(SH) - Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, nghề làm báo nhiều khi ăn nhau ở ý tưởng. Một sự kiện đã được hàng chục báo đưa đến nhàm, nhưng người viết sau vẫn có chỗ đứng nếu như có ý tưởng mới.
Tuy nhiên, đấy không phải là phương thức "tác nghiệp" của tất cả các báo nếu không nói là phần nhiều các báo. Ở những tờ báo sống bằng thông tin thật, thông tin mới và sự tin cậy của bạn đọc, tư liệu mới, chính xác bao giờ cũng giữ vị trí hàng đầu. Sự kiện càng quan trọng, tư liệu và nguồn tư liệu càng phải chuẩn xác. Một tư liệu được người đọc tin cậy khi nó có thể kiểm chứng được. Thường thì nguồn tư liệu này từ một người cụ thể, có trách nhiệm phát ngôn, tốt nhất là trong một bối cảnh chính thức. Đó là một nhu cầu khách quan trong hoạt động báo chí hiện đại. Bởi thế, chức danh Người phát ngôn ra đời.
Ở nước ta cũng như ở nhiều nước, từ lâu đã có chức danh "Người phát ngôn Bộ Ngoại giao" được ủy quyền đưa ra một thông tin, một quan điểm nào đó của Bộ Ngoại giao. Mặc dù chỉ là lời nói của một cán bộ cấp vụ trưởng, có khi chỉ ở cấp vụ phó nhưng vì đó là thái độ chính thức của bộ nên tiếng nói của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao rất được báo chí coi trọng, coi đó là thông tin chính thức của Nhà nước ở mức thấp, có thể sử dụng với độ tin cậy cao. Rút kinh nghiệm từ hoạt động của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao, hơn chục năm trước, Chính phủ đã có quy định các bộ, ngành, địa phương tóm lại là ở mỗi cơ quan Nhà nước đều có một người phát ngôn với chức năng cung cấp thông tin chính thức cho báo chí. Gần đây, quy định đó còn được nhắc lại trong một văn bản khác của Chính phủ. Theo tinh thần này, để tránh những thông tin dò đoán sai lạc và tạo thuận lợi cho hoạt động của các nhà báo, khi có một vấn đề hoặc sự kiện nào đó, người phát ngôn của cơ quan, đơn vị hay địa phương liên quan sẽ chủ động gặp gỡ, cung cấp thông tin chính thức cho báo chí sử dụng.
Nhưng không phải cơ chế phát ngôn này đã được triển khai đều khắp, có chất lượng, hiệu quả. Trước hết, cần thừa nhận, thực hiện cơ chế người phát ngôn, nhiều ngành, địa phương, đặc biệt là các đơn vị lớn đã thường xuyên tổ chức họp báo (gồm cả họp báo trực tuyến), thành lập cổng thông tin điện tử và nhiều hình thức thông tin khác tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí, giảm đáng kể những thông tin sai lạc do không tiếp cận được nguồn tin chính thức. Rất nhiều sự kiện, nhờ có cơ chế người phát ngôn nên thông tin đến với người đọc chính xác, kịp thời hơn. Tuy nhiên, không phải là tất cả nếu không nói rằng, không nhiều cơ quan, đơn vị thực hiện tốt cơ chế người phát ngôn Nhiều nơi không thực hiện nghiêm chỉnh cơ chế này, để xảy ra nhiều sự cố đáng tiếc trong lĩnh vực thông tin, dư luận. Có thể nói rằng đến 40% bài báo không chính xác, thậm chí viết sai sự thật là do nguyên nhân này.
Có một thực tế là trước nhiều sự kiện "nóng" như sữa bột, thực phẩm nhiễm độc, giá thuốc bệnh ngày càng cao, tai nạn giao thông nghiêm trọng, cách xử lý không phù hợp trước một vụ tranh chấp… sau khi báo chí lên tiếng rất lâu, cơ quan quản lý liên quan vẫn im lặng. Sự im lặng đó nhiều khi kéo dài, và trong cuộc sống hiện đại vốn rất nhiều sự kiện chồng chất, chúng dần rơi vào quên lãng. Những cụm từ như "Sự việc đang được làm rõ", "Khi nào có kết luận chính thức, chúng tôi sẽ thông báo" quen thuộc khiến cho đến lúc này, người ta vẫn không biết có hay không, đã xử lý đến đâu những sự việc như hành phi bằng dầu bẩn, thịt thối thành nguyên liệu chế biến giò chả, đường dây ăn cắp xăng, đường dây đẻ thuê, sự cố vỡ các đập thủy điện nhỏ… mà báo chí từng nêu. Có thể có những sự việc phức tạp, cần nhiều thời gian để làm sáng tỏ nhưng không thể chỉ ra sự tắc trách, thái độ trốn tránh, đổ lỗi lẫn nhau của không ít cơ quan, đơn vị. Cũng như thế và thêm vào đó là trình độ non kém, sợ trách nhiệm, lười biếng hoặc không được tiếp cận kịp thời thông tin, thái độ coi thường dư luận của một số người có trách nhiệm phát ngôn.Trong một môi trường báo chí hiện đại, cơ chế người phát ngôn là rất cần thiết. Thực hiện tốt cơ chế này không chỉ là điều kiện để các cơ quan báo chí thực hiện đúng chức năng của mình, mà nó còn có lợi cho hoạt động của các đơn vị, doanh nghiệp như được cảnh báo, định hướng kịp thời cũng được hưởng lợi, bạn đọc được cung cấp thông tin minh bạch, chính xác, có định hướng và như vậy là báo chí đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển đất nước và rõ ràng, việc thực hiện nghiêm túc cơ chế người phát ngôn không chỉ với các nhà báo.
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.