Hồn Việt từ những ngôi đình làng

15:37 28/05/2014

Đình làng là kiến trúc độc đáo, mang đậm giá trị văn hóa của người Việt từ hàng trăm năm trước. Không chỉ là công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, đình làng còn là nơi chứng kiến những hoạt động văn hóa vật thể và phi vật thể, nơi gắn kết và biểu lộ đời sống sinh hoạt tinh thần của cộng đồng. Triển lãm về nghệ thuật chạm khắc của đình làng Việt Nam đang được giới thiệu tại Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM (97A Phó Đức Chính, quận 1).

Đình Chèm ở xã Thụy Phương, Từ Liêm (Hà Nội).

Hình ảnh rồng tiên ở đình làng

Được hình thành từ thế kỷ XV, định hình vào thế kỷ XVI, phát triển rực rỡ vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, đình là linh hồn của một ngôi làng người Việt, là kiến trúc chung của cả cộng đồng, là nơi tụ họp khi làng có việc, là địa điểm diễn ra lễ hội cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu - những ký ức văn hóa sâu thẳm vẫn được cất giấu nơi đây.

Ở nhiều miền quê Bắc bộ, đình làng đồng thời là nhà hát của làng xã hoặc cả vùng, là nơi nuôi dưỡng các thể loại diễn xướng dân gian như ca trù, hát xoan, chèo, quan họ… Thường ngày, đình làng còn là địa điểm của cánh đàn ông nông nhàn sau vụ mùa, ngồi nhâm nhi ấm trà, điếu thuốc cùng nhau bàn luận chuyện đầu làng cuối xóm; là nơi ru giấc ngủ trưa hè của đám trẻ nhỏ; là địa điểm trai gái hẹn hò những đêm trăng…

Bên cạnh đó, đình làng cũng là nơi chứa đựng nghệ thuật điêu khắc dân gian độc đáo. Ở Bắc bộ, hình ảnh rồng ngự ở ngôi đình làng phổ biến và rất tự nhiên, cởi mở, dung dị và chất phác như những người dân nơi thôn dã. Dù giai cấp thống trị muốn giành rồng như biểu tượng cho riêng mình nhưng ở đình, rồng là của cả làng. Đặc biệt, hình tượng rồng và tiên là một biểu tượng của đoàn kết dân tộc, ước vọng hạnh phúc của người Việt Nam. Hình ảnh tiên cưỡi rồng đặc biệt phong phú, đa dạng và đặc sắc trong mỹ thuật của người Việt, chiếm nhiều nhất trên kiến trúc đình làng.

Trong ngôi đình làng, hình ảnh rồng tiên luôn được chạm khắc trên vị trí thiêng liêng, trang trọng nhất. Nhiều thế kỷ dưới thời phong kiến, người phụ nữ bị yếm thế, không được học hành, không được quyền lựa chọn hôn nhân, không có vị trí xã hội trong cộng đồng… nhưng ở đình làng, tiên mang dáng dấp thôn nữ vắt vẻo trên lưng rồng mãi mãi là một biểu tượng kỳ diệu cho sự sáng tạo xuất phát từ những giá trị nhân văn cao đẹp của người Việt.

Tài hoa trong kỹ thuật thể hiện, người nghệ sĩ thiết kế, trang trí đình làng đã sáng tạo nên nhiều hình tượng nghệ thuật với rồng, tiên, hoa cỏ, muông thú. Các phù điêu trang trí luôn là điểm nhấn quan trọng trong không gian đình làng, mỗi đường nét là một sự chuyển tải thông điệp của nhân gian với thần linh, với trời đất, là cảm xúc, là ước vọng và cũng là sự thăng hoa của người nghệ sĩ. Một pho tượng không đơn giản chỉ để thờ cúng, một kiến trúc không đơn thuần chỉ là nơi che mưa che nắng… Tất cả đã tạo nên bản sắc riêng biệt của nền văn hóa nông nghiệp nhỏ lẻ, phân tán nhưng lại mang tính cộng đồng rõ nét.

        Trăn trở chuyện bảo tồn

Đến với khán giả và giới mỹ thuật TPHCM, triển lãm “Hình tượng rồng và tiên trên chạm khắc đình làng Bắc bộ Việt Nam” là một phần của dự án “Nghiên cứu, sưu tầm, quảng bá và phát huy những giá trị đặc sắc của di sản văn hóa đình làng vùng châu thổ Bắc bộ, Việt Nam” do Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam thực hiện trong hai năm 2012 - 2013. Để có được nguồn tư liệu sinh động phục vụ nghiên cứu giảng dạy cũng như trên 100 hình ảnh kiến trúc chạm khắc rồng và tiên của 38 đình làng ở Bắc bộ, nhóm thực hiện đã phải lao động cật lực.

Họa sĩ lão thành Huỳnh Phương Đông chia sẻ: “Hơn nửa thế kỷ trước, tôi từng có nhiều năm sống ở đình, chùa. Thật đáng khâm phục khi những kiến trúc chạm khắc độc đáo này đều do người dân lao động chế tác. Xem lại những tác phẩm kiến trúc độc đáo này để biết cha ông ta ngày trước đã làm được những điều kỳ diệu. Những tác phẩm mang đến cho chúng ta cảm giác sống lại hồn dân tộc Việt Nam, rất đỗi tự hào”.

NGƯT-TS Lê Văn Sửu, Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, cho biết: “Vào tháng 9-2012, chuyên đề này đã được giới thiệu tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp và được khán giả hoan nghênh nồng nhiệt, được sự quan tâm rất lớn của cộng đồng người Việt, giới nghiên cứu và nghệ sĩ Pháp”.

Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đã tác động không ít đến đời sống làng quê Việt Nam, xu thế đô thị hóa ở nông thôn đang khiến đình làng dần bị đẩy xa, ngôi nhà chung của cộng đồng bị đóng kín, sinh hoạt cộng đồng nay chuyển về nhà văn hóa thôn, xóm.

Đứng trước thực tế đó, dự án được triển khai với mong muốn đánh giá tổng thể về kiến trúc đình làng và không gian văn hóa đình làng. Từ đó đánh thức trách nhiệm của mỗi người trước giá trị di sản văn hóa của dân tộc cũng như tìm hướng bảo tồn phù hợp cho không gian văn hóa đình làng Việt Nam.
 

TS Lê Văn Sửu cho biết thêm một thông tin thú vị, trong quá trình thực hiện dự án, nhóm nghiên cứu phát hiện hàng ngàn người Việt Nam (dân tộc Kinh) đã đến định cư tại thôn Vạn Vĩ, huyện Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) từ thế kỷ XVI vẫn lưu giữ bản sắc độc đáo của dân tộc, họ xây dựng đúng gốc một ngôi đình làng ở Bắc bộ xưa tại thôn này. Phần đông họ là người gốc Hải Phòng và một số địa phương ven biển của Việt Nam.

Theo Minh An - SGGP

 

 



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.

  • Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.

  • Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.

  • “Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.

  • Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.

  • I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.

  • Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.

  • Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.

  • Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.

  • Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.

  • Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.

  • Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.

  • (Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)

  • Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.

  • Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.