Họa sĩ Trần Lương vừa trở thành một trong hai nghệ sĩ, nhà hoạt động văn hóa nhận được Giải thưởng Lớn giải Hoàng tử Claus 2014 (cùng Abel Rodriguez từ Colombia). “Giải thưởng cho tôi thấy rõ là mình đang làm những công việc bình thường của một công dân bình thường có trách nhiệm” - nghệ sĩ chia sẻ.
Nghệ sĩ Trần Lương: cùng tác phẩm chính là tác phẩm “Con Rồng Tân Thời” triển lãm tại Nhà Sàn Studio năm 1998, ngày khai mạc cũng là ngày khai sinh Nhà Sàn Studio. “Con Rồng Tân Thời” là tác phẩm sắp đặt đa phương tiện.
* Giải thưởng kèm theo nhận xét: “Trần Lương chính là nhân vật chìa khóa cho sự đi lên của phê bình nghệ thuật đương đại ở miền Bắc Việt Nam. Ông sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật truyền thống có tính cách tân, có bề dày kinh nghiệm với một thế hệ họa sĩ mới...”. Còn anh, điều gì đã khiến anh không dừng lại ở vị trí một họa sĩ bên giá vẽ?
- Cụ thể là tôi rời bỏ vai trò duy nhất là họa sĩ, mà thực hành đan xen như một người hoạt động phát triển cộng đồng, nhà tổ chức nghệ thuật và nghệ sĩ. Nghe có vẻ ôm đồm nhưng cái gì cũng có nguyên nhân của nó. Vào khoảng năm 1995, sau một thời gian có cơ hội tự học hỏi về mối liên quan và cấu trúc giữa văn hóa nghệ thuật với xã hội, chính trị và công nghệ, tôi nhận thấy văn hóa nghệ thuật có tác động tương hỗ và quan trọng trong nhận thức tổng quan của mọi tầng lớp, đặc biệt là những người có ảnh hưởng đến vận mệnh xã hội. Vì thế, tôi cảm thấy hoạt động đơn thuần là một nghệ sĩ của mình đã trở nên yếm thế và lạc hậu, bản thân mình không tiếp cận được nhịp phát triển, nhưng lại có phần ích kỷ, hay nói cách khác là thiếu trách nhiệm.
Ở một góc độ hẹp hơn, ngay cả hoạt động nghệ thuật đơn thuần thì ở Việt Nam cũng không có đủ điều kiện cần chứ chưa nói đến đủ, để một người nghệ sĩ có thể phát triển tài năng, hay một người trẻ tuổi trở thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp. Đó là các lỗ hổng như: giáo dục, tài trợ, hành lang pháp lý, phê bình lý luận và nghiên cứu, cơ chế quản lý và nguồn con người.
Trong mối liên quan giữa văn hóa nghệ thuật với xã hội, tôi tự hỏi làm sao để nghệ thuật thoát khỏi vai trò minh họa, vai trò công cụ thuần túy, làm sao vai trò của nghệ sĩ được liên thông với xã hội cả tư tưởng lẫn thực hành. Làm sao để phát triển cân bằng trong hiện trạng nghệ thuật giải trí lấn át còn nghệ thuật hàn lâm thì ngày càng thui chột.
Ở một góc độ khác, làm sao để hoạt động nghệ thuật của nghệ sĩ có chất lượng, khi cái gọi là cộng đồng nghệ thuật thiếu vắng vai trò quan trọng của hầu hết các chuyên gia như phê bình lý luận, nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, người xin tài trợ; nhà tổ chức, điều hành, giám đốc nghệ thuật, kỹ sư âm thanh ánh sáng, luật sư bảo vệ quyền lợi cho nghệ sĩ, nhà môi giới nghệ thuật, hệ thống sưu tập và bảo tàng…
* Khi đã thấy rõ những vấn đề tồn tại của nghệ thuật Việt Nam như vậy, trên thực tế ông đã làm và còn chưa làm được gì cho nghệ thuật nước nhà?
- Làm được gì ư? Nói làm được gì thì thật vô cùng, nghĩ đến việc muốn làm và thay đổi được cái gì đó lại thấy bất nhẫn. Từ rất lâu, tôi có tôn chỉ và xác định rõ ràng cho công việc của mình là hãy làm dần từng xăng-ti-mét. Tôi tin vào sự “có thể” khi bắt đầu bằng một việc nhỏ và liên tục đắp thêm từng mẩu nhỏ một. Nói thế để có niềm tin, chứ thất bại là chuyện thường, nhưng khi mất một hoặc nhiều mẩu nhỏ, chắc lại có thể ngồi dậy được…
Mặt khác tôi không đặt ra một kế hoạch duy ý chí về việc muốn làm những gì cho nghệ thuật phát triển. Mà kế hoạch và động lực của tôi dựa trên thực tế địa phương cụ thể. Nếu kể ra cái cần làm, cần thay đổi và ôm đồm thì sẽ ngất luôn: Vì đó là toàn bộ hạ tầng cơ sở cho nghệ thuật, trong đó giáo dục, cơ chế quản lý và hành lang pháp lý là quan trọng nhất.
* Để thực hiện được những vấn đề như ông nói cần có thời gian dài và nỗ lực tâm sức rất lớn không chỉ cá nhân mà còn cần sức mạnh cộng đồng. Tuy nhiên so với trước năm 2008, bản thân ông mặc dù vẫn tham gia những hoạt động nghệ thuật cộng đồng nhưng nhìn chung các sự kiện ấy chìm vào trầm lặng. Điều này có phản ánh nghệ thuật đương đại Việt Nam từng có trong thời kỳ “ngủ đông”?
- Cá nhân hay nhà nước là quan niệm lỗi thời rồi. Các hoạt động phát triển xã hội trên thế giới hầu hết được thực hiện bởi tư nhân. Nhà nước chỉ lo về chính sách, ngân sách và tư vấn hỗ trợ. Nếu nhà nước cái gì cũng “sờ” vào, kiểm soát chi tiết thì công việc chỉ còn hình thức mà không có hiệu quả.
Sự trầm lặng của hoạt động nghệ thuật mà chị nói chỉ là hình thức. Những thực hành của tôi có thay đổi theo hướng dự án lâu dài, đa phương tiện, tương tác kết hợp với nghiên cứu. Vì thế bề ngoài thấy có vẻ bình lặng hơn, nhưng thực tế nó luôn dịch chuyển với không gian mới, người tương tác mới, ngữ cảnh mới… Cũng tương tự với các dự án phát triển cộng đồng: cũng dài hơi, có tính nghiên cứu và không quá coi trọng quảng bá hoặc trưng bày.
* Không còn nhiều hoạt động quảng bá hay triển lãm tác phẩm, không còn nhiều đất để làm nghệ thuật đương đại và thiếu hẳn sự hỗ trợ về tinh thần/vật chất từ các tổ chức, quỹ văn hóa trong và ngoài nước, nghệ sĩ trẻ từng có thời gian được ông dìu dắt đã trải qua cuộc sống cũng như hoạt động nghệ thuật thế nào?
- Đây là điều đáng buồn, một thực tế trần trụi. Có một số nghệ sĩ trong hai thế hệ sau tôi đã gần như rời bỏ nghệ thuật thực nghiệm. Cái cách bỏ thì rất khác nhau: Bỏ vì hoàn cảnh kinh tế. Bỏ vì cạn kiệt năng lượng do nền tảng đào tạo quá hạn hẹp. Bỏ vì làm một lúc hai thứ nghệ thuật, một cho thị trường và một cho sự nghiệp, cuối cùng thì thị trường bóp nghẹt hàn lâm.
Còn cái thời dùng từ “các quỹ” đã là quá khứ. Trước đã ít quỹ, giờ còn ít hơn. Tài trợ phi lợi nhuận thật sự chỉ có một quỹ còn hoạt động. Các tài trợ lẻ tẻ từ các đại sứ và trung tâm văn hóa nước ngoài rất ít và phải “có điều kiện”. Với nghệ thuật đương đại Việt Nam, đời sống của nó chưa bao giờ được thuận lợi.
* Xin cảm ơn những chia sẻ của ông.
Giải thưởng Hoàng tử Claus được trao thường niên cho các tổ chức và cá nhân ở châu Phi, châu Á, Mỹ Latinh và vùng Caribean vì những thành tích xuất sắc của họ trong lĩnh vực văn hóa và phát triển. Các hạng mục giải thưởng bao gồm giải thưởng lớn Principal Prince Claus trị giá 100.000 euro và 10 giải Prince Claus trị giá 25.000 euro/giải. |
Nguồn: Việt Quỳnh - TT&VH
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.