Đổi mới và đổi mới giáo dục

15:52 10/10/2011
Việt Nam đang đứng trước con đường có khá nhiều chông gai và nhiều thử thách. Hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới, Việt Nam cần nhiều sự đổi mới để tiếp tục phát triển.
[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

Chúng ta có thể tiến xa lên hay lùi dần lại so với thế giới điều đó sẽ được quyết định bởi các chiến lược đổi mới mà chúng ta đề ra và áp dụng có thỏa đáng và khả thi những chiến lược đó hay không?

Trong nhiều sự đổi mới đó, đổi mới giáo dục cần được/nên được/phải được xem là vấn đề thuộc về mặt ưu tiên chiến lược.

Việt Nam cần nhiều sự đổi mới để phát triển

Đứng trước bối cảnh thế giới, khu vực và đất nước những năm 80 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi sự nghiệp Đổi mới trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Từ đó cho đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đất nước chúng ta đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng. Tình hình chính trị - xã hội ổn định. Nền quốc phòng – an ninh vững mạnh. Bạn bè quốc tế đến tham quan du lịch Việt Nam ngày một nhiều. Trọng lượng của mảnh đất chữ S nặng dần dần lên trên bàn cân quốc tế và khu vực.

Nguyên nhân chủ quan của sự thành công đó chính là sự kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và sự bền vững của Khối Đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp Đổi mới Đất nước.

Như vậy, khác với Liên Xô và các nước Đông Âu, chúng ta đã đổi mới “được” và đổi mới khá thành công. Thậm chí chúng ta đã được thế giới công nhận là một “con hổ” của Châu Á, một nền kinh tế thị trường hội nhập và phát triển năng động bậc nhất thế giới.

Và do đó, có ý kiến cho rằng sự nghiệp của chúng ta hiện nay đang là sự nghiệp “Phát triển” chứ không phải là sự nghiệp “Đổi mới” nữa.

Ý kiến đó khiến tôi có nhiều băn khoăn suy nghĩ. 

Chúng ta có quyền tự hào về thành quả của sự nghiệp Đổi mới. Nhưng chúng ta cũng cần phải nhìn ra thế giới. Bởi hiện nay, khi Việt Nam vẫn là một nước công – nông nghiệp với nhiều sự lạc hậu xen lẫn dấu hiệu tụt hậu thì nhiều nước phát triển trên thế giới (chẳng hạn như Khối G7) đã đi trước Việt Nam chúng ta hàng thế kỷ về sự phát triển kinh tế - xã hội.

Để đến năm 2050 nước ta cơ bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Để nước ta là một nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Để Đất nước chúng ta là minh chứng cho sức sống của một hình thái kinh tế - xã hội tương lai.

Để Đất nước chúng ta là một tấm gương phát triển của một Đất nước vốn thoát ra từ chiến tranh và sự đô hộ của chế độ thực dân.

Để làm được những mục tiêu cảo cả đó, Đất nước chúng ta vẫn cần phải tiếp tục đổi mới. Thậm chí cần phải đổi mới nhanh và mạnh hơn nữa để đạt được những “tầm nhìn” do chính mình đã đặt ra.

Đổi mới giáo dục – chìa khóa cho sự phát triển

Một xã hội không thể phát triển khi không có nguồn lực con người đủ mạnh về cả chất và lượng. Hay nói bằng khí thế Cách mạng là phải có đội ngũ “vừa hồng, vừa chuyên”. Và do đó, để xã hội phát triển thì Đất nước chúng ta phải có những con người tài giỏi, biết gánh vác và thật sự năng động.

Nhiều người hỏi: Những con người đó lấy đâu ra?

Có thể trả lời ngay rằng: Những con người đó không phải tự nhiên mà có hay từ trên trời rơi xuống. Chính giáo dục trong Nhà trường là phương tiện chủ yếu đào tạo ra những con người cần thiết cho sự phát triển của xã hội.

Giáo dục là động lực để đất nước chúng ta có thể tự mình vượt vũ môn của sự nghèo đói, lạc hậu, trì trệ để “hóa rồng”.

Giáo dục còn giúp dân trí nước ta ngày càng được khai sáng. Chúng ta có thể thấy ngay hai hệ lụy liên tiếp nhau cho một Đất nước dân trí thấp. Đó là “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” (Hồ Chí Minh) và “Kẻ yếu tất bị đánh” (Mao Trạch Đông).

Do đó, để không “bị đánh” và cũng không phải là một “dân tộc yếu” thì Đất nước chúng ta cần phải coi trọng nền giáo dục nước nhà.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là nền giáo dục nước ta có quá nhiều điểm bất cập và tiêu cực.

Bất cập của nền giáo dục Việt Nam là ở chỗ những người tài giỏi nhất không ở lại hay quay về sau khi du học để phục vụ Đất nước. Đó là vấn nạn “chảy máu chất xám” đau đớn cho những ai quan tâm đến tương lai và vận mệnh của Đất nước.

Một bất cập nữa là một đất nước văn hiến như Việt Nam nhưng sự phát triển về giáo dục lại rất khập khiểng. Hàng nghìn điểm 0 môn Sử. Nhiều học sinh, sinh viên vô cảm với các vấn đề của xã hội và Chủ thuyết “Mackeno” (Mặc kệ nó) trở thành thời thượng.

Tiêu cực là ở chỗ giáo dục Việt Nam có quá nhiều điều khúc uẩn. Sự khúc uẩn nói toạc ra là sự giả dối, đây như bệnh thành tích trong giáo dục, các tiến sĩ “giấy”, nạn đạo văn trong các luận án, hiện tượng mua bán bằng, nạn “học giả bằng thật”… gây ra những làn sóng hoang mang trong dư luận.

Sự tha hóa về nhân cách của một số học sinh (học sinh đâm chết thầy cô vì tiền, học sinh chặn đánh các thầy cô vì coi thi quá nghiêm túc, nữ sinh đánh nhau chửi bới bằng ngôn ngữ chợ búa và cởi cả áo quần, nam nữ sinh tung clip sex…) và kể cả một số người thầy giáo (cho điểm thấp ở lớp để bắt học sinh học thêm, đề ra các khoản phụ thu thiếu minh bạch…) cũng là những hiện tượng đáng báo động.

Khó có thể có một quốc gia phát triển về kinh tế nào có những điểm bất cập và những điểm tiêu cực trong giáo dục nhiều như Việt Nam.

Cho nên Đất nước ta cần phải nhanh chóng đổi mới giáo dục. Không nên để nền giáo dục chúng ta phát triển một cách chập chững và mù mờ như thế. Chúng ta có thể sẽ bị lạc đường trong một thế giới phát triển không có điểm chung này nếu bản thân không có chiếc chìa giáo dục có thể mở ra cánh cửa tương lai mà chúng ta chọn lựa và ao ước.

Đổi mới giáo dục như thế nào?

Nền giáo dục cần phải được đổi mới một cách trung thực, hiệu quả và nhanh chóng. Trung thực nghĩa là không có bệnh thành tích trong giáo dục, không có chuyện “học giả”, không có chuyện “ăn ngoài”. Hiệu quả nghĩa là phải nghiên cứu thật kỹ càng, chính xác trong cả lý luận và thực tiễn về các mô hình giáo dục đã/đang/sẽ áp dụng. Nhanh chóng là phải đổi mới cho kịp với nhu cầu phát triển của xã hội.

Bên cạnh đó, chúng ta cần phải mạnh dạn xóa bỏ tư duy bao cấp “tiêu cực” trong giáo dục. Bởi những tư duy “tiêu cực” như quan liêu, bảo thủ, trì trệ trong giáo dục có thể bóp chết các ý tưởng và các nhân tài từ trong trứng nước.

Có thể mượn lời Giáo sư Hà Văn Tấn, Viện trưởng Viện Khảo Cổ học để nói về thực tế của “cái cũ” và “cái mới” trong nền giáo dục nước ta hiện nay. Giáo sư đã phát biểu như sau: “Giới hạn giữa cái mới và cái cũ là cái mới thì không đúng còn cái đúng thì không mới”.

Điều đáng buồn là khi Giáo sư nói ra thực tế ấy thì rất ít “anh hùng vô danh” (danh hiệu cao quý Hồ Chủ tịch trao tặng cho các giáo viên) dám đứng ra phá bỏ vòng tròn bao cấp cũ kỹ đó.

Một Thầy giáo Đỗ Việt Khoa không thể phá vỡ dược căn bệnh thành tích trong thi cử vốn đã trở thành một căn bệnh trầm kha của xã hội Việt Nam đương đại.

Những ý kiến đóng góp cho sự phục hưng môn Lịch Sử cũng “lực bất tòng tâm” vì “độc quyền” đổi mới sách giáo khoa Lịch Sử vẫn nằm mãi trong tay Nhà xuất bản Giáo dục.

Tại sao chúng ta không nhìn thấy được thực tế là đổi mới giáo dục không còn là vấn đề riêng của Nhà nước mà cụ thể là của Bộ Giáo dục & Đào  tạo nữa. Đổi mới giáo dục đã và đang là vấn đề của toàn thể xã hội. Do đó, để các “anh hùng” như Thầy Đỗ Việt Khoa không đơn độc làm “Đông Ki Sốt” trong công cuộc đổi mới giáo dục thì cả xã hội phải cùng vào cuộc. Trong đó Nhà nước và nhân dân phải cùng nghĩ, cũng làm, cùng đưa ra biện pháp và cùng khắc phục, giúp đỡ cho nhau. Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, nếu Nhà nước và nhân dân cùng hăng hái, quyết tâm thì chúng ta mới có cơ may “đi tắt”, “đón đầu”, “bằng” và “vượt” các nước trong trong khu vực.

Huế, ngày 06/09/2011
NGUYỄN VĂN TOÀN







Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.

  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.