Vậy nhưng, mô hình mà Thừa Thiên Huế đang hướng đến là mô hình đô thị sinh thái, có nghĩa là Huế vẫn phải giữ vai trò đầu tàu, là hạt nhân chủ đạo thúc đẩy toàn tỉnh theo hướng phát triển này. Đô thị sinh thái một xu hướng tất yếu Trải qua thực tiễn phát triển, có thể thấy mô hình đô thị đơn tâm trên thế giới đã trở nên lạc hậu, bộc lộ quá nhiều bất cập: ở đó thu nhập của đại đa số dân cư tăng theo thời gian nhưng chất lượng cuộc sống lại không tăng tương ứng, tình trạng bất bình đẳng cũng sẽ diễn ra bởi thường thì sự khá giả chỉ xuất hiện ở khu vực trung tâm, còn vùng ven thì lại là hình ảnh khá tương phản với bộ mặt nhếch nhác, nghèo nàn, ô nhiễm… là biểu hiện của sự kém phát triển. Ở đô thị đơn tâm, mọi thứ đều bị dồn nén trong một không gian được giới hạn và với sức ép từ bên trong theo thời gian ngày càng lớn khiến cho đô thị tất yếu trở nên chật chội, quá tải. Chính vào lúc thế giới đối mặt với nguy cơ từ biến đổi khí hậu và quá nhiều hệ lụy từ đô thị nén, một mô hình mới văn minh đã bắt đầu nhận được sự quan tâm và trở thành xu thế của nhân loại, đó là mô hình đô thị đa tâm. Đây là một mô hình mà các gánh nặng được chia sẻ, không gian đô thị có thể được giãn nở đến hàng nghìn km2, các ranh giới đô thị không bị đóng khung gò bó hay phân biệt rạch ròi giữa vùng nội và ngoại thị. Lúc đó các yếu tố thiên nhiên xuất hiện và giữ vai trò như là những gạch nối giữa các đô thị. Núi đồi, sông suối, đầm phá, ruộng đồng… sẽ là nơi giải phóng năng lượng cho các khối công trình với bê tông, sắt thép ở vùng lõi của các đô thị và giúp cho chúng đạt được sự cân bằng. Mục tiêu xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành đô thị sinh thái có thể nói là xu thế tất yếu của phát triển. Chúng ta có những khó khăn của người đi tiên phong khi mà ở Việt Nam chưa có một mô hình nào tương tự trước đây, nhưng bên cạnh đó, thuận lợi cũng không ít bởi đã hội đủ nhiều yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để thực hiện mục tiêu này, đó là thiên nhiên ưu đãi chúng ta về sự đa dạng và phong phú. Ở một mức độ nào đó, sự phân chia các vùng đô thị hiện có dù được hình thành một cách tự nhiên nhưng lại định hình sẵn một chuỗi các đô thị có chức năng riêng, phân bố hợp lý… Đó chính là thành phố Huế ở vị trí Trung tâm với vai trò đô thị động lực nhưng không chú trọng quá về công nghiệp; là Bình Điền - Tứ Hạ - Hương Thủy - Thuận An, các đô thị vệ tinh với các thế mạnh riêng và đáng nói là Chân Mây - Lăng Cô ở đầu mối giao thương, hoàn toàn có thể là đô thị mang tính chất đối trọng với nhiều tiềm năng, trong đó có thể kể đến vận tải biển, công nghiệp và dịch vụ công nghiệp. Ngoài ra, chúng ta cũng có lợi thế khi mục tiêu phát triển có sự hậu thuẫn từ TW đến địa phương và nhất là được xác định ngay từ ban đầu chứ không phải cố gắng để thay đổi, điều chỉnh từ hiện trạng đô thị đơn tâm như một số thành phố lớn ở nước ta hiện nay. Cần gì cho Thành phố sinh thái Huế Với tính chất là một cố đô văn hóa, Huế bản thân chưa bao giờ là một thành phố công nghiệp, nói cách khác chưa bao giờ được định hướng theo kiểu đô thị đơn tâm hay là một siêu đô thị. Lợi thế mà Huế đang sở hữu là có sẵn nhiều nhân tố của một đô thị sinh thái thu nhỏ. Những yếu tố cảnh quan thiên nhiên sẵn có hay từ bàn tay sáng tạo của con người như sông núi, ao hồ, cây cối… đã có tác dụng hạn chế những tác động tiêu cực của lối sống công nghiệp, nảy sinh từ quá trình đô thị hóa. Ở đây cũng đã và đang hiện hữu nhiều vùng đệm, con sông Hương chính là vùng đệm đặc thù để tạo nên sự khác biệt rõ nét giữa khu vực Bắc và Nam, hay như khu vực phía Tây Nam với yếu tố địa hình, nhiều rừng cây, núi đồi đã tạo nên sự phân cách giữa hai thế giới mà trước đây ông ta gọi là “âm phần” và “dương phần”. Và nay là một khái niệm mới phân biệt giữa không gian “tĩnh” để thư giãn, nuôi dưỡng tinh thần và không gian “động” với nhiều hoạt động dịch vụ, kinh doanh, thương mại. Ngoài ra, chúng ta còn có những một số không gian phụ cận rất lý tưởng như khu vực Đông Nam chẳng hạn. Với vị trí gần biển và các trục giao thông chính, hoàn toàn có thể xây dựng trở thành một cụm đô thị mới cực kỳ hiện đại, thể hiện được xu thế phát triển mở mang tính thời đại. Vậy nhưng đó chỉ là những tiền đề cơ bản trên con đường xây dựng thành phố sinh thái. Bởi tiêu chí của thành phố sinh thái không đơn giản là những gì mà chúng ta đang thấy. Chúng ta có màu xanh nhưng chừng đó vẫn là chưa đủ, đó là chưa kể nỗ lực xanh hóa thành phố vẫn chưa theo kịp với tốc độ phát triển, chính điều đó đã khiến cho thành phố đang dần đánh mất sự tự điều chỉnh, sự tự cân bằng mà vốn dĩ một thành phố sinh thái đúng nghĩa cần phải có. Rõ hơn, chúng ta chưa có được hệ thống xử lý hiệu quả để hạn chế ô nhiễm. Thực tế, hệ thống xử lý rác của thành phố chỉ dừng lại ở mức độ chôn lấp, trong khi đó với một thành phố sinh thái, xử lý rác đòi hỏi ở mức độ cao hơn đó là tái chế, không những thế còn là tái chế ở mức độ cao. Đối với hệ thống xử lý nước mặn và đặc biệt là nước thải, hiện nay hạ tầng của chúng ta chưa đồng bộ, nước thải vẫn chưa được xử lý mà chảy thẳng ra sông, hồ… Chúng ta đang xúc tiến tái thiết hệ thống thủy đạo đồng thời xúc tiến dự án cải thiện môi trường nước vay vốn ODA, trong đó có hạng mục quan trọng là xây dựng hệ thống xử lý nước thải khép kín và chỉ khi nào công trình này hoàn thành, chấm dứt tình trạng xả thải ra môi trường thì lúc đó mới cộng thêm được một tiêu chí của Thành phố sinh thái. Với mục tiêu phát triển đô thị sinh thái, trong tương lai Huế sẽ được chia sẻ nhiều gánh nặng, nhất là áp lực về sự gia tăng dân số. Để xây dựng Thành phố sinh thái, bài toán về dân số cũng cần được đề cập một cách nghiêm túc. Ở đây, quy hoạch chính là một công cụ hữu hiệu giữ vai trò then chốt. Quy hoạch nghĩa là phải xác định rõ các khu chức năng của đô thị và bố trí một cách khoa học và hợp lý dựa trên tổng hòa các mối quan hệ. Chẳng hạn các khu dân cư phải phân bố đều không nên co cụm, dồn nén vào một khu vực cụ thể nào đó, đặc biệt là khu trung tâm bởi nếu điều ấy xảy ra, chúng ta khó mà giải quyết tốt bài toán về giao thông, cũng như những nhu cầu xã hội khác của người dân. Có một nguyên tắc được đặt ra là quy hoạch phải phân tách rõ nhiều loại đất sử dụng. Do không quá đặt nặng vấn đề giải quyết quỹ đất ở nên có thể dành một diện tích đủ lớn để phát triển các khu vực cho không gian công cộng: cây xanh, mặt nước, các công trình phúc lợi, các công trình giao thông tĩnh và động phục vụ việc đi lại. Đơn cử như dự án tái định cư dân vạn đò và tới đây là dân khu vực hộ thành hào, thượng thành, khu vực di tích trong nội thành chính là một giải pháp khả dĩ để dãn dân và giải quyết một phần những bức xúc về giao thông, cũng như phúc lợi xã hội ở khu vực này. Nếu quy hoạch các đô thị chứa đựng tầm nhìn xa, được tính toán dựa trên nguyên lý khoa học thì sẽ giúp giải quyết nhiều vấn đề bức thiết tác động trực tiếp đến cuộc sống của con người như giao thông đi lại đạt đến độ tiện nghi, hướng lấy gió, ánh sáng… theo đúng nguyên lý phong thủy phương Đông và khoa học của phương Tây, giúp cải thiện đáng kể việc tiết kiệm năng lượng và đem đến yếu tố bền vững. Thành phố sinh thái tràn ngập yếu tố thiên nhiên nhưng thực chất đó là thành phố cực kỳ hiện đại, với hệ thống hạ tầng đạt đến sự tiện nghi hoàn hảo. Riêng với lĩnh vực giao thông, nó không nhất thiết là đường phải dài và rộng bởi một khi được bố trí các khu chức năng hợp lý thì các phương tiện giao thông cá nhân như xe máy, xe ô tô sẽ được hạn chế đến mức tối đa, thay vào đó là phương tiện vận tải công cộng theo tiêu chí xanh và đặc biệt là sự trở lại của loại phương tiện thân thiện là xe đạp và thậm chí là khuyến khích đi bộ. Bên cạnh đó, thành phố sinh thái sẽ có sự hiện diện của nhiều công trình dán “nhãn” sinh thái. Nghĩa là sử dụng phương pháp xây dựng, vật liệu, công nghệ vận hành thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng và xa hơn nữa, bản thân chúng có thể giải quyết được những nhu cầu tự thân của chính nó như vấn đề năng lượng và rác thải. Có thể nói, khác với các đô thị đơn tâm - độc lập, một thành phố sinh thái là thành phố phải nhìn trên góc độ tổng thể, quản lý cũng phải được thực hiện một cách tổng thể. Sự đầu tư phải đúng mục đích nhưng không thể có chuyện quá ưu tiên cho một khu vực cụ thể mà bỏ quên những khu vực khác. Bởi như thế có khi những hệ lụy của nơi này có thể tác động trực tiếp đến nơi khác. Chẳng hạn, thành phố Huế khó mà giải quyết tốt tất cả những vấn đề nội sinh của nó nếu như không có sự chia sẻ, hỗ trợ của các khu vực, các đô thị khác. Một khu vực gần hạ lưu các con sông như Huế chỉ có thể giải quyết được vấn đề ngập lũ, ô nhiễm… nếu như việc xây dựng các con đập ở thượng lưu được cân nhắc, tính toán khoa học và hợp lý, và một khi chúng đã được hình thành thì chuyện quản lý vận hành lại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để giải quyết một cách dung hòa những vấn đề của thành phố trong tương lai. QUANG PHONG (266/4-11) |
1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.
Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.
Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).
*Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.
Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...
Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.
I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.
Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.
Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.
I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.
Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.
Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.
Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...
Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.
Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...
Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.
Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "
Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.