ALBERTO MORAVIA
Ảnh: internet
Lời người dịch: |
Khi người phụ nữ ở Sở Cứu tế thành phố Rome mang tiền cứu trợ đến cho chúng tôi, bà hỏi tại sao chúng tôi lại đẻ nhiều đến thế, và vợ tôi, hôm đó đang cáu gắt, nói huỵch toẹt: “Nếu chúng tôi có tiền, tối tối chúng tôi sẽ đi xem phim… vì không có nên chúng tôi chỉ việc đi ngủ và cứ thế những đứa con ra đời.” Nghe vậy bà ta tỏ vẻ bất bình và bỏ đi không nói một lời. Tôi trách vợ tôi bởi sự thật không phải bao giờ cũng nên nói ra, và cũng phải biết mình đang nói với ai nữa chứ.
Hồi còn trẻ, chưa lập gia đình, tôi thường giải trí bằng cách đọc tin tức trong báo chí Rome, thường đầy rẫy chuyện kể về những bất hạnh xảy đến cho nhiều người: trộm cắp, giết người, tự tử, tai nạn giao thông... Trong số những chuyện đó, duy nhất một điều tôi nghĩ là sẽ không xảy đến cho mình, đấy là trở thành cái mà báo chí gọi là “một trường hợp thương tâm”, tức là hoàn cảnh một người gợi lên lòng thương hại không vì một sự bất hạnh nào đặc biệt, mà chỉ vì lý do là đang hiện hữu. Như vừa nói, tôi còn trẻ, và tôi không hình dung ra việc nuôi nấng một gia đình đông đúc ra làm sao cả. Nhưng giờ này đây, tôi kinh hoàng nhận ra rằng dần dần mình đang trở thành một trong những “trường hợp thương tâm” đó. Dạo đó, tôi đọc thấy, chẳng hạn: “Họ sống trong cùng cực đói khổ…”. Vậy mà, bây giờ đây, tôi cũng đang sống trong cùng cực đói khổ. Hoặc là: “Họ ở trong cái nhà thực ra chỉ có tên gọi là nhà.” Và, bây giờ tôi đang sống ở Tormarancio, cùng vợ và sáu đứa con, trong một căn phòng chỉ bằng diện tích một tấm nệm, và, mỗi khi trời mưa, nước đổ xuống như trên bến sông Ripetto. Tôi còn đọc thấy: “Khi người phụ nữ khốn khổ biết mình đã có thai, bà ta đã quyết định một việc tội lỗi là hủy diệt kết quả của tình yêu của mình.” Vậy mà cái quyết định đó, vợ chồng tôi cũng đồng lòng khi khám phá ra rằng vợ tôi đang mang thai đứa con thứ bảy. Tóm lại, vợ chồng tôi quyết định là, ngay khi thời tiết thuận lợi, chúng tôi sẽ mang bỏ đứa bé trong một nhà thờ, trông chờ lòng từ thiện của người nào đầu tiên bắt gặp nó.
Cũng nhờ sự giúp đỡ của những phụ nữ tốt bụng ở Sở Cứu tế, vợ tôi đi sinh ở bệnh viện, và ngay khi mới khỏe trở lại, bà mang con về Tormarancio. Vừa mới tới căn phòng của chúng tôi, bà nói ngay: “Tuy bệnh viện vẫn chỉ là bệnh viện, tui vẫn thích ở lại đó hơn là về lại chỗ này.” Sau câu nói đó, đứa bé chừng như nghe hiểu khóc ré lên nhức nhối đến thủng màng nhĩ. Thằng nhóc sáng sủa, khỏe mạnh và tốt giọng đến nỗi đêm đêm thức giấc khóc thét lên là không ai ngủ được.
Đến tháng năm, thời tiết bắt đầu ấm, có thể ra ngoài không cần áo khoác, chúng tôi rời Tormarancio để đi Rome. Vợ tôi ôm chặt đứa bé vào lòng, quấn đầy quần áo nhàu nát như thể sẽ đem bỏ nó giữa cánh đồng tuyết; khi ra đến thành phố, để khỏi để lộ sự đau lòng, bà nói luôn miệng, hổn hển, đứt hơi, tóc bay rối, mắt trợn ngược. Khi thì bà nói đến những ngôi nhà thờ, nơi chúng tôi có thể đến bỏ đứa bé, bà giải thích rằng đấy phải là nhà thờ nào mà những người giàu có thường hay lui tới, bởi nếu những người nghèo nhặt đứa bé thì thà cứ giữ nó còn hơn; khi thì bà bảo tôi phải tìm được nhà thờ cống hiến cho nữ Thánh Madone, bởi Thánh Madone cũng có đứa con trai và như thế có thể thông cảm mọi chuyện mà chấp thuận ý nguyện của bà. Sự liến thoắng này khiến tôi mỏi mệt và bị kích động, hơn nữa tôi cũng chẳng hãnh diện gì, chẳng thích việc mình đang làm; nhưng tôi cứ tự nhủ là phải giữ cái đầu lạnh, phải tỏ ra bình tĩnh và giúp vợ can đảm.
Tôi đưa ra vài ý kiến bác bỏ, chủ yếu là để ngắt bớt những lời lẽ huyên thuyên kia: “Tui có ý này… hay là mình đem bỏ nó ở nhà thờ Thánh Pierre?” Bà hơi do dự một lát rồi nói: “Cái nhà thờ đó như là một trụ sở quân sự… có thể chẳng ai trông thấy nó… không, tôi phải thử đến nhà thờ nhỏ ở đường Condotti, chỗ đó có nhiều cửa tiệm đẹp đẽ… nhiều người giàu có thường đến đó… đấy mới là địa điểm tốt…”.
![]() |
Minh họa: Nguyễn Duy Linh |
Chúng tôi lên xe buýt và, ngồi giữa đám hành khách, vợ tôi lặng thinh. Thỉnh thoảng bà lại quấn đứa bé trong chăn chặt hơn, hoặc cẩn thận hé mặt nó ra nhìn. Thằng bé đang ngủ, khuôn mặt trắng hồng vùi trong đống tã lót. Quần áo nó cũng tồi tàn như chúng tôi vậy, chỉ có vẻ tươm tất với đôi găng tay màu xanh nhạt, hai bàn tay xinh xắn thò ra ngoài như thể muốn khoe. Chúng tôi xuống xe ở đại lộ Goldoni, vợ tôi lại tiếp tục dài dòng nhiều chuyện. Bà dừng chân trước một tiệm kim hoàn và chỉ tôi xem những món nữ trang bày trong tủ, trên tấm nhung đỏ và nói: “Ông nhìn mấy món đẹp quá đây này… người ta đến khu này chỉ để mua nữ trang và các thứ đẹp đẽ… người nghèo như chúng ta không ai mạo hiểm tới đây…, họ khi thì đi giữa cửa tiệm này và cửa tiệm khác, khi lại đi vào nhà thờ cầu nguyện một lát… họ đầy thiện tâm… có người sẽ nhìn thấy đứa bé và ẵm nó đi.” Bà nói như thế trong khi vẫn ngắm nghía mấy món nữ trang, ôm đứa bé vào lòng, mày nhíu lại, như thể đang nói với chính mình, còn tôi không dám nói gì ngược lại. Chúng tôi vào bên trong nhà thờ: nó nhỏ xíu, tường lát đá hoa giả màu vàng, ngoài bàn thờ lớn còn có nhiều nhà nguyện. Vợ tôi tuyên bố ngay là hình ảnh bà nhớ về nó khác hẳn, giờ nhìn lại bà chẳng hài lòng chút nào. Tuy thế bà cũng nhúng tay vào nước phép và làm dấu thánh giá. Sau đó, tay ôm con, vợ tôi chậm rãi đi vòng quanh nhà thờ, săm soi với vẻ bất bình và nghi ngờ. Từ vòm nóc, xuyên qua những lớp kính màu, một luồng ánh sáng lạnh lẽo mà sống động đổ xuống; vợ tôi đi từ nhà nguyện này đến nhà nguyện khác, kiểm tra mọi thứ, ghế ngồi, bàn thờ, tranh ảnh, xem thử có thể bỏ đứa bé lại không; còn tôi thì nhìn theo bà từ xa và không hề rời mắt khỏi cánh cửa ra vào. Chúng tôi nhìn thấy có một cô gái cao lớn đi vào, cô ăn mặc toàn màu đỏ, tóc vàng óng. Lúng túng trong chiếc áo chật bó, cô quỳ xuống và sau vài giây cầu nguyện, cô làm dấu và bỏ đi ra, không thèm nhìn chúng tôi. Vợ tôi theo dõi cảnh này và nói ngay: “Không, không thể được… những người vào đây cũng như cô gái hồi nãy thôi, cứ vội vàng bỏ đi vui vẻ, rong chơi nơi mấy cửa tiệm…, chúng ta đi thôi.” Miệng nói, chân bà bước ra khỏi nhà thờ.
Chúng tôi đi ngược một đoạn ở khu Corso, chân rảo bước, vợ tôi đi trước, tôi theo sau, và gần đến quảng trường Venise, chúng tôi đi vào một nhà thờ khác. Nó lớn hơn nhà thờ kia nhiều, một phần chìm trong bóng râm, đầy màn trướng, đồ mạ vàng và hòm thánh tích đựng những quả tim bằng bạc lấp lánh trong bóng tối. Có rất đông người và chỉ nhìn thoáng qua tôi nhận thấy rằng những người này thuộc tầng lớp khá giả, phụ nữ đội nón, đàn ông ăn mặc chỉnh tề. Một vị linh mục đang giảng đạo, hai tay vung lên trên bục giảng; mọi người đứng chăm chú nhìn ông và tôi cho rằng điều này rất tốt vì không ai để ý đến chúng tôi… “Mình thử bỏ đứa bé lại đây?”, tôi nói nhỏ vào tai vợ; bà ra dấu đồng ý. Chúng tôi tiến tới nhà nguyện bên cạnh, chỗ tối; không có ai cả và có thể nói là không thấy gì ở đây. Vợ tôi kéo một góc chăn bọc đứa bé che kín mặt nó lại và đặt nó trên một chiếc ghế làm như đặt một gói đồ cồng kềnh cho rảnh tay. Rồi bà quỳ xuống và cầu nguyện khá lâu, tay ôm lấy mặt, trong khi đó, chẳng biết làm gì, tôi đưa mắt nhìn hàng trăm quả tim bạc lớn nhỏ đủ cỡ đính trên tường. Cuối cùng, vợ tôi đứng dậy, vẻ căng thẳng, làm dấu và từ từ rời khỏi nhà nguyện, tôi theo sau cách một quãng. Ngay lúc này vị linh mục la lớn: “Và Chúa Giê-su nói: Pierre, con đi đâu?” tôi rùng mình, có cảm giác như ông đang nói với tôi. Nhưng khi vợ tôi sắp vén bức màn cửa thì một giọng nói làm cả hai chúng tôi giật mình: “Này bà, bà bỏ quên gói gì trên ghế kìa.” Đấy là một phụ nữ ăn mặc toàn đen, một trong những người sùng đạo suốt cả ngày chỉ việc tới lui nơi nhà thờ và kho đồ lễ. “À! Đúng rồi, cảm ơn… tôi quên mất”, vợ tôi nói. Thế là chúng tôi đến lấy lại của nợ và ra khỏi điện thờ, sống dở chết dở.
Ra ngoài, bằng cái giọng của một người bán hàng muốn bán đổ bán tháo món hàng của mình mà không có ai mua, vợ tôi nói: “Không ai muốn nó cả, thằng bé tội nghiệp của tôi!” Nhưng rồi bà cũng bắt đầu chạy lon ton, những bước chân giật giật như không hề chạm đất.
Chúng tôi đổ ra quảng trường Saints- Apôtres; nhà thờ mở cửa và khi bước vào, thấy nó to lớn, rộng và tối, vợ tôi khẽ nói: “Chỗ này tốt đây.” Bước chân dứt khoát, bà đi vào nhà nguyện phía bên, đặt đứa bé trên ghế băng và, chừng như mặt đất nóng đến bỏng chân, bà không làm dấu, không cầu nguyện, cũng không hôn lên trán đứa bé mà vội vàng tiến ra phía cửa. Nhưng bà chỉ mới chạy được vài bước thì cả nhà thờ vang dội những tiếng khóc tuyệt vọng: lúc này đúng là giờ đứa bé đòi bú, nó đói. Nghe tiếng ré chát chúa đó, vợ tôi đâm ra luống cuống: mới đầu bà chạy ra cửa, rồi chạy trở lui, và không hề suy nghĩ mình đang ở đâu, bà ngồi xuống ghế, ôm con vào lòng và mở cúc áo cho nó bú. Bà chỉ mới vạch ngực ra là thằng bé đưa tay bám riết vào, ngấu nghiến như sói con, nó mới đỡ thèm thì một giọng nói giận dữ thét lên: “Những chuyện đó không được làm trong nhà của Chúa… đi ra… đi ra ngay… ra ngoài đường mà làm!” Đó là ông giữ nhà thờ, một lão thấp bé, râu bạc, có giọng nói to hơn người. Vợ tôi đứng dậy, vội vàng che ngực áo và đầu đứa bé rồi nói với ông lão: “Vậy mà trong tranh lúc nào cũng thấy bà Madone cho con bú.” “Chị muốn so sánh mình với bà Madone à, đồ tự phụ.” Quá chán, chúng tôi bước ra khỏi nhà thờ, đến ngồi trong vườn chỗ quảng trường Venise; vợ tôi tiếp tục cho con bú cho đến khi thằng bé no nê ngủ lại.
Giờ này, màn đêm đã xuống, các nhà thờ đều đóng cửa, chúng tôi mỏi mệt, đờ đẫn, đầu óc không nảy ra ý tưởng nào. Nghĩ là mình đã nhọc lòng để làm một việc mà lẽ ra không nên làm, tôi cảm thấy tuyệt vọng. Tôi bảo vợ: “Bà nghe đây, muộn rồi, tui không chịu được nữa… phải quyết định đi chứ.” Vợ tôi trả lời chua chát: “Nhưng nó là giọt máu của ông!... ông muốn rứt bỏ nó như thế, trong xó xỉnh, như người ta vứt bỏ gói giấy đựng bộ lòng con mèo!” - “Không, không phải thế, nhưng có những việc ta có thể làm ngay không đắn đo hoặc là không làm được nữa.” “Sự thực là ông sợ tui đổi ý mà mang nó về nhà lại… đàn ông các ông toàn là một lũ hèn!” Tôi nghĩ giờ không phải lúc nói trái ý bà nên thong thả trả lời: “Tui hiểu bà, nhưng bà phải biết rằng dù mọi việc xoay chuyển theo chiều hướng xấu cho nó thì tốt hơn vẫn là cho nó lớn lên ở Tormarancio, trong căn phòng không cầu tiêu, không bếp núc, giữa đám vi trùng mùa đông và bầy ruồi nhặng mùa hè.” Lần này thì bà không trả lời.
Chẳng ý thức mình đang đi đâu, chúng tôi theo đường quốc lộ ngược về hướng Tháp Néron. Xuống dưới một chút, tôi để ý thấy một con đường dốc, hoàn toàn vắng vẻ, chỉ có một chiếc xe hơi màu xám, cửa đóng, đỗ trước cổng nhà. Tôi chợt có một ý, đến gần chiếc xe, thử mở tay nắm, cửa xe bật ra. Tôi nói với vợ: “Mau lên, thời cơ đây rồi… bỏ thằng nhỏ ở băng ghế sau.” Bà nghe lời, mang đặt đứa bé lên ghế và đóng cửa lại. Mọi chuyện xảy ra trong vài giây, không ai nhìn thấy chúng tôi. Tôi nắm cánh tay vợ, chạy tránh xa về phía quảng trường Quirinal.
Quảng trường vắng vẻ, tối om, lác đác vài ngọn đèn rọi xuống các cung điện, vượt lên trên các lan can, ánh sáng thành phố Rome lấp lánh trong đêm. Vợ tôi đến gần bể nước, dưới chân tháp, ngồi xuống ghế và bật khóc, quay lưng về phía tôi như thể đang ngồi một mình. “Bà làm sao vậy?” tôi hỏi. “Bây giờ đã bỏ con rồi, tui thấy nhớ nó… tui thấy thiêu thiếu cái gì ở đây, ở chỗ ngực, chỗ nó hay bám víu vào.” Tôi nói không chủ định: “Dễ hiểu thôi mà… nhưng rồi mọi việc sẽ qua.” Bà nhún vai và tiếp tục khóc. Rồi đột ngột nước mắt bà ráo hoảnh, như làn gió làm tạnh cơn mưa. Bà đứng dậy, giận dữ, chỉ cho tôi thấy một trong những cung điện và nói: “Bây giờ tui biết mình sẽ đi đâu rồi, tui đi gặp ông vua và sẽ kể hết mọi chuyện.” - “Bình tĩnh đi, tôi đưa tay giữ bà lại và nói lớn… bà điên rồi, bà biết thời này còn vua chúa nào nữa đâu!” - “Tui không cần, tui sẽ nói chuyện với người nào thay thế vua… phải có ai đó chứ.” Bà sắp chạy về phía cổng vào, có Trời mới biết bà sẽ gây ra chuyện tai tiếng gì nữa nếu tôi không đột ngột lên tiếng ngoài cả dự định: “Bà nghe tui đây, tui nghĩ lại rồi… mình trở lại xe và lấy lại đứa nhỏ… bà còn muốn gì nữa, ta sẽ giữ nó… thôi thì, thêm một đứa hay bớt một đứa…”. Ý kiến này, hẳn cũng là điều bà đang nghĩ, xóa tan đi cái ý đi nói chuyện với ông vua. “Nhưng liệu nó còn đó không?” bà vừa nói vừa chạy nhanh đến con đường nơi chiếc xe màu xám đang đỗ. “Chắc chắn là còn, tôi trả lời, mới năm phút thôi chứ mấy…”.
Quả thật chiếc xe vẫn còn ở đó. Nhưng, đúng lúc vợ tôi sắp mở cửa xe thì một người đàn ông trung niên, béo lùn, vẻ mặt hách dịch, xuất hiện trước cổng và la lớn: “Dừng lại… dừng lại… bà định lấy gì trong xe tôi đó?” Vợ tôi nhoài người vào trong để ẵm lấy đứa bé trên ghế, trả lời mà không quay lại: - “Tui muốn lấy cái gì thuộc về tui.” Người đàn ông vẫn khăng khăng: “Mà bà lấy cái gì?... xe này của tôi… bà hiểu chưa, nó là của tôi…”. Phải nhìn thấy vợ tôi lúc đó. Bà đứng thẳng lên và tấn công kiểu thế này: “Không, ai thèm lấy gì của ông?... Đừng sợ, không ai lấy gì của ông hết… còn chiếc xe, coi này, tui nhổ vào nó đấy, biết chưa?...” Và thực sự bà nhổ ngay vào cửa xe. Ông kia ngơ ngác hỏi: “Nhưng mà này, cái gói gì kia? ” “Không phải cái gói, mà là con trai tui, nhìn đây này…”.
Bà để lộ khuôn mặt đứa bé chìa ra cho ông kia xem và nói tiếp: “Một thằng con trai xinh xắn thế này, bộ ông tưởng có thể tạo ra được một đứa như thế với vợ ông à… và đừng tìm cách đụng vào tui, nếu không tui sẽ la lên, gọi lính gác và báo là ông muốn bắt cóc con trai tui…”. Tóm lại là vợ tôi cứ nói, nói mãi, đến nỗi người đàn ông tội nghiệp kia, mặt đỏ bừng, mồm há hốc, chừng như sắp bị xung huyết.
Cuối cùng, vợ tôi thong thả bỏ đi, tay ôm con, trở lại chỗ tôi đứng ở cuối đường.
Thân Trọng Sơn
(Dịch từ tiếng Pháp - Le bébé - Claude PONCET
trích Nouvelles romaines- nhà xuất bản Flammarion.)
(TCSH379/09-2020)
AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.
AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.
Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…
Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.
HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.
SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.
KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.
FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.
MIKHAIN SÔLÔKHỐP Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.
KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.
ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.
GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.
GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.
JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.
SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.
DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.
S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.
WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?
SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.
SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar trong một gia đình nông dân thuộc tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.