Giới nghệ sỹ lên tiếng về cách 'Phong tặng nghệ nhân'

14:34 04/07/2014

Sau 12 năm chờ đợi, Nghị định xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân ưu tú”, “Nghệ nhân nhân dân” trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể mới được Chính phủ ký ban hành, nhưng còn ý kiến trái chiều xung quanh tính khả thi, động lực đối với hàng ngàn nghệ nhân.

Một số quy định có thể làm khó nhiều nghệ nhân khi xét tặng danh hiệu (trong ảnh là nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ, Nguyễn Thị Quyết và Tạ Thị Vi). Ảnh: H.Nguyên

Chưa sát thực tế

Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền cho rằng, với thực tiễn hoạt động của nghệ nhân các loại hình di sản thì sự phân cấp danh hiệu “ưu tú”, “nhân dân” như hiện nay là không cần thiết. Hơn nữa, trong văn hóa nghệ thuật truyền thống, nghệ nhân vốn là danh xưng được xã hội công nhận đối với tài năng giữ gìn di sản. “Định mức này mô phỏng nghị định về NSƯT, NSND vốn học theo Liên Xô cũ không còn phù hợp”, anh nói.

Một trong những điều khiến dư luận thấy chưa thỏa đáng nhất nằm ở Chương 4, điều 11, khoản 1.b quy định về hồ sơ: Các tài liệu chứng minh tri thức, kỹ năng và những đóng góp đối với sự nghiệp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể gồm: Băng, đĩa hình, ảnh mô tả tri thức và kỹ năng đang nắm giữ; bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng nhận hoặc quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, giải thưởng, bằng khen và các tài liệu khác liên quan.

“Điều này không phù hợp thực tế bởi từ bao đời nay, sự tồn tại của nhiều loại hình di sản luôn ở mức nguy cơ báo động, không có người kế tục. Nghệ nhân hát kể trường ca các dân tộc Tây Nguyên hiện chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, kêu gọi thanh niên nghe họ hát đã khó chứ chưa nói có học trò theo nghiệp. Hay với những nghệ nhân lão thành như danh cầm ca trù cuối cùng của lớp nghệ nhân thế kỷ 20, cụ Nguyễn Phú Đẹ, cụ tìm đâu ra cái gọi là giải thưởng để được phong tặng”, anh Hiền lí giải.

Nghị định 62 về phong tặng danh hiệu NNƯT, NNND trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể có hiệu lực từ 7/8/2014, bao gồm 5 chương, 18 điều và quy trình xét cũng qua ba cấp tỉnh, bộ và Nhà nước như đối với danh hiệu NSƯT, NSND. 

Giống nhiều chuyên gia khác, Bùi Trọng Hiền cũng cho rằng, với số nghệ nhân cao tuổi chiếm đa số, đặc biệt nghệ nhân các dân tộc thiểu số mà hiện rất nhiều người còn chưa biết chữ, việc làm thủ tục xin phong danh hiệu rất khó khăn. “Phong tặng thế này là tiến hành theo cơ chế xin-cho chứ không phải chủ động của Nhà nước với những người giữ gìn di sản”, anh nhấn mạnh. 

Liên quan đến quy định nghệ nhân có 15 năm, 20 năm tuổi nghề mới lần lượt được nhận danh hiệu ưu tú, nhân dân. Không ít ý kiến cho rằng thật bi hài với các nghệ nhân ở tuổi xế bóng 80, 90: Muốn được cấp “nhân dân”, họ phải có được danh hiệu “ưu tú”. Bao người đợi thêm 5 năm để được vinh danh?

Hồ sơ là đương nhiên?

“Bảo vệ và phát huy di sản mà không nói đến nghệ nhân thì vô nghĩa. Vì nghệ nhân là người sáng tạo, sở hữu, lưu giữ di sản cho đến nay. Sau bao năm, chính sách và danh hiệu nay mới ra được. Thôi thì cũng là điều mừng, nhưng vấn đề là thực hiện thế nào. Với người Việt, cái tiếng quan trọng lắm. Khi được tôn vinh người ta sẽ tích cực hơn trong truyền dạy, bảo tồn. Kinh nghiệm cho thấy, họ rất quý trọng danh hiệu, nhất là danh hiệu cấp Nhà nước”, GS Ngô Đức Thịnh nói. 

Ông lại có ý kiến khác hẳn với nhiều chuyên gia trong chuyện hồ sơ: “Tôi lại cho là cần, đó là thông lệ quốc tế. Phải có hình thức cho biết người đó có đóng góp gì, trình độ ra sao. Nếu cứ thế phong tặng, dễ sinh tiêu cực. Chưa tính đến chuyện nhỡ ai đó không thích thì sao, ví như nhà văn Nguyên Ngọc từ chối Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT”. Ông nói thêm, nếu nghệ nhân nào không làm được, thì địa phương hoặc hội nghề nghiệp mà họ tham gia nên giúp đỡ.

Là thành viên Hội đồng Di sản quốc gia, GS Thịnh từng đưa ý kiến về chế độ chính sách khi ban soạn thảo lấy ý kiến. Nhật Bản, Hàn Quốc sáng kiến có chính sách cho nghệ nhân tùy theo phân cấp địa phương hay quốc gia. Nghệ nhân nhân dân ở Nhật được hưởng chế độ rất cao. Nhưng UNESCO từ chối điều này. Theo họ, quốc gia nghèo không có điều kiện, hơn nữa hình thức này không có tác dụng bằng việc Nhà nước, địa phương tạo điều kiện để nghệ nhân có năng lực tự sống bằng di sản, phát huy nghề của họ. 

“Nước mình không có tiền như Nhật, Hàn, nhưng ngoài tôn vinh tinh thần, nên quan tâm chăm sóc sức khỏe của nghệ nhân, ít nhất cấp sổ bảo hiểm y tế”, GS Thịnh nói. Tuy nhiên, điều này chưa thể hiện rõ trong Nghị định.

Nghệ nhân được phong tặng danh hiệu nhận khoản tiền thưởng theo quy định của Luật Thi đua Khen thưởng. Một số nghệ nhân có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp sẽ nhận được một khoản trợ cấp sinh hoạt hằng tháng.

Không nên chạy đua số lượng

Nhà nghiên cứu, phê bình âm nhạc Nguyễn Quang Long từng tiếp xúc nhiều với nghệ nhân dân gian nói: “Nghệ nhân chủ yếu lớn tuổi, ở khu vực nông thôn, ít cập nhật văn bản, chính sách. Thủ tục rườm rà quá làm khó họ, nhất là với người xứng đáng. Phong hay không họ vẫn là nghệ nhân. Tôi cho rằng nên có một hội đồng khoa học độc lập, theo dõi hoạt động và tôn vinh họ. Không cần phong cả nghìn người, quan trọng là những người xứng đáng, đặc biệt không chạy đua số lượng, tỉnh này có nghệ nhân, tỉnh kia cũng không chịu thua”.


Theo Toan Toan - TP

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.

  • Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.

  • Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.

  • “Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.

  • Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.

  • I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.

  • Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.

  • Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.

  • Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.

  • Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.

  • Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.

  • Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.

  • (Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)

  • Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.

  • Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.