Tuồng là môn nghệ thuật sân khấu truyền thống độc đáo của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, cũng giống như những loại hình nghệ thuật truyền thống khác, tuồng đang đứng trước nguy cơ mai một. Ở đó việc bảo tồn để duy trì và phát triển nghệ thuật tuồng đang là “bài toán” không dễ gì tìm được câu trả lời thấu đáo.
Nghệ thuật tuồng đang lay lắt tồn tại.
Mất dần khán giả
Tuồng còn gọi là hát bội, hát bộ, bộ môn nghệ thuật cổ điển và bác học bậc nhất Việt Nam. Là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền, được hình thành trên cơ sở ca, vũ, nhạc và các trò diễn xướng dân gian vốn có từ lâu đời và rất phong phú của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, nhìn lại chặng đường từ khi hình thành và phát triển của nghệ thuật tuồng cho đến nay đang là những “bước đi thụt lùi”, nếu không nói là khủng hoảng. Ở đó, một trong những yếu tố cơ bản là khán giả đang dần thưa thớt, nếu không nói là “ghẻ lạnh” với loại hình nghệ thuật này. Trong đó, cũng giống với nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống khác, nghệ thuật tuồng đang bị lớp trẻ xa rời do họ đang được tiếp xúc với nhiều loại hình nghệ thuật cũng như nhiều trào lưu văn hóa mới.
Thực tế, đã nhiều lần nghệ thuật tuồng cũng đã được đưa vào giới thiệu ở các học đường nhưng chỉ mới mang tính hình thức... Tuy nhiên, thực tế hiện nay các khán giả ở độ tuổi thanh niên đều không có chút kiến thức cơ bản nào về nghệ thuật tuồng dẫn đến không mặn mà với sân khấu tuồng. Bên cạnh đó mặc dù, trong những năm gần đây, một số nhà hát nghệ thuật truyền thống đã tiến hành phục hồi và cho tiến hành dàn dựng một số trích đoạn tuồng cổ, một số cuộc hội thảo mang tầm quốc gia cũng được tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật sân khấu tuồng. Thế nhưng những cố gắng vẫn chưa đem lại kết quả khả quan. Chưa kể, đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên tuồng ngày càng ít đi. Do không được đảm bảo về chế độ, nhiều nghệ sĩ, diễn viên tuồng dù yêu nghề vẫn phải ngậm ngùi dứt nghiệp để lo cuộc sống mưu sinh. Trong khi đó, đội ngũ nghệ sĩ trẻ lại chưa đáp ứng được nhiều yêu cầu khắt khe khi diễn những vở tuồng khó. Có những đêm diễn tuồng, lượng khán giả ở các rạp chỉ “lay lắt” qua ngày.
Theo NSND Lê Tiến Thọ- Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam cho rằng, các đơn vị nghệ thuật tuồng chủ yếu chạy “sô” biểu diễn trong các lễ hội, nghi thức hành lễ với dàn trống, dâng hương chứ ít có cơ hội biểu diễn một vở trọn vẹn. Bên cạnh đó, diễn viên mải làm nhiều nghề để kiếm thêm thu nhập nên ít để tâm đến nghiệp diễn, vì thế nghệ thuật tuồng ngày càng bị thất truyền. Cùng với đó, theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân dẫn đến tình trạng “khủng hoảng” khán giả ở sân khấu tuồng bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan. Trong đó, yếu tố chủ quan nằm ở chính chất lượng của các vở tuồng. Nhiều vở tuồng mang tính cổ điển, khuôn mẫu của chế độ phong kiến đã không còn phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ hiện nay của khán giả…
Có thể thấy, đánh giá của NSND Lê Tiến Thọ là hoàn toàn có lý do bởi lâu nay hoạt động của Nhà hát Tuồng chủ yếu là chương trình phục vụ lễ hội. Thời gian còn lại, sân khấu tuồng hoạt động rất cầm chừng.
Le lói hy vọng
Mới đây, Hội diễn sân khấu tuồng không chuyên toàn quốc năm 2018 vừa diễn ra tại Bình Ðịnh là một minh chứng cho việc nghệ thuật tuồng không hẳn đang bị “ghẻ lạnh”. Mặc dù là sân chơi của các nghệ sĩ, diễn viên không chuyên, nhưng với sự góp mặt của 15 CLB tham gia đã tạo nên một “ngày hội” cho những người yêu tuồng. Trong suốt thời gian diễn ra hội diễn luôn có khá đông khán giả, cả những nghệ sĩ tuồng chuyên nghiệp, những NSND, NSƯT và nhiều nghệ sĩ trẻ đến thưởng thức và nhiệt tình cổ vũ. Họ đến đây với chung đam mê và với lòng mến yêu, thấu hiểu những thiệt thòi, vất vả đặc trưng của nghệ sĩ tuồng, hơn thế, xem đó cũng là một dịp để học nghề, họ lặng lẽ đồng hành cùng những đồng nghiệp của mình đang cháy hết mình trên sân khấu…
Theo NSND Lê Tiến Thọ: Để cho sức sống của nghệ thuật tuồng thực sự trọn vẹn chúng ta cần kêu gọi các nhà khoa học, các nghệ nhân, nghệ sĩ tâm huyết và cả sự quan tâm của lãnh đạo ban, ngành liên quan cùng chung sức bảo tồn và phát triển nghệ thuật tuồng. Cần tiếp tục đưa nghệ thuật tuồng vào các cơ sở đào tạo phổ thông, duy trì và gây dựng lớp khán giả cho Tuồng, phát triển hoạt động nghệ thuật tuồng không chuyên, chính sách đãi ngộ, đối với nghệ sĩ, diễn viên tuồng; đưa nghệ thuật tuồng cùng các nghệ thuật sân khấu truyền thống khác thành sản phẩm du lịch để tuồng lan tỏa trong đời sống văn hóa của người dân và bạn bè quốc tế.
Ông Phạm Ngọc Tuấn- Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam cho biết: Hàng tuần, tại rạp Hồng Hà, Nhà hát vẫn đều đặn có 2 đêm diễn vào thứ hai và thứ năm để phục vụ khách du lịch, với các trích đoạn tuồng cổ đặc sắc: “Ông già cõng vợ đi xem hội”, “Nhã nhạc cung đình Huế”, múa “Lân mẹ đẻ lân con”, “Hồ Nguyệt Cô hóa cáo”, Nhã nhạc cung đình Huế… Mặc dù chỉ là cho khách nước ngoài, chứ hầu như không có khán giả Việt. Nhưng xem ra cách “chống cháy” này vẫn phần nào động viên được các nghệ sĩ khi có cơ hội được biểu diễn trên sân khấu. Cùng với đó, mới đây Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã bắt tay vào thực hiện đề tài cấp tỉnh số hóa tuồng Huế. Trong đó, thông qua đề tài khoa học “Xây dựng cơ sở dữ liệu cho tuồng Huế” trong 2 năm tới Trung tâm sẽ tiến hành lưu trữ và hệ thống lại toàn bộ những nguồn tài liệu hiện có về tuồng Huế, đồng thời tiếp tục bổ sung những “khoảng trống” còn thiếu, nghiên cứu chuyên sâu hơn về ngôn ngữ, vũ đạo, phục trang, mặt nạ,… nhất là kịch bản.
Có thể thấy, muốn khắc phục những bất cập trên, không có cách nào khác ngoài việc phải đưa việc bảo tồn, phát triển nghệ thuật tuồng, trở thành mục tiêu quốc gia. Song song với đó, cần tiếp tục đưa nghệ thuật tuồng vào các cơ sở đào tạo phổ thông, duy trì và gây dựng lớp khán giả cho tuồng, phát triển hoạt động nghệ thuật tuồng không chuyên…
Theo Minh Quân - ĐĐK
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.