TÂM VĂN
Năm 1980 xã tôi trống dong cờ mở, mổ bò ăn mừng xã được công nhận xóa nạn mù chữ, phổ cập bổ túc văn hóa lớp năm; nhân dịp về quê, được UBND xã mời dự, tôi xắm rắm đi, ông nội tôi nói: “Họ mần quá bậy, dân dốt mất thôi”.
Minh họa: Nhím
Tôi hỏi, ông nói: Mấy năm ni, phong trào vận động học hành là có, xã cũng tích cực vận động người dân trong độ tuổi đi học ban đêm, nhưng chưa đủ độ chín, rứa mà họ bày đặt ra chuyện kiểm tra trình độ, buộc người học phải cậy người thi thế, cho đạt yêu cầu, cốt để báo cáo thành tích với trên, được công nhận phổ cập rồi thì tất nhiên là thôi dạy học, không phải dân dốt vẫn cứ lại hoàn dốt đó sao? Về vui với xã mà cứ băn khoăn. Chuyện đã hơn 30 năm, ông tôi đã qua đời trong năm đó mà lời ông nói tôi luôn giấu kín trong lòng.
Được nghe Nghị quyết, đọc báo, nghe đài, biết rồi đây các trường sẽ được quyền tự chủ tuyển sinh, tôi thật sự đâm lo nhiều hơn mừng cho nền giáo dục nước nhà. Mừng vì các trường đã có tên tuổi sẽ tuyển được học sinh giỏi cho mình. Riêng các trường tư thục cũng như công lập ở các tỉnh mới được thành lập trong các năm gần đây, thực lòng tôi vô cùng ái ngại. Theo đài báo thì vừa qua có trường bất chấp quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cứ tuyển cho đủ sinh viên, tổng điểm các môn thi đại học chỉ 02 điểm cũng tuyển, cứ đào tạo theo kiểu “CHÀY CỐI” này thì mầm họa quốc gia luôn còn treo lơ lửng.
Tôi cứ hình dung, người có chức quyền, giàu có thì mong cho con có mảnh bằng đại học dù là hư danh, rồi tìm cách đút lót, hối lộ để được vào làm việc ở các cơ quan công quyền, và tất yếu là hậu quả xấu khôn lường cho nền hành chính nhà nước. Người nghèo khổ thì cũng vì hư danh mà có người biến mại gia sản cho con mình có mảnh bằng đại học cho bằng chị bằng em, nhưng không dễ gì kiếm được việc làm, tương lai mờ mịt, như vậy là đã cùng cực mãi đeo cùng cực, cũng góp phần bần cùng hóa xã hội chúng ta.
Nói tới cái sự học chữ ai qua rồi mới biết, không có nghề chi khổ bằng. Những người học giỏi thì thích học, nghỉ một ngày, mất một giờ học là luôn nuối tiếc; người học không được thì coi sự học vất vả khôn cùng, lại rất ngại đến trường bởi thường bị chúng bạn xem thường, lại sợ bị thầy cô lục vấn. Cái mục đích cuối cùng của học chữ cũng chỉ nhằm để kiếm cơm, còn học nghề ai bảo không nuôi được miệng?
Ông cha ta có câu: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”; thiết nghĩ, các bậc phụ huynh nên định hướng cho con em mình, liệu sức mà làm, “liệu cơm gắp mắm”. Nếu không đủ điều kiện cho con em học chữ hoặc giả con em mình học không được chữ nữa thì nên tôn trọng sự lựa chọn của bản thân nó, quyết cho đi học nghề, học giỏi nghề thì chắc chắn cũng có cuộc sống ấm no, gia đình vinh hiển.
Tôi đồng tình cao với hướng đào tạo phổ thông bắt buộc đến ngang lớp 9, sau đó phải chuyển hướng nghề nghiệp, phải sắp xếp lại các trường đại học, cương quyết loại bỏ các trường đại học không đủ điều kiện, không nhất thiết tỉnh nào cũng phải có trường đại học.
Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời không có nghĩa là chỉ một con đường học lên đại học. Tôi nghĩ sinh viên đại học phải là những học sinh ưu tú, họ là nguồn nhân lực chất lượng cao cho một quốc gia, khi ra trường họ phải thực sự là bậc thầy của nhiều tốp thợ, như vậy họ phải là lớp người được tinh chọn cho đội ngũ làm thầy, mà thầy thường phải ít hơn thợ.
Hiện nay, chúng ta thấy tình trạng chung là khi kết thúc trung học phổ thông, tất cả đều khăn gói lên đường để dự thi và mong muốn được học ở một trường đại học, cao đẳng. Tùy theo năng lực, học sinh khá giỏi thì được học ở các trường danh tiếng, không được nguyện vọng một thì nguyện vọng hai, nguyện vọng ba. Số còn lại cũng nhận được giấy báo chào mời của rất nhiều trường ít danh tiếng và hầu như đa số đều được học ở bậc đại học, cao đẳng, cũng có nghĩa họ được đứng vào hàng ngũ làm thầy trong tương lai. Nhưng khổ nỗi, rất nhiều người trong số họ cũng ý thức được rằng, họ không xứng đáng được làm thầy, vì quá trình học họ không được tiếp cận những kiến thức tiên tiến, lại thiếu cơ sở thực hành, xa rời thực tế, không đáp ứng được nhu cầu cơ chế kinh tế - xã hội đang vận hành.
Xã hội rất cần những người thầy, nhưng cần có nhiều hơn những người thợ. Ai xây nhà cho ta ở, làm ghế bàn, may quần áo, các vật dụng… cho ta dùng. Ai cày sâu cuốc bẩm, lặn lội thân cò cho ta có rau, gạo, thịt, cá hàng ngày… Đều là những người thợ đó chứ. Đội ngũ những người thợ cũng đáng được tôn vinh, được xã hội trân trọng. Đừng nên ảo tưởng rằng, nhất thiết phải tìm cách đào tạo họ làm thầy, trong lúc họ có năng lực làm thợ hơn; Hãy để cho họ tự lựa chọn, hướng cho họ phát huy sở trường mới thực sự có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Nhiều trường đại học thiếu điều kiện, nhưng lại tuyển sinh và khuyến khích thế hệ học sinh ngồi nhầm chỗ là có lỗi với xã hội, lại có lỗi với sinh viên. Nếu cứ duy trì tình trạng này thì lời than của ông tôi mà tôi trích dẫn ở trên vẫn đang còn đúng.
Huế, tháng giêng, năm 2014
T.V
(SDB12/03-14)
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.