Đọc “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, nhiều người thích đi tìm xung đột, đi tìm bài học thời sự, đi tìm bài học có tính dự báo và vô số những bài học giá trị khác.
Một cảnh trong vở “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Nhà hát Kịch Việt Nam. Ảnh minh họa từ IT
Nhưng riêng tôi, tôi lại muốn đọc lại để khám phá sâu hơn về tấm lòng, tình cảm của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ dành cho cuộc sống ngoài kia.
Cho dù vẫn biết thật - giả, đạo đức và sự băng hoại, cao thượng – thấp hèn, tốt – xấu ... đang lẫn lộn, nhưng Lưu Quang Vũ bao giờ cũng dành cho nó một tình yêu thương hồn hậu, chân thành.
Và tôi đã tìm thấy ở đoạn kết vở kịch này của ông vẻ đẹp của tình yêu ấy – vẻ đẹp của chất thơ bay lên từ cái kết thúc của một bi kịch – bi kịch “Hồn Trương Ba”:
Vườn cây rung rinh ánh sáng. Ở một góc nhà đó, hiện lên cảnh tượng cu Tị đang ôm chầm lấy mẹ, chị Lụa cuống quýt vuốt ve con... Bà vợ Trương Ba xuất hiện ở phía trước sân khấu.
Vợ Trương Ba: Ông ở đâu? Ông ở đâu?
(Giữa màu xanh cây vườn, Trương Ba chập chờn xuất hiện)
Trương Ba: Tôi đây bà ạ. Tôi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trong cái cơi bà đựng trầu, con dao bà giẫy cỏ… Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu...
(Dưới một gốc cây, hiện lên cu Tị và cái Gái)
Cái Gái: (tay cầm một trái na) Cây na này, ông nội tớ trồng đấy! Quả to mà ngon lắm. Ta ăn chung nhé!
(Bẻ quả na đưa cho cu Tị một nửa. Đôi trẻ ăn ngon lành. Cái Gái lấy những hạt na vùi xuống đất)
Cu Tị: Cậu làm gì thế?
Cái Gái: Cho nó mọc thành cây mới! Ông nội tớ bảo vậy. Những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi…
Chất thơ toát lên từ những hình ảnh, ngôn từ thấm đẫm cảm xúc
Những vở kịch của Lưu Quang Vũ hấp dẫn độc giả và khán giả nhiều thế hệ không chỉ bởi nó dám đề cập, dám nhìn thẳng, nói thẳng đến những vấn đề bức thiết, nóng hổi, mang tính thời sự sâu sắc của cuộc sống; ở sự chuyên chở những bài học mang đậm tính triết lí nhân sinh và tính chất dự báo mà sức hút ấy còn được tạo nên bởi cách sử dụng ngôn từ, hình ảnh giàu cảm xúc, chứa chan tình cảm.
Vốn là một nhà thơ, ông đã luôn nhìn cuộc đời và con người qua lăng kính của một thi sĩ. “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” khép lại trong sắc xanh ngút ngát đến bất tận của khu vườn mà khi còn sống, ông Trương Ba đã dành cho nó biết bao nhiêu tình cảm hồn hậu, chân thành. Ông quý trọng, nâng niu từng ngọn cỏ, cành cây; ông cuốc xới, chăm chút và không nỡ lòng làm đau những cây trái trong vườn.
Và giờ đây, giữa màu xanh cây vườn, bên ánh lửa, cái cầu ao hay một cái cơi đựng trầu, một con dao giẫy cỏ, Trương Ba vẫn sống, sống trong tấm lòng của những người thân yêu. Khung cảnh khu vườn, căn nhà giản dị, không hiểu sao, nó làm thức dậy trong ta biết bao nhiêu cảm xúc yêu thương, gắn bó đến lạ lùng với gia đình, quê hương, xứ sở. Bởi đó là một chốn đi về trong tâm tưởng của biết bao nhiêu người con đất Việt. Đi lên từ một xứ sở nông nghiệp, có ai lại không xuất thân từ một mảnh ruộng, con trâu, lũy tre hay một triền đê trước gió? Có ai lại không nhung nhớ, bâng khuâng một “cây đa, bến nước, sân đình”? Và có lẽ, nói như nhà phê bình tài hoa Hoài Thanh, trong mỗi chúng ta, ai ai lại chẳng có “một con người nhà quê” mà trong những năm 30 của thế kỷ XX, “nhà thơ chân quê” Nguyễn Bính đã từng đánh thức.
Và bởi thế, đọc những dòng văn ấy, chúng ta không chỉ rung động bởi hồn quê, cảnh quê được đánh thức mà chúng ta còn rung động bởi tình quê trong tấm lòng của nhà viết kịchLưu Quang Vũ. Quả thực, Lưu Quang Vũ đã thực sự miêu tả khung cảnh ấy bằng một tình yêu tha thiết ông dành cho cuộc sống và con người. Dẫu biết ngoài kia, cuộc đời còn biết bao nhiêu sự bộn bề, phức tạp; cái ác, cái xấu đang trỗi dậy, báo hiệu những nguy cơ hiện hữu về sự xuống cấp và băng hoại đạo đức con người thì ở đây, Lưu Quang Vũ vẫn dành cho cuộc đời một tình yêu tha thiết. Sức hấp dẫn làm nên giá trị lâu bền cho vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được tạo nên một phần có lẽ cũng bởi chính tình yêu cuộc đời tha thiết, chân thành ấy của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ!
Niềm tin bền vững vào chiều hướng phát triển tốt đẹp của cuộc sống
“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” kết thúc với cái chết của nhân vật chính – ông Trương Ba. Đó là một kết thúc có tính bi kịch. Câu nói của hồn Trương Ba: “Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn!” và cái chết của ông không khỏi gieo lại trong lòng người đọc bao cảm xúc ngậm ngùi, u buồn.
Song cái đóng góp lớn nhất của bi kịch chính là ở sự thức tỉnh, cảnh báo, nhắc nhở có tính chất dự báo. Bi kịch không phải để cho người ta bị nhấn chìm bởi nỗi buồn, sự tiếc thương để làm cho người ta mềm yếu. Trong cái u buồn, người ta biết thức tỉnh; biết dừng lại; biết đứng lên đấu tranh để ngăn ngừa điều xấu... bởi “không có gì cao cả hơn bằng một nỗi đau buồn lớn”! “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” báo động cho chúng ta một nguy cơ nghiêm trọng của con người trong xã hội hiện đại: Đó chính là sự lên ngôi của đồng tiền, là xu hướng con người đang chạy theo biết bao giá trị vật chất tầm thường, những dục vọng hèn kém, những toan tính cá nhân ích kỉ, bất chấp luật pháp và các chuẩn mực đạo đức của xã hội để thỏa mãn cho những nhu cầu của bản thân.
Nhưng như “những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi”, khu vườn vẫn xanh, vườn cây vẫn rung rinh ánh sáng, những cây con vẫn mọc lên, nối nhau mà lớn khôn, cuộc sống ngoài kia vẫn tiếp diễn bình yên và tươi đẹp. Màu xanh ngút ngát đến bất tận của khu vườn thực chất là màu xanh hi vọng mà Lưu Quang Vũ đã tin về chiều hướng phát triển tốt đẹp của cuộc sống. Hình ảnh con bé Gái và cu Tị dạo chơi trong khu vườn được vun trồng lên bởi bàn tay chăm sóc và tình yêu thương của ông nội để lại thật yên bình. Nó gieo vào trong mỗi chúng ta cái cảm giác bình an và thanh thản. Đó thực chất là hình ảnh của tương lai, của một cuộc sống vẫn sẽ diễn ra tươi đẹp.
Lưu Quang Vũ rất tin vào điều đó cũng như ông rất tin vào sự chiến thắng của điều thiện, của cái tốt trước cái ác, cái xấu trong cuộc đời. Trương Ba chết nhưng chính cái chết của ông đã làm sống lại những chân giá trị, chân đạo đức cao cả mà vốn lâu nay ông tôn thờ. Trong rung rinh cây vườn, trong những vật dụng quen thuộc hằng ngày, Trương Ba vẫn mãi sống trong tấm lòng, trong tâm hồn, suy nghĩ và tình cảm của những người thân yêu. Ông chết là để níu giữ những vẻ đẹp trong nhân cách, tâm hồn của một con người bao dung, nhân hậu, hết lòng yêu thương vợ con; là để minh chứng cho vợ, người con dâu và đứa cháu gái rằng mình chưa thay đổi, chưa bị dục vọng tầm thường tha hóa và “vẫn giữ được một đời sống vẹn nguyên, trong sạch, thẳng thắn”.
Cái chết của Trương Ba cũng chính là để thức tỉnh đứa con trai đang lầm đường lạc lối, đang bước những bước chân đầu tiên trên hành trình tôn thờ đồng tiền và những giá trị vật chất như là những thế lực độc tôn. Đó cũng chính là cách để nhà viết kịch Lưu Quang Vũ bộc lộ niềm tin bền vững vào chiều hướng phát triển tốt đẹp của cuộc sống và sự chiến thắng của những giá trị đạo đức, của nhân cách tốt đẹp vốn có trong mỗi con người.
Như những cây đời vẫn sẽ tiếp tục nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi, cuộc sống vẫn sẽ diễn ra tươi đẹp. Đó thực sự là lòng tin bất diệt mà Lưu Quang Vũ gieo lại trong tấm lòng của những người ở lại. Và đó cũng chính là cội nguồn, là gốc rễ làm nên những giá trị nhân văn, nhân bản và sức sống bền vững cho vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” cho mãi tới hôm nay. Những giá trị ấy đã góp phần giúp nhà viết kịch Lưu Quang Vũ thực hiện vẻ vang cái sứ mệnh của một người nghệ sĩ trên hành trình sáng tạo như lời của một câu nói nổi tiếng: Văn chương giống như chiếc đòn gánh. Nó gánh một đầu là đạo đức và một đầu là cái đẹp!
Thuở sinh thời, tâm hồn Lưu Quang Vũ đã từng ngân lên những giai điệu chân thành và đầy xúc động về tình yêu tiếng Việt:
Trái đất rộng, giàu sang bao thứ tiếng
Cao quý, thâm trầm, rực rỡ, tươi vui
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người ...
Như tiếng sáo, như dây đàn máu nhỏ ...
Ai phiêu bạt nơi chân trời cuối bể
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya ...!
Một con người nặng lòng với tiếng nói cha ông đến thế không thể là người bàng quan, dửng dưng, hờ hững trước cuộc đời. Hơn ai hết, Lưu Quang Vũ dành cả tấm lòng và tình yêu tha thiết cho quê hương nước Việt. Viết về những bộn bề của cuộc sống thời kì đầu đổi mới, đi vào những xung đột gai góc, quyết liệt, dám nhìn thẳng và nói thẳng sự thật, đưa ra những dự báo có tính chất cảnh tỉnh về sự bộn bề, phức tạp của xã hội hiện đại nhưng chưa bao giờ người ta nhìn thấy trong những tác phẩm của Lưu Quang Vũ tư tưởng bi quan chủ nghĩa và một nhân sinh quan u ám, bởi ông luôn tin vào cuộc sống, tin vào con người.
Trong những “tấn trò đời” đang quay cuồng lẫn lộn ngoài kia, có những chân giá trị, chân đạo đức đang dần dần có nguy cơ bị thất thế, bị đẩy lùi trước dục vọng và sự ham muốn hèn kém, xấu xa của con người. Trong cái “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” của thế sự thăng trầm ấy, bất giác, tôi lại nhớ về vở kịch nổi tiếng “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Hóa ra những sự đảo lộn giá trị, những sự hiếm hoi của lòng tốt, của việc tử tế; sự lên ngôi của đồng tiền; sự băng hoại đạo đức của con người bởi dục vọng ti tiện, hèn kém đã được nhà viết kịch tài năng ấy gióng lên hồi chuông cảnh báo ngay từ những năm 80 của thế kỉ XX. Tâm huyết và tài năng của người cầm bút đã giúp ông viết nên những vở kịch quyết liệt, có tính chất thức tỉnh, dự báo về những ung nhọt đang nảy sinh những mầm mống đầu tiên nhưng hết sức nguy hại cho sự phát triển bền vững của cả một đất nước. Có lẽ bởi thế, người ta mới gọi Lưu Quang Vũ bằng những mỹ từ trang trọng: Nhà viết kịch tài năng, người khai phá, người dự báo, một hiện tượng của sân khấu kịch trường ... |
Theo Minh Châu - GD&TĐ
1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.
Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.
Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).
*Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.
Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...
Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.
I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.
Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.
Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.
I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.
Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.
Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.
Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...
Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.
Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...
Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.
Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "
Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.