Hiện tượng “chảy máu chất xám” hiện nay trong đội ngũ trí thức ở Thừa Thiên Huế

10:39 26/10/2009
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

Có thể cho rằng, trí thức là tầng lớp tinh hoa của xã hội, đó là tầng lớp mang tính đặc thù xã hội khá cao, độc lập tương đối, có đầy đủ học vấn chuyên môn để phục vụ cho lao động trí óc phức tạp. Trí thức còn phải là những người có mặt trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi khu vực lãnh thổ và phải gắn bó khăng khít với tất cả các giai cấp, các tầng lớp khác trong xã hội.
Thừa Thiên Huế với trung tâm là Huế, trước đây từng là trung tâm chính trị- kinh tế- văn hóa của Việt Nam, và ngày nay được xác định là trung tâm văn hóa- du lịch của cả nước. Từ xa xưa, Huế được coi là mảnh đất hiếu học, là nơi bồi dưỡng, đào tạo rất nhiều nhân tài cho đất nước. Truyền thống ấy vẫn được lưu giữ và phát triển cho đến ngày nay. Hiện tại, toàn tỉnh có trên 500 trường học từ mầm non đến bậc trung học, cao đẳng, dạy nghề, có 11 bệnh viện, trong đó bệnh viện Trung ương Huế đang phấn đấu trở thành trung tâm y tế chuyên sâu của miền Trung; có Đại học Huế hiện đang là trung tâm đào tạo, nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực. Với trên 50 chuyên ngành đào tạo cử nhân, cao học ở 5 trường đại học, một khoa trực thuộc và Trung tâm nghiên cứu khoa học, Đại học Huế đang là nguồn bổ sung dồi dào cho đội ngũ trí thức không những với Thừa Thiên Huế mà cả với miền Trung và Tây Nguyên.

Thừa Thiên Huế hiện có khoảng 17. 000 người có trình độ từ Đại học trở lên. Cứ 1.000 người dân có khoảng 16 người tốt nghiệp đại học. Đây là tỉ lệ khá cao so với cả nước (cử nước là 10/ 1.000). Số trí thức có trình độ từ thạc sỹ trở lên là 470 người, chiếm 2, 7% tổng số trí thức đang làm việc ở các lĩnh vực (tỷ lệ này của cả nước là 1%).

Đội ngũ trí thức có học hàm, học vị cao tập trung chủ yếu ở các trường đại học, bệnh viện TW Huế, trong hệ thống ngành giáo dục, sau đó mới đến một số lĩnh vực kinh tế. Riêng ở Đại học Huế có 406 người có trình độ trên đại học (chiếm 86%), gồm 128 tiến sỹ, phó tiến sỹ (trong đó có 30 người là giáo sư, phó giáo sư). Đội ngũ trí thức này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: một số được đào tạo từ miền Nam trước 1975, một số khác được đào tạo từ miền Bắc hoặc một số nước xã hội chủ nghĩa cũng trước 1975, còn lại số đông được đào tạo sau ngày đất nước thống nhất (1975), trong đó gồm đào tạo tại Huế, đào tạo ở một số trung tâm lớn trong nước và nước ngoài.

Về cơ cấu và phân bố, tuy trí thức Thừa Thiên Huế có mặt ở nhiều ngành khoa học, trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị văn hóa- xã hội..., song tập trung chủ yếu ở các ngành giáo dục đào tạo, y tế, khoa học xã hội nhân văn, văn hóa nghệ thuật. Về tính không đồng đều này, trước tiên phải căn cứ vào môi trường văn hóa, giáo dục của địa phương, căn cứ vào tính đặc thù của vùng đất văn hóa. Thế mạnh ở đây là văn hóa, giáo dục, y tế, du lịch. Nhiều ngành kinh tế chưa phát triển, do đó chưa thu hút được số đông trí thức vào hoạt động kinh tế. Một số ngành mũi nhọn của tỉnh như công nghiệp, du lịch, nông nghiệp, thủy sản... còn thiếu những chuyên gia giỏi, đặc biệt là chuyên gia am hiểu công nghệ cao. Trí thức trên đại học cơ cấu chưa đồng đều ở các ngành. Nhiều lãnh vực chuyên môn còn quá ít trí thức có học hàm, học vị cao. Hiện nay có hơn 80% trí thức nằm trong biên chế Nhà nước, tập trung chủ yếu ở thành phố Huế, các thị trấn, trung tâm huyện lị. Trí thức ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa còn rất mỏng. Tình trạng này do các nguyên nhân: Kinh tế, văn hóa ở nông thôn, miền núi chưa phát triển, trí thức trẻ ngại đi xa, ngại khó khăn gian khổ, chính sách để thu hút trí thức trẻ về các vùng này chưa thỏa đáng.

Nhìn chung lực lượng trí thức ở Thừa Thiên Huế khá đông, khá dồi dào, song phân bố không đều và thiếu những chuyên gia giỏi đầu đàn, cho nên xét về mặt tổng thể thì chưa gọi là mạnh được.

Về hiện tượng “chảy máu chất xám” nói chung, chúng ta có thể xét từ một số hiện tượng cấu thành: Thứ nhất là sự di chuyển chất xám khỏi Thừa Thiên Huế theo dạng cơ học, có nghĩa một số trí thức ra đi từ Huế, hiện đang làm việc ở những địa phương khác hoặc những tổ chức kinh tế xã hội không đóng góp trực tiếp cho sự phát triển Thừa Thiên Huế. Thứ hai là hiện tượng lãng phí chất xám, bao gồm: chất xám thừa chưa sử dụng hết, chất xám không được sử dụng và hiện tượng chất xám đáng lý phục vụ cho lĩnh vực này thì lại sử dụng cho lĩnh vực khác. Ta có thể nói cụ thể hơn là, chất xám chưa sử dụng hết và chất xám không được sử dụng thường vẫn có hiện tượng chảy ra ngoài, ví dụ: một số trí thức đang làm việc ở Thừa Thiên Huế, nhưng do điều kiện kinh tế xã hội của địa phương bị hạn chế, nên chưa phát huy được hoặc chưa phát huy hết năng lực sở trường, từ đó chất xám được sử dụng cho nơi khác bằng các hợp đồng nghiên cứu khoa học với nhiều tổ chức trong và ngoài nước. Còn hiện tượng lãng phí do sử dụng không đúng chuyên môn đào tạo cũng không phải là ít.

Thông thường, theo qui luật tự nhiên, chất xám chảy về những trung tâm đang có điều kiện để phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội. Ở những nơi đó có mức sống, mức thu nhập cao hơn những vùng khác, có điều kiện để phát huy tài năng hơn. Nếu chỉ xét ngay trong tỉnh, chúng ta đã thấy có hiện tượng chất xám chảy về khu vực trung tâm, chảy về một số ngành nghề có thế mạnh. Như đã phân tích ở phần trên, hầu hết số trí thức trong tỉnh đều tập trung ở thành phố Huế và các huyện lỵ, tập trung ở một số ngành nghề như giáo dục- đào tạo, y tế, văn hóa. Từ đó mà, nhiều sinh viên vốn ra đi từ các huyện, nhưng sau khi tốt nghiệp đại học, lại tìm cách ở lại thành phố, hoặc một số trí thức, cán bộ quản lý có năng lực từ huyện được rút lên tỉnh, thậm chí họ tự xoay sở để xin về trung tâm, âu cũng là điều bình thường. Bên cạnh đó, một số sinh viên được đào tạo chuyên môn này, nhưng ra làm việc ở lãnh vực chuyên môn khác có thu nhập cao hơn, một số cán bộ chuyển từ ngành này sang ngành khác, cũng bởi vì có những ngành có chế độ ưu đãi đặc biệt hơn nhiều ngành khác.

Nếu xét trong cả nước thì hiện nay chất xám chủ yếu vẫn chảy về hai trung tâm lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Có quan điểm cho rằng, “ chảy” đi đâu thì chảy, miễn là vẫn chảy trong nước, và cứ để cho quy luật tự nhiên đào thải, đến lúc bão hòa nó sẽ “ chảy” ngược (!?) Nếu giữ quan điểm như vậy, và chúng ta không sớm có chính sách điều chỉnh, thì sự chênh lệch giữa các khu trung tâm với các vùng phụ cận sẽ ngày càng lớn, khoảng cách giữa thành thị với nông thôn, giữa đồng bằng với miền núi ngày càng xa. Điều ấy đã và đang xảy ra ngay trong tỉnh. Từ đó, chiến lược đô thị hóa nông thôn, mà mở đầu là công nghiệp hóa nông thôn sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Hiện nay, nhiều người đang cảm thấy lo lắng và sốt ruột, khi hàng năm có khoảng 1. 500 sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học thuộc đại học Huế, song số ở lại Thừa Thiên Huế làm việc thì không bao nhiêu. Điều đáng nói là có nhiều cử nhân giỏi đã nhanh chân lên đường vào Nam kiếm sống, trong số họ cũng không ít người muốn ở lại Huế nhưng không kiếm được việc làm. Bên cạnh đó, phải kể đến một số sinh viên giỏi, ra đi từ Huế, đến học tập, tu nghiệp ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc ở nước ngoài, nhưng đã không hẹn ngày trở về Huế. Nếu chỉ đơn thuần là sự di chuyển chất xám giữa vùng này với vùng khác thì vẫn còn cảm thấy nhẹ, đằng này, có nhiều trí thức trẻ được đạo tạo tại Huế, hoặc đào tạo ở những nơi khác, nhưng vốn ra đi từ Huế, hiện đang làm việc cho một số công ty liên doanh của nước ngoài. Đến đây, mới thật sự thấm thía, chúng ta bị thua thiệt và mất mát. Đành rằng, tại các công ty liên doanh ấy, xét về mặt vĩ mô chúng ta đang có lợi. Nhưng cái lợi chắc gì bù được cái thua thiệt. Chúng ta tốn rất nhiều công sức trong nhiều năm để đào tạo nên những trí thức, nhưng chỉ phải bỏ ra vài ba trăm đôla mỗi tháng cho một người, họ đã sử dụng phần “ tinh” của chúng ta mà không cần phải đào tạo, hoặc chỉ cần đào tạo thêm trong thời gian rất ngắn. Số tiền ấy, với người Việt Nam là lớn, song với họ chỉ là những nhân công rẻ mạt. Từ đó, vấn đề được đặt ra là, phải chăng chúng ta đang sử dụng không hết chất xám. Giữa đào tạo và sử dụng chưa cân đối.

Bây giờ nói về việc tuyển dụng. Từ năm 1990 đến 1994, trung bình mỗi năm toàn tỉnh tuyển dụng khoảng 120 công chức có trình độ đại học và từ 1995 đến 1998 con số ấy là khoảng 220 người mỗi năm, trong đó đông nhất là ngành giáo dục. Như vậy, đi đôi với sự phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội thì nhu cầu sử dụng trí thức tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây. Tuy nhiên, phải khẳng định, chúng ta chưa thể sử dụng hết số trí thức mới được đào tạo. Mặc dù chưa nắm được con số chính xác song, số sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng chưa tìm được việc làm ở Huế cũng không phải là ít.

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, ở một số lãnh vực, ngành nghề, đã có những trí thức là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, cán bộ làm chuyên môn, nghiệp vụ về kinh tế, kỹ thuật, cán bộ làm công tác quản lý, một số là các văn nghệ sỹ... đã ra đi khỏi Huế, mà chủ yếu là tiến về phía Nam (kể cả làm việc cho công ty nước ngoài). Chỉ tính từ năm 1990 đến nay, trung bình mỗi năm có khoảng 20 công chức có trình độ từ đại học trở lên đã đi khỏi Thừa Thiên Huế. So với tổng thể thì số này không nhiều và mặc dù họ chưa phải là những chuyên gia, những nhà kỹ thuật đầu đàn, song trong số họ, có những người thực sự có tiếng tăm. Bên cạnh đó phải kể đến, trong số trí thức vẫn ở lại làm việc ở Thừa Thiên Huế, có một số do điều kiện chưa phát huy được năng lực, sở trường tại chỗ nên vẫn đi ký kết các hợp đồng nghiên cứu khoa học với nhiều tổ chức trong và ngoài nước. Cũng trong khoảng thời gian này ở Đại học Huế, có một số phó tiến sỹ sau khi hoàn thành việc học tập, nghiên cứu ở Hà Nội hoặc ở nước ngoài về cũng đã tìm đường đi khỏi Huế. Tính từ năm 1990 đến nay, trung bình mỗi năm có khoảng 4 cán bộ giảng dạy, nghiên cứu đã di chuyển khỏi các trường đại học thuộc Đại học Huế. Con số này là rất nhỏ, song đa số họ là những người giỏi, được nhiều nơi chào mời.

Việc bố trí, sử dụng trí thức không đúng chuyên môn được đào tạo, tuy không phải là phổ biến nhưng cũng không ít trường hợp đã xảy ra. Qua khảo sát 300 trí thức ở mọi lĩnh vực thì có 39 người trả lời, công việc hiện tại chưa phù hợp với chuyên môn (chiếm 13 %)

Tác động tiêu cực của hiện tượng chảy máu chất xám đối với quá trình phát triển kinh tế- xã hội ở Thừa Thiên Huế:

Việc một số trí thức giỏi rời khỏi Thừa Thiên Huế để đi làm việc nơi khác là một thiệt thòi cho địa phương, đồng thời nó gây tâm lý bất an cho những người ở lại.

Việc tuyển dụng và sử dụng trí thức không đúng chuyên môn được đào tạo vừa gây hiện tượng lãng phí chất xám, đồng thời số trí thức ấy không phát huy được sở trường của mình mà phải làm việc trái nghề sẽ tạo nên sự trì trệ trong bộ máy Nhà nước.

Chất xám sử dụng không hết hoặc không đúng đã là sự lãng phí, chất xám chảy ra ngoài không theo dạng cơ học cũng là sự thiệt thòi cho địa phương, song chất xám phân bố không đồng đều, thiếu hợp lý giữa các ngành, giữa các khu vực, gây nên sự thừa, thiếu giả tạo sẽ tác động trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của nền kinh tế.

Việc mất cân đối giữa đào tạo và sử dụng, việc đặt ra những tiêu chuẩn tuyển dụng rườm rà đã sinh ra hiện tượng, để kiếm được việc làm, sinh viên phải học nhiều nghề nhưng không giỏi nghề nào. Phải chăng đã đến lúc, hiện tượng chạy theo số lượng bằng cấp đã trở nên phổ biến, nó đang bị mất dần quan niệm “ nhất nghệ tinh”, điều này rất ảnh hưởng đến chất lượng công tác, đồng thời nó có tác động ngược đến chất lượng đào tạo.

Nguyên nhân:

Nguyên nhân về điều kiện địa lý, kinh tế- văn hóa- xã hội:
Nhìn chung, người tài phải có đất dụng võ thì mới ngời sáng được. Thừa Thiên Huế cũng mang một số đặc điểm giống các tỉnh miền Trung khác, đó là điều kiện tự nhiên không thuận lợi như đất canh tác bị hạn chế, diện tích vùng gò đồi, vùng cát nội đồng ven biển chiếm tỷ lệ khá cao trong diện tích đất đai (riêng vùng biển và đầm phá đã chiếm 13 % diện tích). Đất canh tác đã ít lại cằn cỗi, bên cạnh đó, điều kiện khí hậu, thời tiết hoàn toàn bất lợi cho việc phát triển kinh tế như thiên tai, bão lụt thường xuyên, hầu như năm nào cũng có. Mùa đông mưa dầm kéo dài, mùa hè ảnh hưởng gió Tây Nam khô, nóng, nhiệt độ không khí lên cao, ruộng đồng thường bị hạn hán. Đặc biệt hạ tầng cơ sở chưa phát triển, đường sá giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH, còn nhiều cách trở giữa đồng bằng với các huyện miền núi, với vùng đầm phá ven biển. Vì nằm ở khoảng giữa đất nước, nên Thừa Thiên Huế cách xa hai trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, điều này cũng gây hạn chế cho việc phát triển, nhất là trong giao lưu kinh tế, văn hóa... Từ đó để thấy rằng, Thừa Thiên Huế chưa phải là nơi hấp dẫn để thu hút đầu tư trong và ngoài nước.

Với những khó khăn như vậy nên xét về mặt “thiên thời, địa lợi” thì phải nói, Thừa Thiên Huế “mưa không thuận, gió không hòa, đất không lành”. Cho nên, tình trạng nghèo, túng thiếu đang còn nhiều, nền kinh tế chậm phát triển, nhất là công nghiệp địa phương, việc làm ít, thu nhập thấp đang còn là phổ biến. Từ đó, làn sóng chuyển cư của người miền Trung chứ chẳng riêng Thừa Thiên Huế vào miền Nam đã có từ rất nhiều năm nay, chứ không phải mới một số năm gần đây.

Từ những khắc nghiệt do thiên nhiên không ưu đãi nên để bù lại, người miền Trung luôn tỏ ra cần cù, hiếu học, chịu thương, chịu khó, và hơn xứ nào hết, họ rất mong có sự đổi đời. Cho nên, nhiều người Huế sẵn sàng rời quê hương ra đi, nguyên nhân chính cũng là mong sớm cải thiện được cuộc sống.

Điều kiện kinh tế chậm phát triển thì khả năng tận dụng năng lực của người giỏi cũng bị hạn chế. Việc người tài rời khỏi Thừa Thiên Huế vào miền Nam tìm một cuộc sống dễ chịu hơn, với mức thu nhập kinh tế cao hơn nhiều lần, âu đó cũng là quy luật hoàn toàn tự nhiên trong việc di chuyển chất xám. Còn nói đến chính sách “ chiêu hiền đãi sỹ” thì, với điều kiện kinh tế như thế, cũng chỉ đáp ứng được một phần nào đó, thường là khó thỏa mãn với những người giỏi.

Ngoài những nguyên nhân khách quan như đã nêu trên, hiện tượng “ chảy máu chất xám” còn xuất phát từ một số nguyên nhân chủ quan như: sử dụng chưa đúng, chưa hết năng lực của một số người giỏi, cơ chế tuyển dụng còn nhiều bất hợp lý, cơ chế hoạt động còn thiếu đồng bộ ở nhiều nơi, sự phối hợp giữa đào tạo với nhu cầu tuyển dụng chưa cân đối, đào tạo chưa sát với yêu cầu phát triển ngành nghề của địa phương, chính sách ưu đãi chưa thỏa đáng.

Cuối cùng, nguyên nhân chủ yếu vẫn là kinh tế xã hội chậm phát triển, chưa ngang tầm với sự nghiệp văn hóa, giáo dục nên đã dẫn đến tình trạng sử dụng không hết chất xám, chất xám thừa ở một số lĩnh vực này nhưng lại thiếu ở một số lĩnh vực khác, thừa ở trung tâm nhưng lại thiếu ở vùng phụ cận, do ở đó, chúng ta chưa có chính sách hợp lý nhằm thu hút người giỏi, hoặc chưa kịp thời định hướng kế hoạch đào tạo.

Giải pháp nhằm hạn chế hiện tượng “ chảy máu chất xám”

Hiện nay, công tác đào tạo ngành nghề đang phát triển mạnh, đa dạng và phong phú, song việc tuyển dụng và sử dụng số trí thức trẻ của chúng ta còn gặp nhiều lúng túng, cũng do các mặt kinh tế, văn hóa- xã hội chưa đáp ứng kịp thời với sự phát triển đa dạng của đào tạo.

Đối với cấp ủy đảng nên sớm có sự định hướng, đối với cấp chính quyền có thể nghiên cứu để thực hiện từ một số biện pháp cụ thể như sau:

Xuất phát từ cơ cấu kinh tế của tỉnh là: công nghiệp- du lịch-, dịch vụ- nông nghiệp và cũng từ các mũi nhọn kinh tế mà thu hút và phân bổ đội ngũ trí thức theo các hướng ưu tiên tuần tự.

Về công tác cán bộ: phải sớm có qui hoạch tổng thể trong toàn tỉnh và qui hoạch chi tiết từng lĩnh vực, từng ngành cụ thể để đề ra kế hoạch sử dụng, phân bổ đội ngũ trí thức, tuyển dụng và đào tạo lâu dài.

Hạn chế tính tự phát trong việc bổ sung, tuyển dụng cán bộ đối với nhiều ngành nghề hiện nay. Cần đề ra kế hoạch tương đối “ dài hơi” trong công tác cán bộ, ít nhất là trong 10 năm tới, mỗi năm chúng ta cần đào tạo lại, cần bổ sung thêm bao nhiêu trí thức trẻ trong từng ngành nghề cụ thể.

Về kế hoạch đào tạo: Xuất phát từ cơ cấu kinh tế của tỉnh và mũi nhọn kinh tế cần tập trung để ưu tiên hướng đào tạo. Hiện nay, Đại học Huế là nguồn bổ sung lớn cho đội ngũ trí thức của tỉnh, song mới chỉ tập trung chính ở các ngành khoa học cơ bản, y tế, giáo dục, nông nghiệp, nghệ thuật mà chưa có khoa học kỹ thuật. Từ đây phải có sự định hướng trong việc gửi đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật từ các trung tâm lớn để về phục vụ cho tỉnh.

Để đạt được hiệu quả cao trong việc thu hút chất xám, ngay từ bây giờ chúng ta phải chú ý đến số học sinh giỏi ở các trường phổ thông. Có định hướng nghề nghiệp cho các học sinh này, và có chính sách trong suốt quá trình học đại học của họ, làm sao khi ra trường, họ tình nguyện ở lại hoặc từ xa trở về Thừa Thiên Huế làm việc. Bên cạnh đó phải chú ý hạn chế việc đào tạo vừa thiếu vừa thừa. Chú ý ưu tiên đào tạo người tại chỗ cho 2 huyện miền núi.

Phân bổ đội ngũ trí thức: hạn chế việc đội ngũ trí thức tập trung qúa đông ở trung tâm, tập trung nhiều ở một số ngành nghề. Phải có chính sách kéo giãn ra, nhất là chính sách nhằm động viên trí thức trẻ về công tác ở các huyện, ví dụ chế độ ưu đãi về tiền lương, quy định thời hạn công tác, cơ chế đào tạo và tuyển dụng cũng được ưu tiên hơn những trí thức ở thành phố...

Nâng cao chất lượng tuyển dụng trí thức, tuyển dụng đúng ngành nghề chuyên môn.

Liên kết chặt chẽ với Đại học Huế trong hướng nghiên cứu các đề tài khoa học nhằm phục vụ cho tỉnh. Hạn chế hiện tượng chất xám tại chỗ nhưng vẫn chảy ra ngoài.

Cuối cùng là chính sách ưu đãi những trí thức giỏi, có uy tín thực thụ, có bề dày cống hiến, ưu đãi trí thức ở các ngành nghề mũi nhọn của tỉnh, trí thức ở những môi trường công tác khó khăn.

Đối với xã hội: Phải có trách nhiệm định hướng nghề nghiệp cho lớp trẻ sát với tình hình thực tế của địa phương, giáo dục, động viên lớp trẻ ý thức phục vụ quê hương.

Đối với bản thân trí thức: phải nhận rõ được vai trò, trách nhiệm phục vụ của mình trước xã hội, nhất là trách nhiệm đối với chuyên môn, nghề nghiệp được đào tạo.

Thừa Thiên Huế là trung tâm giáo dục - đào tạo nhưng chưa giữ được nhiều người tài ở lại phục vụ quê hương là một thiệt thòi. Nhưng với sự chuyển mình về mặt kinh tế- xã hội như hiện nay, hy vọng một tương lai không xa, Thừa Thiên Huế sẽ là nơi hội tụ nhiều bậc tài năng tâm huyết.

VIỆT HÙNG
(130/12-1999)



 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.

  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.