần đầu tiên gửi tác phẩm đến cho TCSH thật khá đậm đà. Ấy là Phạm Thị Xuân, một phụ nữ ở độ tuổi đã qua thời thanh xuân, đang công tác tại một đơn vị y tế huyện Quảng Điền.

  • QUÝ THỂCó ai đến nhà chơi, bà cụ Tuần chỉ mép tấm phản gỗ mời ngồi, bà nói:- Giang sơn của "bầy choa" (chúng tôi) chỉ có chừng ni. Không ghế bàn, xa lông, sập gụ tủ chè chi cả, chịu khó ngồi đỡ, ông bà mô áo quần trắng trẻo sạch sẽ sợ dơ, thì ngồi lên đây. Bà cụ xoè cái quạt giấy cũ đã rách, lộ ra mấy cái nan tre lót cho khách ngồi. Nhưng không ai nỡ ngồi lên cái quạt giấy của cụ.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO...Sáng hôm ấy bà con xóm đạo đi lễ rất đông. Người ta nhìn thấy một vệt sao băng vào lúc trời tảng sáng. Họ cho rằng Chúa thấu hiểu được nỗi đau đang dày xéo trên thân thể Xoan. Nhưng cũng chính vì thế mà bố cô lại quay về làm chính con người liêm khiết hồi xưa. Thiên đường cũng có những con đường riêng để người ta sám hối.

  • XUÂN ĐÀI 1. Mỗi lần từ quê trở về Sài Gòn, sống bên chồng và hai đứa con, tôi không nguôi nhớ đến chị. Năm nay chị đã ngoài bốn mươi, không chồng, không con, lủi thủi ra vào trong ngôi nhà một gian hai chái. Ngôi nhà vừa được xây dựng cách đây gần ba năm bằng số tiền chị tằn tiện, chắt bóp mười mấy năm và tiền vợ chồng tôi phụ giúp chút đỉnh. Vài ba năm, vợ chồng con cái chúng tôi mới về thăm chị một lần. Chị mừng, chị vui, trò chuyện với các cháu suốt ngày. Chị quấn quýt lũ trẻ, lũ trẻ cũng quấn quýt chị.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNGNgày trăng tròn lẻ. Tháng Trung Thu năm Đại Bảo thứ 3.Người hai lưỡi bảo là ngày Sao Thổ phạm vào Thái Âm.Người ngắn lưỡi nói Sao Chổi mọc ở phương Tây.Người dài lưỡi bảo có tinh vượn đen ăn mặt trời, ngày Nhật thực, nếu không yểm kỹ sông Nhị đang nảy vàng ròng sẽ ngừng.Động đất.

  • VIỆT HÙNGTrước đây, anh là người lừng danh, một tay "cua - rơ khét tiếng" trên xa lộ. Đã một thời anh chỉ biết chiến thắng. Người ta từng mệnh danh, anh là người sinh ra để đua xe đạp, anh không hề có đối thủ. Anh xem thường sự chiến thắng của mình, cho nó là điều hiển nhiên. Anh coi ánh hào quang của vòng nguyệt quế chỉ có tác dụng tô điểm thêm cho vẻ đẹp của mình mà thôi. Bởi, không có nó, anh vẫn là một thần tượng chẳng gì "khuất phục nổi".

  • NGUYỄN THÁNH NGÃĐêm nay trăng nhão, không biết là đêm trăng gì. Ở xa nhìn về đồi Kà Mạ vẫn một khối đen sì. Nếu có ai nhướn mắt nhìn thật kỹ sẽ thấy cái khối đen sì ấy nhô lên như một cái đầu người đôi mắt lấp láy đom đóm. Thỉnh thoảng gió hất cái đầu tóc rối bù xù bay về phía ruộng. Tiếng chim cú kêu mỗi lúc một thê lương, ớn lạnh từng đốt xương sống...

  • THÁI BÁ TÂNTháng trước, ở phường B. thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm, nơi tôi về nghỉ hưu mấy năm nay, đã xẩy ra một vụ trọng án có nhiều tình tiết rất kỳ lạ, có thể nói bí ẩn không sao giải thích nổi, đến mức cuối cùng người ta quay sang cho rằng nhất định phải có yếu tố thần linh ma quỷ trong vụ này.

  • PHẠM THỊ ANH NGA                  Truyện ngắn...trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể nào biết được...

  • PHAN VĂN LỢIBuổi giao lưu và trao giải thưởng cho các tác giả đoạt giải trong cuộc thi viết truyện ngắn do Hội Nhà văn tổ chức đã tiến hành được gần nửa giờ. Gã nhấp nhỏm trên chiếc ghế kê phía sau cánh gà sân khấu, bồn chồn không yên. Chừng thông cảm với tâm trạng của gã, cô gái phục vụ mặc áo dài đỏ bưng tới cho gã ly nước, nhẹ nhàng nói: "Chú cứ yên tâm ngồi nghỉ cho khoẻ. Giải A bao giờ cũng trao cuối cùng, chú ạ!"

  • KHẢI NGUYÊN Pa-ri, mùa hạ năm 198...Vườn Bách thảo giữa thành phố kề sông Xen phía tả ngạn. Ông đến đây như một kẻ lánh đời, sợ nơi đông người. Thật ra, phần lớn đường phố Pa-ri trong giờ làm việc không ồn, không thừa thãi người đi nhong như ở Việt Nam. Em ông ở quê ra Hà Nội chơi đứng ngắm dòng người và xe nườm nượp qua lại cứ tự hỏi: những con người này đi đâu, về đâu mà tuôn mãi như là chẳng ai về nhà cả, như là cái "nghiệp" trời đày phải đi.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNhiều năm trôi qua tôi đã trở thành người đàn ông đứng tuổi. Có một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Nhưng mỗi lần nghĩ về nàng, một người đàn bà chỉ kịp quen trên chuyến đò từ Huế ra Phong Điền, chia tay nàng để nhiều năm sau, tôi mới được gặp lại nàng trong một hoàn cảnh khác, tôi vẫn giữ nguyên một cảm giác hết sức lạ lùng. Một ý nghĩa luôn ám ảnh tôi khá kỳ quặc rằng: Tôi đã bị nàng hiểu lầm, là một chàng lính giải phóng “hám gái, dại khờ”... Bởi vì sau vụ việc ấy, chính tôi cũng rủa thầm mình là ngu ngốc.