Đường phố lòng tôi

15:02 18/03/2008
NGUYỄN BẢNTôi nhổ vào hai lọ crem Tokalon trắng và hồng, loại crem Pháp đắt tiền đang dùng dở của bà, rồi vảy nước bọt đi cho mất dấu.

Minh họa: Ngô Lan Hương

Tôi không biết hàng ngày bà còn dùng nó hay không, nhưng mỗi khi sáng dậy, bà dậy muộn, mặt xị xuống, tóc rối bù, và cha tôi lại tới gần, nhìn kỹ vào mi mắt bà, lo lắng bảo:

- Mắt dì lại bị nặng rồi.

Lúc đó tôi lại tự nhủ thầm: "Mai ta lại nhổ và còn nhổ".

Tôi ghét bà, thực sự ghét bà.Tất nhiên, trước hết tại những chuyện dì ghẻ con chồng trong dân gian, trong thực tế đã chồng lên nhau những thành kiến nặng nề trong lòng tôi. Kỷ niệm ngày cha tôi cưới bà luôn sống lại trong tôi. Ngày đó tôi mới tám tuổi, đang học préparatoire (lớp 2 bây giờ), cả hai chân bị hạc tất (thấp khớp cấp), hai đầu gối sưng to, không đi được, phải bò lê, phải nghỉ học, và tôi đã bò lê tới ôm chặt lấy chân cha tôi khóc nức nở, khi mọi người giục cha tôi ra làm lễ tơ hồng. Tôi khóc theo bản năng, một bản năng mơ hồ tôi đang mất nốt cha. Nhưng không phải như thế. Cha tôi còn thương yêu, chăm sóc, bảo vệ tôi hơn, bảo vệ cả những niềm vui nhỏ của tôi. Bà chặt cần câu của tôi, cha tôi cho tôi tiền mua cần câu khác, dây câu khác, gián tiếp nhắc nhở bà phải tôn trọng những niềm vui nhỏ của tôi. Bà phàn nàn: "Tối nó chỉ đi chơi, chẳng chịu học hành gì cả". Cha tôi bảo:"Trẻ con phải có bạn, miễn là nó vẫn được điểm tốt". Và đúng là như thế, tôi học nhàn hạ và chưa hề bị điểm xấu về bất cứ môn gì.

Một lần, ngày mồng năm thang năm thì phải, bữa ăn, tôi với đũa sang đĩa thịt gà phía đối diện, gắp miếng tôi thích, bà mắng luôn:

- Đĩa trước mặt không gắp, lại với đũa sang đĩa khác, như thế là mất nết.

Nhìn nét mặt tủi hổ của tôi, cha tôi động lòng thương:

- Trẻ con, nó thích ăn miếng nào kệ nó.

Bà vùng vằng quật đũa xuống mâm:

- Không lần nào ông không chặn họng cả, tôi dạy nó, chứ tôi ức hiếp gì nó.

Cha tôi nghiêm mặt lại:

- Muốn dạy, để sau bữa ăn hãy dạy, lúc đang ăn, phải được vui vẻ.

Thế là bà quăng luôn bát cơm, hầm hầm chạy vào nhà khách, bà khóc và đập, đập hết những lọ hoa, bát đĩa, ấm chén, cốc tách Pháp, Nhật, Tàu, những thứ bà đem về khi lấy cha tôi, của hồi môn của bà, vốn liếng hàng đồ sứ của bà, bà chọn ra đập, bớt lại những thứ của cha tôi, đập bằng hết đồ của bà và được một sề đầy mảnh vỡ. Rồi bà đắp chăn mà khóc,nhịn ăn mà khóc. Cả ba người, bà, cha tôi và tôi hình như đều ân hận đều cảm thấy hình như mình phần nào có lỗi. Tất nhiên bà là người ân hận nhất, vì bà vốn đã không có quyền hành gì về kinh tế, từ nay lại càng không vì bà chỉ mang về có thế, nay lại đập vỡ hết cả rồi. Bà vốn trước là vợ một viên chức khí tượng, lương cao, nhà chồng giàu, chỉ quen việc nội trợ từ khi chồng mất mới mở hàng đồ sứ. Thời niên thiếu, bà là con một gia đình giàu có, là một trong những nữ sinh đầu tiên của trường tiểu học Hàng Cót, gia đình có tới năm ngôi nhà ở Hà Nội, có cả biệt thư ở Sa-Pa, nhưng ông bố đam mê, đã phá tán tất cả để làm ông bầu cho một đoàn tuồng cổ. Cha tôi cũng đã từng làm thư ký rồi bỏ đi buôn, thuộc hạng trung lưu, hồi nhỏ cũng chịu cảnh dì ghẻ con chồng, chắc rất hiểu những đứa con mất mẹ, nên nắm chặt quyền quản lý kinh tế gia đình, chắc ông nghĩ đó là cách bảo vệ con riêng của mình tốt nhất. Sau việc ấy, cha tôi chẳng những không giận bà, còn an ủi khuyên giải bà. Gia đình lại trở nên êm thấm. Nhưng từ đó cả vú em, người ở trong nhà hình như hơi lên mặt với bà. Có kẻ còn như làm chỉ điểm cho người bác, chị ruột cha tôi theo dõi bà. Bác tôi hễ cứ gặp tôi là soi mói, chì chiết bà. Tôi cãi, không phải để bênh vực bà mà vì không chịu nổi sự đặt điều ác ý. Bác tôi quát:

- Mày có biết đằng mù. Tuy tao không ở cùng nhà, nhưng cái gì tao cũng biết hết.

Em trai tôi, đứa em nhỏ mà bà sinh hạ được với cha tôi ốm quặt quẹo. Nó biếng ăn. Cháo bầu dục nó cũng không ăn. Có người mách, nếu có đứa trẻ khác ăn hộ sẽ chóng khỏi, nếu cho chó sẽ lâu thậm chí không khỏi bệnh. Bà bảo em gái tôi ăn hộ. Nó không ăn. Nó cho như thế là ăn thừa. Bà cáu:

- Cháo bầu dục không ăn, muốn ăn gì nữa.

Em tôi cãi:

- Ngon sao dì không ăn.

- Nứt mắt đã sĩ diện, có lúc rã họng ra.

Nó cãi tiếp:

- Tôi ăn của bố tôi, đâu ăn của dì.

- A, con này láo.

Bà xông vào đánh nó. Tôi đứng đó, chứng kiến từ đầu, thấy uất cho em tôi, liều xông vào vật lộn với bà, vừa thở vừa lắp bắp: "Ác độc... vũ phu!"

Tôi bị bà cào cấu xước mặt. Vú em vào can, bà mới thôi. Cũng may cha tôi đi Hải Phòng vắng, không biết chuyện. Bà không dám mách. Tôi cũng không dám mách. Vú em cũng vậy. Nhưng bác tôi biết ngay. Bác tôi bĩu môi:

- Trông mặt mũi đẹp nhỉ. Chả bênh dì nữa đi!

Rồi tôi cũng ốm. Năm năm sau, bệnh hạc tất lại tái phát. Lúc ấy tôi đang học lớp nhì năm thứ hai. Thầy thuốc bảo: sưng to mà nóng như vậy là dương hạc, phải uống thêm sâm. Cha tôi mua sâm cho tôi uống. Bà lồng lộn:

- Con lớn ốm thì uống sâm, con nhỏ ốm thì mặc xác.

Cha tôi như bị một nhát dao đâm vào tim. Ông quý nó hơn tôi, vì nó còn nhỏ, người ta dễ quý con nhỏ hơn con lớn, hơn nữa ông hợp nó hơn tôi vì thầy tử vi bảo: Số tôi có Xương, Khúc cư quan lộc, học giỏi, nhưng số nó có Khôi, Việt còn đẹp hơn, còn học giỏi hơn. Cha tôi đau đớn phân giải với bà:

- Bệnh dương tính mới uống được sâm, bệnh âm tính uống sâm để chết à, được, mai cả hai đứa cùng uống.

Nhưng bà không dám. Lúc đó bà mới vỡ lẽ. Mà bà thừa biết cha tôi không thiên vị con nào, mặc dầu có phần xung khắc với tôi.

Tuy vậy giữa tôi và bà vẫn luôn sinh chuyện. Con chó cái đẻ được ba con. Nhà giữ lại một con nuôi. Tôi cũng đòi giữ con mập mạp nhất riêng cho mình. Tôi thèm được bầu bạn, dù với con chó. Nhà tuy phong lưu, nhưng tôi thèm cảnh ấm áp gia đình những đứa bạn nghèo còn đủ cả cha lẫn mẹ. Vì vậy tôi cưng chiều nó. Nó quấn quít tôi. Đêm, có khi một hai giờ sáng, tự nhiên bừng tỉnh dậy, tôi ra sân chơi đùa với nó, dưới bầu trời đầy sao, cho tới sáng. Đôi khi nó theo tôi đi học, tôi phải đuổi nó về. Tôi yêu quý nó. Còn bà càng ghét nó. Bà mách cha tôi:

- Nó cho chó của nó ăn cả giò đấy.

- Để phần nó, nó không ăn, nó cho, kệ xác nó.

Phải, đó là thức ăn để phần tôi khi tôi đi học về, ăn ít ăn nhiều mặc xác tôi. Nhưng gai mắt bà. Bà tìm cớ để đánh nó. Nó cắn hóng, nó ỉa bếp. Tôi vặn:

- Nhỡ con kia ỉa thì sao?

- Tao rình bắt quả tang mới đánh.

Bà đánh nó một cách phũ phàng. Tôi cảm thấy như chính mình bị đánh. Tôi căm ghét bà, một sự căm ghét hồn nhiên trong trắng. Thật vậy, tuy căm ghét, nhưng không ít lần tôi vẫn bênh vực bà, mỗi khi bác tôi nghe vú em, người ở ton hót đặt điều nói xấu bà. Những khi ấy bác tôi thường bĩu môi nói mỉa: "Gớm, dạo này quý dì gớm nhỉ!". Thật ra, cũng có lúc bà tỏ ra tình cảm với tôi: "Cháy hôm nay ngon lắm!", bà gắp mấy con tôm to bỏ vào giữa miếng cháy vàng ươm đưa cho tôi. Thỉnh thoảng bà hỏi mượn tôi truyện. Thì bà còn biết làm gì hơn nữa ngoài việc ra chợ mua thức ăn và đọc truyện. Tôi mê truyện, mượn về rất nhiều. "Vợ ba Đề Thám", "Lá huyết thư", "Con voi già của vua Hàm Nghi", "Ngoại ô", "Ngõ hẻm"... Và một cuốn tôi quên mất tên truyện nhưng nói về cô Giang. Xem xong, bà bảo tôi:

- Dì biết cô Giang đấy.

- Sao dì biết?

- Cô ấy xuống nhà chơi mấy lần. Hình như là liên lạc giữa ông Học và bố con Ninh.


Bố con Ninh là chồng trước của bà. Tên ông là Nguyễn Trọng Thịnh. Ông cũng là người làng tôi nhưng từ nhỏ đã sống với bố mẹ buôn bán ở thị xã Ninh Bình, học hành ở đấy. Rồi ông sang học Collège Nam Định, sau khi đậu bằng thành chung đi học khí tượng, trở thành một trong mười mấy nhân viên khí tượng đầu tiên ở Đông Dương, và về làm việc tại đài thiên văn Phủ Liễn. Từ bữa đó tôi hay nghe bà kể chuyện về ông, đôi khi còn hỏi thêm điều này, điều khác. Tôi như được tiếp xúc thêm một nhân vật nối tiếp thêm vào chuyện cô Giang. Hình như chuyện cô Giang có thêm ông mới đầy đủ. Bà kể cho tôi nghe với một giọng tiếc thương. Bà kể những chuyện nho nhỏ về tính tình nho nhã và hào phóng của ông. Bà kể ông hay đi vắng, hay về làng, dạy thêm tiếng Pháp cho những thanh niên xấp xỉ tuổi ông, cho họ quần áo, đôi khi cho cả họ tiền. Bà nói sau khi nổ ra khởi nghĩa Yên Bái, mật thám sục đến nhà vì ông đã bỏ trốn, bà mới biết ông hoạt động, ông đi vắng là đi hoạt động, ông hay về làng là để tuyên truyền chống Pháp, cô Giang đến là để liên lạc với ông. Mấy ngày sau khởi nghĩa Yên Bái ông bị bắt ở Vinh. Một tháng sau, gia đình được thông báo, ông đã tự tử trong nhà lao Vinh, trước cả ngày ông Học cùng các đồng chí của mình lên máy chém. Bà vào Vinh, người ta chỉ cho bà một nấm mộ còn chưa mọc cỏ. Bà hỏi thăm những người gác tù. Có người thì thầm vào tai bà: "Bị tra tấn chết, không phải tự tử, không tự tử nổi trong nhà tù đâu". Cũng có người khẳng định ông tự tử, ông cắn lưỡi tự tử chứ không chịu khai báo gì. Có người lại bảo, ông ấy vượt ngục, xác tù khác đấy. Bà trở về với một niềm hy vọng mong manh chồng mình vượt ngục. Bà chờ đợi chín năm, không thấy tăm hơi, tin tức gì. Ông ấy chết thật rồi. Mùa thu năm 1939, bà lấy cha tôi. Ông ấy chết, khi bà đang mang thai chị Ninh. Bà lấy cha tôi, để chị Ninh lại sống với ông nội ở thị xã Ninh Bình.

Tôi ngẩn ngơ nghe bà kể, ngày này sang ngày khác. Quan hệ giữa tôi và bà trở nên êm thấm. Tôi bỗng thấy thương bà. Một cảm giác mơ hồ, dấy lên ở trong tôi: Nếu ông Thịnh còn sống, nếu bà còn được sống với ông, chắc chắn bà sẽ hạnh phúc hơn sống với cha tôi. Vì ông học cao hơn cha tôi, cha tôi chỉ đậu certificat (tiểu học) rồi đi làm thư ký, ông nho nhã và chắc chắn ông yêu nước hơn cha tôi, dũng cảm hơn cha tôi, mặc dầu cha tôi cũng là một người cách tân và yêu nước. Nhờ cha tôi, mà ngay thời niên thiếu, tôi đã biết về Nguyễn An Ninh, Phạm Hồng Thái và nhất là Phan Bội Châu. "Dậy, dậy, dậy, một tiếng gà vừa gáy... Thẹn cùng sông, hổ cùng núi, tủi cùng trăng... Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân."Giọng cha tôi rung lên, xúc động, chứa chất, kìm nén bao nỗi niềm, khi đọc cho tôi nghe những câu thơ đó. Tôi thuộc bài thơ đó từ năm 1943, lúc tôi mới mười hai tuổi. Mỗi lần tôi ngủ muộn, cha tôi đánh thức tôi, ông lại nói:"dậy, dậy, dậy..., nhật tân nhật nhật tân."Nhờ cha tôi mà tôi thích đọc chuyện Đề Thám, chuyện cô Giang và nghe chuyện bà kể về ông Thịnh. Nhờ ông Thịnh mà tôi thôi căm ghét bà, mà không khí trở nên hòa dịu trong gia đình tôi. Ông Thịnh trở thành nỗi ám ảnh trong tôi. Ông vượt ngục hay đã chết. Ông bị tra tấn chết hay tự tử. Ông giữ vai trò gì trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Nếu khởi nghĩa Yên Bái đứng vững trong một thời gian, liệu có khởi nghĩa tiếp ở đâu nữa không. Cô Giang trốn vào Nam, ông trốn vào Vinh, có cơ sở nào ở Trung Kỳ, Nam Kỳ của phòng trào đó không.

Tháng ba năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, mấy người đến chơi hỏi bà: "Nghe nói ông ấy trốn sang Nhật, theo phái ông Cường Để, bây giờ kéo quân về rồi, nếu ông ấy về thật, bà tính thế nào". Bà lặng im một lúc rồi nói: "Thế nào chẳng được, ai muốn thế này đâu". Tôi đứng nghe cũng cảm thấy hoang mang, một cảm giác hỗn độn vừa vui vừa lo lắng, vui vì ông ấy còn sống, vì vẫn thầm tiếc cho con người ấy, lo vì sẽ khó cho bà, khó cho cả cha tôi. Nhưng ông ấy không về, không có chuyện ấy. Ông ấy đã chết, chết thật rồi.

Ông đã ảnh hưởng đến tôi. Tất nhiên, còn do nhiều ảnh hưởng khác, ảnh hưởng của câu thơ "thẹn cùng sông, tủi cùng núi, hổ cùng trăng"... mà tháng 7 năm 1945 lúc tôi vừa tròn mười bốn tuổi, không ai gọi, chẳng ai xui, tôi đã không đắn đo mang theo con dao Thổ, có chạm hoa văn hai bên lưỡi của cha tôi, hăng hái nhập vào đoàn biểu tình vũ trang do Việt Minh tổ chức và lãnh đạo, kéo sang chống Nhật thu thóc ở làng bên, làng Phù Ninh tức Ninh Hiệp ngoại thành Hà Nội ngày nay. Và việc đó đã trở thành một niềm vui nho nhỏ suốt đời tôi.

Đầu năm 1950, khi đang công tác ở cơ quan Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc ở rừng Cao Vân, tôi nhận được thư của chị Ninh. Chị cho biết ông nội chị đã mất, chị và bà nội đang tản cư ở Nho Quan. Chị Ninh cũng đã mất hơn chục năm nay, lúc chị năm nhăm tuổi. Năm ngoái, tôi về làng chơi, giữa đường gặp thằng con lớn của chị. Nó là thượng úy hải quân, sau khi mẹ mất, gia đình neo đơn, nhân lúc giảm biên chế, nó xin về một cục. Nó mời tôi lên nhà nó chơi. Tôi hỏi đời sống thế nào. Nó bảo tạm đủ ăn, nhưng vất vả. Tôi cười:

-Giá cháu không xin về, bây giờ có khi trung tá rồi, lúc về đảng viên chưa?

- Rồi chứ ạ, cháu không về, ít nhất cũng trung tá, hơn chục năm rồi còn gì.

Ngẫm nghĩ một lúc tôi bảo nó:

- Cả nước đang đền ơn đáp nghĩa liệt sĩ anh hùng, người có công với nước. Bác cũng vừa được truy lĩnh hai triệu, cháu có nghĩ gì về ông cháu không?

Nó ngớ người nhìn tôi:

- Ông nào hở bác, ông nội hay ông ngoại, hay ông nhà mình.

Nó vẫn coi cha tôi là ông ngoại.

Tôi lắc đầu:

- Ông Thịnh kia, ông ngoại chính thức của cháu ấy. Mà sao lại ông nôi hay ông ngoại. Ông nội hay ông ngoại thì cũng để lại hoàn toàn bằng nhau một phần tử gien di truyền trong đứa cháu. Nhưng thôi không khéo bác sẽ lan man mất. Bác đang nói về ông Thịnh của cháu kia mà.

Quả thật nó không biết gì về ông Thịnh. Nó chỉ biết bà tức dì tôi. Nó quý cha tôi như ông ngoại thật của nó. Mẹ nó, chị Ninh chắc chẳng nói gì với nó về cha mình. Có thể chị cũng chẳng biết gì nhiều. Có thể dì tôi không nói gì về chuyện này với chị, vả chăng, khi chị lớn lên, có thể hiểu biết, thì mẹ chị đã lấy cha tôi mất rồi, đã mẹ con mỗi người một nơi, mỗi người một cuộc sống. Cũng chẳng thể trách chị, khi ông chết, chị mới chỉ là một bào thai. Lớn lên, mẹ đi lấy chồng, rồi kháng chiến bùng nổ, tản cư, ông nội bà nội chết, bơ vơ một mình, lại trở về làng, lúc đã lỡ tuổi, đành lấy một anh thợ cắt tóc, rồi sinh con, nuôi con ăn học trong những năm thiếu thốn và gian khổ, có thể nghĩ gì ngoài những ý nghĩ vô cùng thực tế để tồn tại và mưu sinh.

Tôi nén những xúc động vô cớ và bảo nó:

- Ông Thịnh cháu là một liệt sĩ đấy.

Và tôi kể cho nó nghe về ông Thịnh. Nghe xong nó ngơ ngác hỏi tôi:

- Cháu phải làm gì hở bác?

- Chẳng làm gì cả. Thỉnh thoảng nghĩ về ông cháu. Nói cho các con cháu nghe về ông cháu. Linh hồn, xương cốt ông cháu đã hòa vào khí thiêng sông núi nước non rồi.

Tôi trả lời nó như thế. Làm gì? Nó ư? Tôi ư?. Những người biết về ông hầu hết đã mất, đã già, hoặc đã quên ông. Không, ông đã và mãi mãi là liệt sĩ vô danh. Tôi chợt nghĩ tới Lão Tử. Cái vô danh là khởi thủy của hữu danh. Cái hữu danh là phần thể hiện hạn chế của vô danh. Cái hữu danh là hữu hạn. Cái vô danh là vô hạn. Hồn thiêng sông núi là cái vô danh là vô hạn.

Tuy nhiên, về Hà Nội, đôi khi đi qua các đường phố Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, tôi lại nhớ đến ông, một lần vào Đà Lạt, đến thăm một người quen ở đường Cô Giang, một đường phố nhỏ, xa trung tâm, hơi heo hút, tôi càng nhớ đến ông. Tôi chợt hiểu ra trong những đường phố ngổn ngang trong lòng tôi, có một con đường nhỏ mang tên ông, tuổi thiếu niên tôi đã đi qua con đường ấy, để tham gia biểu tình chống Nhật, tuổi thanh niên, tôi cũng đi qua đường ấy lên núi rừng Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp.

Tuy vô danh, nhưng ông là có thật, thật như cô Giang, người nhiều lần đến liên lạc với ông. Ông là Nguyễn Trọng Thịnh, nhân viên đài thiên văn Phủ Liễn, là một đồng chí của ông Nguyễn Thái Học, bị bắt ở Vinh và chết trong nhà lao Vinh. Cũng như ông, mọi chuyện tôi viết ra đây đều có thật, thật như bà dì tôi chính là chị ruột của đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân Trần Hoạt. Nhưng ông Hoạt cũng đã mất khoảng hai chục năm rồi.

Cuối tháng 10-98
      N.B
(119/01-99)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.

  • MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.

  • ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.