Khúc ngoặt của dòng sông

09:37 28/10/2008
ĐỖ KIM CUÔNGNấn ná mãi tôi mới quyết định đi thăm Hiền. Quãng đường hơn trăm cây số, vượt qua đèo Cả không có gì đáng ngại. Chỉ hơn ba giờ đồng hồ ngồi xe đò và hơn một giờ nữa trên chếc xe ngựa của ông Sáu cụt chân là tôi đã có thể tới làng Vĩnh Hiệp Nam, về ghềnh Đá Đỏ. Nhà cô giáo Hiền ở đó.

Thắm - cô học trò tôi đã từng làm chủ nhiệm 3 năm ở khoa Văn cao đẳng sư phạm cũng sống ở đó với mẹ và đi dạy học. Trường trung học cơ sở nơi Thắm dạy học cách nhà 15 cây số... “nhưng chiều thứ bảy nào, dạy xong tiết cuối cùng, muộn mấy em cũng đạp xe về ghềnh Đá Đỏ, thầy ạ - trong một lá thư Thắm viết cho tôi như vậy - Chẳng phải em nhớ mẹ, mà em yêu những mỏm núi đá và con sóng, bờ cát nơi này. Thầy ơi, biển ở đây thật đẹp. Phía bờ đông hầu như quanh năm suốt tháng sóng đánh tơi tả vào ghềnh đá. Vậy mà chỉ cần vượt qua một yên ngựa nhỏ sang phía bờ tây, chui qua dưới tán rừng thông đã gặp bãi cát trắng mịn màng. Mặt nước êm sóng có thể nhìn thấy cả những mảng rêu xanh sâu vài chục sải... Thầy đã nghe thấy địa danh Vũng Rô bao giờ chưa?”.

Tôi không ám ảnh bởi chưa tới được Vũng Rô. Sự chậm trễ nấn ná để thu xếp về ghềnh Đỏ một chuyến xuất phát từ sự cẩn trọng. Tôi không muốn cho mẹ con Hiền phải vỡ mộng. Người thiếu phụ phải chật vật nuôi ba đứa con nhỏ bằng đồng lương giáo viên tiểu học ít ỏi đã quá khổ rồi. Một thời gian dài chị buồn phiền và bị gây khó dễ khi làm việc vì dư luận định kiến bởi có chồng đi lính ngụy? Cơ cực để có được từng cân gạo đong bằng sổ hàng tháng. Khổ vì những bản kiểm điểm theo từng học kỳ, từng năm để được Hội đồng giáo viên xác nhận đủ tiêu chuẩn dạy đám học trò lít nhít ở một làng chài nghèo thiếu chữ. Đã có năm, Hiền không được công nhận là giáo viên dạy giỏi vì có anh cán bộ xã phê bình một cô giáo ngày chủ nhận lại đi bán bánh canh cho con nít... Nhưng cái thời kỳ khốn khó đó, đồng lương giáo viên tiểu học không đủ nuôi sống bốn mẹ con Hiền lại thêm bà mẹ già luôn đau yếu. Hiền nhẫn nhục chịu đựng để thực hiện ý nguyện của người chồng quá cố. Bằng mọi giá Thắm chỉ cho tôi coi những vết sẹo trên cánh tay cô. Đó là kết quả của những ngày hè hai mẹ con Hiền đi vào bãi rác Mỹ ở căn cứ Đông Tác đào sắt vụn, dây thép gai, bán phế liệu. Đi lượm phế liệu cũng phải đi đào trộm. Du kích, bộ đội bắt được sẽ phạt tiền, thu đồ nghề. Tôi không ngờ một cô sinh viên khoa văn lại rành rẽ cả việc gỡ những trái mìn díp, mìn râu, dám cưa cả những trái pháo lép để lấy cát tút bán đồng nát. “Cực lắm thầy ơi!”. Câu nói của cô học trò nhỏ cứa vào lòng tôi. Để xác minh mối quan hệ giữa mẹ con Hiền với một người quá cố từ lâu, tôi cần có thời gian. Tôi không muốn vì sự thiếu cẩn trọng của mình mà làm cho trái tim của Hiền và các con cô nhói đau thêm một lần nữa. Họ đã quen với sự thiếu vắng hình ảnh người cha mười mấy năm nay. Nhưng mỗi lần lên lớp giảng văn, bất chợt nhìn ánh mắt của Thắm, cô học trò nhỏ ngồi ngay bàn thứ hai là tôi nghĩ ngay đến đôi mắt, giọng nói của người lính ngụy trong sư đoàn Thủy quân lục chiến ở chốt Cồn Nổi năm nào.

Nhiều năm đã trôi qua, trong cơn mê mụ, doi đất Cồn Nổi vẫn hiện về. Nhập nhòa trong ký ức hỗn độn của tôi là những rặng tre la ngà, những cây mít, cây bưởi bị bom pháo chém cụt ngọn, lá cành xơ xác bị phá nát từ dạo Mậu Thân. Vài ngôi nhà dân chỉ còn sót lại mảng tường cao chưa tới một mét nham nhở vết đạn... Doi cát ấy, nằm ngay trên bờ bắc của sông Bồ, đã làm cho dòng sông về đến đây gãy khúc, tạo ra bên lở bên bồi. Dăm bảy hộ dân ở làng Hiền Sĩ đã ra cồn dựng nhà lập vườn. Trong cuộc giao tranh “giành đất cắm cờ” mùa xuân 1973, khi bị các sư đoàn ngụy phản kích, bộ đội của Sư đoàn 324 giữ được một nửa cồn. Nửa còn lại do quân ngụy chốt giữ. Khi đại đội bộ binh của tôi tiếp nhận chốt, tình hình chiến sự ở đây đã yên. Phía quân ta và quân ngụy đang sống trong những ngày “hòa hợp”. Ranh giới phân biệt giữa ta và địch chỉ là một lạch nước nhỏ và một căn nhà lợp tranh, phên thưng bằng lồ ô, có bộ bàn ghế đóng bằng tre để hai bên tới ngồi nói chuyện, đấu lý đảm bảo cho các điều khoản 4 bên đã ký ở Paris được thực hiện. Căn nhà đặc biệt ấy được gọi là “nhà hòa hợp”. Cách căn nhà chưa tới 30 mét đã là chốt của chúng tôi và phía bên kia là lính bộ binh của sư đoàn Thủy quân lục chiến ngụy được đánh dấu bằng những lá cờ nửa xanh, nửa đỏ và cờ vàng có 3 sọc.

Chính ở trong ngôi nhà “hòa hợp” và những ngày giữ chốt Cồn Nổi, tôi quen Thực. Theo quy ước, cứ vào 8 giờ sáng thứ 3 và thứ 6 trong tuần, quân ta và quân ngụy cử ra một tổ tới nhà “hòa hợp” để trao đổi, trò chuyện. Những ngày đầu mới gặp nhau, bên nào cũng đưa lý lẽ để thuyết phục phía bên kia mình là chính nghĩa, anh kia xâm lược. Người bảo anh ăn lương Mỹ, cầm súng hại dân bán nước. Kẻ bảo anh dùng súng Nga Xô, Trung cộng tàn phá quê hương... Cãi vã một hồi mãi cũng nhàm chán. Họ mời nhau uống chè BLao, hút thuốc lào Vĩnh Bảo, ăn kẹo mè xửng Huế, kẹo nu ga Hà Nội... Rồi tỉ mẩn hỏi nhau tên tuổi, quê quán. Những họng súng AK, AR15 không còn chỉa vào nhau để dè chừng. Nhưng đêm đêm súng vẫn nổ. Ây là những phát đạn bắn chỉ thiên của một vài chốt ngụy phía bờ nam sông Bồ nghe tiếng chuột chạy rúc rích, hay đàn nhím ăn đọt măng tre tưởng trinh sát, đặc công mò vào. Lâu lâu, một trái mìn gài bị nổ bất chợt. Mìn ở vùng giáp ranh thì nhiều vô kể. Mìn ta gài, mìn địch gài, mìn du kích gài và cả những bẫy mìn dài hàng trăm mét để phòng thủ tuyến chốt trong những ngày tranh chấp. Đêm nào cũng nghe tiếng mìn nổ.

Nhiều năm sau, tôi đọc những cuốn sử, những bài báo tổng kết về chiến tranh cách mạng đã cố dò tìm những chi tiết, sự kiện về cái thời kỳ “hòa hợp” ấy, nhưng ít người nhắc đến. Mặc dù cái thời khắc hy hữu của một cuộc chiến tranh chỉ kéo dài chưa tới 4 tháng. Nhưng tôi không thể quên được Thực, một viên thượng sĩ ở tuyến chốt Cồn Nổi và những người lính ngụy có những cái tên rất Nam Bộ: Tư Thiêm, Út Lượt, Ba Đòn... Giấu sau cái vẻ ngoài của những bộ quần áo rằn ri, xanh xám, mũ sắt, ba lô cồng kềnh súng đạn là những gương mặt sạm đen vì mưa nắng và những mối lo toan sau những cặp mắt mệt mỏi, chán chường. Một lần nói chuyện, Tám Thực cho tôi hay anh là con thứ 7 trong nhà. Cha anh làm nghề dạy học ở Bình Định. Ông cụ mất đã lâu. Tám anh chị em trong nhà đều là thầy cô giáo dạy tiểu học và đệ nhị cấp. Thực học xong trường Sư phạm cộng đồng duyên hải Nha Trang, anh được bổ về dạy học ở Vĩnh Hiệp Nam ngay dưới chân đèo Cả. Anh lấy vợ ở đấy và đã có 3 con. Thực tưởng đã thoát đi lính, chẳng ngờ trong một cuộc dồn quân bắt lính... Những cuộc trò chuyện như vậy rất hạn chế, vì hai bên đều giữ ý. Nhưng hai cụm chốt ở gần nhau nên tôi vẫn thường nhìn thấy Thực và những người lính ngụy. Thỉnh thoảng chúng tôi lấy được gùi rau lang, chuối rừng trên rẫy, anh nuôi lại san sẻ cho những người lính ngụy ở chòi gác phía bên kia một ít. Họ chủ yếu là ăn gạo sấy với đồ hộp.

Tháng 10, miền Trung dầm dề trong những cơn mưa. Nhưng ít ai ngờ năm ấy lụt to đến vậy. Mưa có hai ngày đêm nước sông Bồ, sông Hương đã dâng cao nhấn chìm đồng bằng xứ Huế. Cả một dải đất dưới chân bình độ 28 kéo dài từ sông Ô Lâu đến tận sông Bồ trở thành biển nước mênh mông. Doi đất Cồn Nổi chỉ một đêm nước đã nhấn chìm sâu 2 mét. Nhờ có phòng bị trước, chúng tôi đã đóng sẵn những mảng bè lồ ô ở ngay khu vực chốt. Nửa đêm, nước lên đến đâu, bè lồ ô nổi lên tới đấy. Người và súng đạn, lương khô chất cả lên bè cột chặt vào thân mít, cây muỗm to hơn thân người. Chỉ nghe tiếng nước sông réo gào, cuộn chảy. Mưa đổ sầm sập xuống những tấm tăng luôn bị gió giật liên hồi. Vẳng lên trong đêm, tiếng súng bắn chỉ thiên gọi cấp cứu ở một chốt nào đó. Lẫn trong gió cả tiếng người la hét... Rồi lại chìm lấp trong tiếng mưa rơi xối xả.

Hửng sáng, tôi nhìn ra sông không biết đâu là bờ. Chiếc bè của chúng tôi nước dâng lên đã bám tới nửa thân cây muỗm. Làng Lai Bằng, làng Hiền Sĩ chìm trong nước. Rặng tre lồ ô chỉ còn trơ lại vạt lá xanh trên ngọn nổi vật vờ giữa dòng nước bạc. Phía nam Cồn Nổi, nơi đại đội lính ngụy chốt giữ không còn để lại dấu tích. Đứng từ đài quan sát trên ngọn cây muỗm, tôi nhìn không thấy bóng dáng một người lính ngụy. Họ đã chạy đi đâu trong đêm Thủy Tinh nổi giận? Dòng sông mênh mông cuộn chảy cuốn theo những cây rừng to bị đánh bạt gốc từ trên nguồn đổ về. Bầy quạ đậu đen đặc trên những cành cây trụi lá đứng rình rỉa xác một con nai chết trương bụng trôi theo dòng nước.

Sáu ngày sau nước mới rút. Đi trên lớp phù sa nhão nhoẹt chúng tôi sang khu vực chốt phía nam của quân ngụy. Trận lũ cuốn mất một phần đất phía đuôi Cồn Nổi. Hầm hào sụt lở cả. Một người lính ngụy nào đó đã kịp cột cái xoong vào chạc cây xoan chưa bị nước cuối đi. Trong một căn hầm sập, xác một người lính ngụy bị những bao cát đè chỉ chòi một bàn chân lên khỏi mặt bùn. Trong mớ rào gai bùng nhùng của bụi tre lồ ô tôi đã lượm được chiếc ba lô của một người lính ngụy khác. Ngoài mớ áo quần dính bùn đất còn có một gói gạo sấy, nước ngấm gạo đã chua. Và một tập thơ có tên “Rừng dậy men mùa” của Đông Trình. Lần giở qua, tôi biết ngay đấy là chiếc ba lô của Thượng sĩ Thực. Tập thơ ấy, Thực đã mua tại Đà Nẵng, với một dòng chữ viết bằng mực bút bi “Thân yêu tặng Hiền và các con của ba. Hẹn ngày về Gành Đỏ...”. Tôi nhìn quanh quất khu vườn tan tác sau trận lụt. Thực và những người lính dù chạy đi đâu trong đêm nước dâng?...

Cô giáo Hiền không ngăn được nước mắt khi cầm cuốn sách trên tay. Đã bao năm trôi qua, tập thơ được tôi bọc kỹ trong lớp giấy ni-lông “Đúng là nét chữ của chồng em rồi... Ảnh hay đọc sách. Đi đâu có cuốn nào hay là mua và gửi cho mẹ con em cùng đọc”. Hiền đặt cuốn sách lên bàn thờ và thắp nhang. Trong khoảng không gian mờ tỏ, tôi nhận ra tấm ảnh Thực. Ảnh trẻ. Còn rất trẻ. Trên một mảng tường còn thấy treo cả tấm ảnh chụp hai vợ chồng ngày cưới cùng với những tấm bằng khen của Hiền, của Thắm qua từng năm học.

Hiền quay ra bàn nước, nét mặt chị đã tỉnh táo trở lại. “Con Thắm nhắn: Mẹ cố giữ thầy ở lại chơi. Chiều nay tan giờ họp rút kinh nghiệm con sẽ về”. Mới ngoài tuổi 40, nhưng trông Hiền không còn trẻ. Chị phải lo toan vất vả nhiều vì con cái, công việc.
Nắng đã tàn sau dãy Đại Sơn, chỉ còn một chỏm vàng treo trên mỏm Đá Bia. Mỏm đá đen lớn, ngạo nghễ nổi lên giữa đám núi lô xô hiểm trở của vùng đèo Cả. Cách nhà Hiền không xa là ngôi trường tiểu học. Trường đã được xây mới, hai tầng với 10 phòng học khang trang. Hiền đã chỉ cho tôi coi dãy phòng học, nhà trệt còn sót lại sau ngày giải phóng nay đã được tu bổ, thay mái tôn bằng ngói. Những căn phòng học cũ kỹ ấy là nơi Thực đã từng dạy học. Hiền còn khoe: “Anh phó chủ tịch huyện bây giờ từng là học trò của nhà em. Lâu lâu ảnh xuống xã công tác đều ghé thắp hương cho thầy...”.

Tôi lững thững đi ra biển. Con đường mòn chạy dọc theo một bên triền núi một bên là những đìa tôm. Không gian yên tĩnh. Mặt biển xanh lục, từng đợt sóng ào ào đạp vào ghềnh đá. Liệu ở một nơi nào đó, Thực có nghe thấy tiếng lũ trẻ đang ê a đọc bài văng vẳng trong gió và tiếng chim bìm bịp giấu mình trong bãi đầm lầy khua động cả buổi chiều?
                                     Đ.K.C

(nguồn: TCSH số 218 - 04 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.

  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.