Hương Bát Nhã

15:30 13/04/2009
THU NGUYỆTTrắng và trắng. Muột thơm và tinh khiết. Mặt đất dường như đỏ và mịn hơn khi được trải mình ra đón nhận sự nương tựa dịu dàng của những cánh hoa sứ ấy. Tôi khẽ khàng nhặt một bông sứ nhỏ, không đưa lên mũi ngửi như thói thường mà trang trọng áp vào tai. Trong làn hương tràn ngập, tôi nghe vẳng tiếng chuông ngân đẫm mát. Ai đó ơi, hãy một lần thử xem, nhặt một bông sứ nhỏ sân chùa, nhè nhẹ áp vào tai, sẽ nghe thấy những âm thanh và làn hương kỳ diệu! Cái cảm giác lạ lùng mà tôi đoán chắc rằng ai đó sẽ bất ngờ thấy mình khác hẳn đi.

Ngôi chùa vùng đất đỏ nằm ẩn trong ngút ngàn hoa sứ trắng. Chùa Sứ - cái tên đã giải thích rõ ràng, vậy mà tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng và bần thần trước một vùng trắng thơm bạt nắng...
Chú điệu nhỏ dẫn tôi vào phòng khách, chỏm tóc gọn gàng vắt qua vành tai đen đến nao lòng. Chú thoắt ra, thoắt vào với mâm cơm chay nhỏ gọn trên tay, lời mời cũng như vậy:
- Dạ, cô dùng cơm.
Tôi ngập ngừng hỏi:
- Này, chú ơi! bông sứ có ăn được không? - tôi xòe cho chú thấy một nắm bông sứ mà tôi vừa cẩn thận nhặt lên ngoài sân.
Chú không nhìn tôi, nụ cười hiền bẩm sinh. Tôi sợ chú tưởng mình hỏi đùa, liền nói thêm:
- Thiệt mà! Người ta vẫn ăn được bông điên điển, bông so đũa, bông huệ đó thôi?
Chú quay lại nhìn tôi, bất ngờ hỏi:
- Cô có thích hoa sứ không?
Tôi nhiệt tình:
- Ồ, thích lắm! Nhất là hoa sứ ở đây. Có hương, có sắc mà còn có cả thanh nữa đó, chú có thấy vậy không?
Ánh nhìn thân thiện đồng cảm làm tôi nghe người thật nhẹ. Tôi cười, chú cũng cười, một cánh hoa sứ nhẹ nhàng rơi ngoài cửa sổ, cũng ngoái vào gởi một nụ cười thơm ngát trong veo.

Dãy nhà khách nằm ngoài khuôn viên chùa, cách một bức tường cao, nhưng làn hương của những bông sứ thì không có gì ngăn cách. Gió hào phóng ban cho cả một vùng ngát dịu hương thơm. Một đêm thức trắng. Tôi nằm lắng nghe cách những bông sứ rụng, tôi vẫn nghĩ rằng mỗi bông hoa có một cách rơi rụng khác nhau. Trong tiếng chuông mõ công phu, tôi vẫn nghe rải rác đó đây những âm thanh rời cành thanh thản. Chợt nhớ và đồng cảm vô cùng bốn câu thơ trong bài "Thính vũ" (Nghe mưa) của Nguyễn Trãi:
"Cách trúc xao song mật
Hòa chung nhập mộng thanh
Ngâm dư hồn bất mỵ
Đoạn tục đáo thiên minh"...
(Qua bụi trúc tiếng mưa rơi khua
  vào cửa sổ đóng kín
Hòa với tiếng chuông đi vào
   giấc mơ nhẹ nhàng
Đã ngâm thơ rồi vẫn không
                  ngủ được
Nghe đứt nối cho đến khi trời sáng)

Thật diệu kỳ! Mới hay rằng sự đồng điệu của tâm hồn con người vượt qua tất cả, qua không gian, thời đại, con người và mọi qui luật của thế gian.
Tôi nằm mong đến sáng để được ra ngắm cảnh bình minh với những cánh hoa sứ rơi đầy trên mặt đất, hít thở không khí ban mai với mùi hoa sứ hòa cùng mùi khói hương phảng phất của cảnh chùa. Tôi mơ màng nằm lo, sợ phải bất ngờ nghe một tiếng chổi quét sân của một chú tiểu nào đó. Đừng! Xin đừng quét đi những cánh hoa, dẫu hoa khi rời cành thì đã là phận rác!

Ba cây kim đồng hồ chia vòng tròn thời gian ra làm hai nửa: sáu giờ đúng. Tôi choàng dậy, đi ra ngoài. Ơ kìa! Tôi không còn tin ở mắt mình. Mặt đất sạch trơn không còn bóng dáng một cánh hoa sứ nào cả. Tôi đã nghĩ rằng thêm một đêm, mặt đất sẽ trắng đầy những hoa sứ rụng, chiều hôm qua tôi đã thấy rất nhiều hoa sứ rụng rồi mà. Không nghe tiếng chổi khua, chẳng ai quét cả, thế thì sao hoa lại biến đi đâu? Tôi đứng tần ngần ngước nhìn những chùm hoa còn lại trên cành, rồi ngồi phịch xuống đất, những câu hỏi cứ bay lả tả trong đầu...
- Sao cô lại ngồi ở đây?
Tôi giật mình quay lại, chỏm tóc đen vắt qua vành tai cũng mang hình dấu hỏi. Tôi nói như mộng du:
- Những cái bông sứ rụng... đâu mất hết cả rồi?!
Vẫn nụ cười hiền bẩm sinh:
- Con lượm hết rồi!
Tôi đứng bật dậy, mừng rỡ, ngạc nhiên:
- Ơ! Chú lượm ư? Thật là tuyệt!
Tôi thầm nghĩ: chắc là chú cũng thương những cánh hoa ấy, sợ bị người ta quét đi thì tội. Ôi ở đâu rơi xuống cho tôi gặp được một tâm hồn tri kỷ tuyệt vời đến như vậy!
- Chú ơi, rồi chú để những cái hoa ấy ở đâu?
- Trên chánh điện.
- Chánh điện? - tôi bật hỏi - để làm gì?
- Cho nó nghe kinh
-...?

Một cảm giác khó tả tràn khắp người, tôi lại ngồi xuống như mộng du. Chú điệu nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh, tay vu vơ vẽ những vòng tròn trên mặt đất, rồi chú thầm thì:
- Cô biết không, con cho những cánh hoa ấy nghe Pháp một ngày, rồi sau đó đem đi phơi nắng, phơi cho đến khô rang, con gói vào bao và cất đi. Cô có muốn đi xem chỗ con phơi những cánh hoa ấy không?
- Ồ, muốn lắm!
- Nào thì đi.

Chú dắt tôi len lỏi qua mấy lùm cây rậm rạp. Một lối mòn nhỏ làm bằng dấu chân của chú và chắc cũng chỉ có bước chân chú hằng ngày đi qua đây. Một vùng đất trống với vài tảng đá, trên ấy đầy ắp những bông hoa sứ đang phơi. Tôi đứng tần ngần nghe những tiếng chim hót hồn nhiên quanh mình. Âm thanh trong veo hòa vào làn hương hoa ẩn hiện... Thấp thoáng đây đó bên các lùm cây là những cành hoa dại, dường như cũng đang he hé mắt buồn nhìn những xác hoa khô...
Tôi đứng yên và chú cũng đứng yên. Chú không nói và tôi cũng không nói. Hình như sự im lặng đã nói lên tất cả, nói nhiều hơn và đúng nghĩa hơn bất cứ ngôn từ nào. Chắc chúng tôi đã đứng đó rất lâu, lâu đến nỗi khi bước chân quay trở lại chùa, tôi có cảm giác như mình đang đi trên hai bàn chân khác lạ.

Chú dẫn tôi vào chánh điện, lẳng lặng mở cho tôi xem cái "kho tàng" hoa sứ khô của chú cất dưới bệ thờ. Đến lúc này thì tôi không im được nữa:
- Rồi chú định sẽ làm gì với những "bảo vật" kia?
Đôi mắt trong veo nhưng thật xa xôi, lạ lùng:
- Sau này lớn lên, con sẽ tìm cách làm nhang bằng những bột hoa sứ khô ấy để dâng hương cúng Phật.
- Liệu có được không? - Tôi băn khoăn - hoa sứ khi còn tươi thì có hương thơm đấy, nhưng để khô lâu ngày rồi thì đâu có còn hương?!

Chú không trả lời tôi, lặng lẽ cẩn thận cất đi những bao hoa sứ vào dưới bệ thờ, rồi thong thả vuốt lại dấu hỏi đen nhánh trên đầu, đưa tôi ra trước ngôi Tam Bảo thắp hương quì lạy Phật. Chú nhẹ nhàng cung kính đánh ba tiếng chuông. Trong tiếng chuông ngân thanh thoát, tôi như nghe văng vẳng lời kinh: "Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc"...
Tôi bần thần đứng chôn chân nơi bệ Phật. Câu kinh Bát Nhã đã ngàn lần âm vọng trong tôi, nhưng chưa bao giờ thấm sâu và sáng lòa đến như vậy.
T.N

(200/10-05)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRỌNG HUẤNBạn tôi là nhà thơ. Thơ anh hay, rất nổi tiếng, nhiều người ái mộ.Năm 1975, anh cùng đoàn quân chiến thắng tiến vào giải phóng Sài Gòn, trụ lại thành phố làm đại diện một tờ báo, chốt trực cơ quan. Ở rừng lâu, nằm lán, ngủ võng cũng quen, nay về phố thị, căn hộ hai ba phòng, tự nhiên thấy trống trải, trằn trọc. Hoà bình rồi, cần ổn định cuộc sống, việc đầu tiên là đón mẹ con nó vào.

  • ĐỖ KIM CUÔNGNấn ná mãi tôi mới quyết định đi thăm Hiền. Quãng đường hơn trăm cây số, vượt qua đèo Cả không có gì đáng ngại. Chỉ hơn ba giờ đồng hồ ngồi xe đò và hơn một giờ nữa trên chếc xe ngựa của ông Sáu cụt chân là tôi đã có thể tới làng Vĩnh Hiệp Nam, về ghềnh Đá Đỏ. Nhà cô giáo Hiền ở đó.

  • LÊ MAICơn mưa chiều sầm sập kéo tới, mưa đổ bì bộp xuống mái nhà; hạt mưa nặng đến nỗi Hoàng tưởng như những tấm tôn phải oằn rướn lên chống đỡ; nước từ các máng xối tuôn ra ào ạt kéo theo hàng đụn lá khô, cỏ rác tràn đầy cống ngoài đường. Mới có năm giờ chiều mà như tám giờ tối.

  • HƯỚNG DƯƠNGTruyện ngắnMùa đông năm ấy tôi phải đi công tác tại một thành phố nhỏ ven biển. Khách sạn tôi trú chân nằm trên một ngọn đồi, nó không sang trọng, bề thế như nhiều khách sạn khác. Nhưng bù lại, nó hướng mặt về phía đại dương. Địa điểm này thật sự lý tưởng cho khách du lịch vào mùa hè, còn mùa đông thì chỉ có những người đặc biệt hay những công việc đặc biệt người ta mới tìm đến đây nghỉ lại. Một người bạn thân đã cho tôi địa chỉ của nó. Tôi khá hài lòng nếu như bạn hàng của tôi không bắt tôi chờ bão tan rồi mới đáp máy bay đến ký hợp đồng.

  • TRẦN HẠ THÁP(thân tặng Ng.X.Hoàng)

  • TRẦN HẠ THÁP    (tiếp theo)

  • VÕ THỊ ÁNH HỒNGTôi vừa chạy vừa gọi chị trong tiếng sóng rì rào và tiếng lao xao của dãy phi lao. Như không nghe thấy tiếng tôi, chị vẫn thẫn thờ nhìn về xa xăm, chờ đợi...

  • PHẠM NGỌC TÚYĐó là một cặp vợ chồng trông rất đẹp đôi và hạnh phúc. Chàng cao lớn, mặt vuông. Nàng mảnh khảnh, xinh xắn. Khi lấy nhau, họ ở nhà tập thể của cơ quan. Sau khi cơ quan dời đi chỗ khác, người được phân đất, kẻ được chia nhà, lần lượt dọn đi. Chỉ trừ chàng. Chàng vì cô mà ở lại.

  • PHẠM XUÂN PHỤNGXưa có một người nông dân chất phác cần cù, nhà ở gần bìa rừng, làm lụng đầu tắt mặt tối bao năm mới dựng được ngôi nhà tranh ba gian hai chái. Trước nhà có cái sân rộng dùng để phơi lạc, loại nông sản chuyên canh của dân trong vùng. Hai vợ chồng có mỗi mụn con trai nên thường chăm bẵm, những mong sau này có được dâu hiền, phúc nhà đến độ, may chăng cháu chắt đầy nhà là mãn nguyện.

  • NGUYỄN NGỌC LỢICây mai dáng trực đặt nơi khoảng sân lát gạch đỏ của toà nhà ấy đã làm xôn xao cả phố. Gốc cây mai to gộc, u bạnh của nó bám đầy địa y mốc xanh mốc trắng.

  • TRẦN THÙY MAIThấp thoáng trong văn Trần Thùy Mai là sự phô phang hình hài của linh tự. Những linh tự tủi buồn bởi hết thảy chúng đều được hoài thai từ “độ chênh” của những mối tình khó lần ra hồi kết. Điều đó khiến mỗi truyện ngắn của Mai như là một miếng hồng trần nhỏ nhắn - chị lặng lẽ vấy vá bằng sợi tầm ma trước mỗi rạng đông...

  • QUẾ HƯƠNGTôi băng qua đường để lên cầu Trường Tiền. Thằng Tí kéo tay tôi lại: “Cậu qua đường mần chi, xe cán chừ!”. Tôi cứ qua. Đám trẻ con đang chơi ở công viên trước mặt ném đá vào tôi. Tôi chạy lên cầu. Đám trẻ réo: “Ông điên! Ông điên!”. Tí chạy theo, vừa thở, vừa nắm tay tôi: “Ai bảo cậu qua bên ni, dắt cậu thiệt mệt!”.

  • NGUYỄN NGUYÊN PHƯỚC Vào một buổi tối mùa thu, Đinh Hoài Viễn, một nhà văn trẻ tuổi, một người hoàn toàn vô danh trong văn giới, trong khi bóc phong thư mới nhận được vào buổi sáng ngày hôm đó, đã phát hiện ra ở mặt sau cái phong bì rỗng ấy một văn bản kỳ lạ trong hình thức của một truyện ngắn không đề tên tác giả.

  • ĐỖ KIM CUÔNGQuán cà phê cây sứ của vợ chồng Tư Hiền nằm ngay mặt tiền con đường nhỏ dẫn ra biển. Quán không trang hoàng đèn xanh đèn đỏ, không quầy két, không người chạy bàn, chỉ dăm ba bộ bàn ghế nhựa rẻ tiền.

  • HƯƠNG LANNàng sống trong một ngôi nhà xưa, được xây cất từ đời ông cố của nàng, tính ngót nghét nó cũng hơn trăm tuổi. Ngôi nhà nằm giữa một khu vườn mênh mông.

  • LƯƠNG VĂN CHILGT: Nhà tù, nơi chưa mảy may cải hóa được người đàn ông từng trác táng trên nền đạo đức xã hội, nhưng... Truyện được thắt nút khi Thuần “lột trần” vẻ đẹp phồn sinh xuân thì để minh chứng cho những ham muốn nguyên khai của con người là có giới hạn. Không khiên cưỡng ở nhiều chi tiết nhạy cảm, không tục trần trên từng đường cong mỹ diệu... Kịch độc đã thật sự “tiêm” những rung cảm lạ lùng vào miền hoang mê của lương tri đồng loại.

  • GIAO CHỈ    Bão tố thường nổi dậy từ biển khơi hùng vĩ và kể cả. Những hút gió sấn sổ táp xuống mặt đất bao la quăng dội, tàn sát điên cuồng cho hả những cơn giận dồn góp lâu dài.

  • NGUYỄN ĐẶNG MỪNG Những người thắt đáy lưng ongVừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con                                                     (Tục ngữ)

  • TRẦN THÙY MAIỞ tuổi bốn mươi da mặt nàng vẫn trắng hồng, chưa thoáng một nếp nhăn. Ai nhìn kỹ lắm mới thấy những vết hằn bắt đầu hiện ra quanh cổ, thường được che rất khéo bởi những chuỗi hạt trang nhã. Mà đâu ai nhìn kỹ làm gì. Đứng trước một người đàn bà, dại gì không dán mắt vào vẻ đẹp mà lại đi săm soi tìm khuyết điểm.