Điểm tựa tâm linh mùa đại dịch

14:55 07/05/2020

Lại một mùa Phật đản trở về trên quê hương chúng ta trong bối cảnh tín đồ sẽ có thể không đến chùa dự các lễ kính mừng ngày Đản sinh của Đức Thế Tôn, ngày Vesak Liên Hiệp Quốc - sự kiện văn hóa tâm linh của nhân loại, vì ảnh hưởng của đại dịch Covid-19…

Nỗi sợ trước đại họa  
 
Những ngày này, nhân loại đang đối đầu với một đại họa khốc liệt, có lúc trong 24 giờ đồng hồ số chết hơn cả nghìn. Có ai ngờ chỉ cách đây hơn hai tháng, khi nghe tin tức, chúng ta chỉ ghi nhận dịch lan đến 28 quốc gia, làm chết khoảng 2.000 người và gây nhiễm cho trên dưới 70.000 trường hợp. Nhưng giữa tháng 4-2020, con số ấy đã trở thành kinh hoàng mà có thể không ai nghĩ đến: hơn 2,1 triệu ca nhiễm, chết hơn 146 nghìn (17-4-2020).
 
Có những nước trước đây như Trung Quốc, nơi phát sinh ra bệnh dịch, đã tạm yên với hơn 3.000 người chết và dừng lại với hơn 80 nghìn ca nhiễm, trong khi những nước xa xôi và có tổ chức xã hội tưởng chừng “chu đáo” hơn như Mỹ và các quốc gia thuộc châu Âu lại đang hứng chịu những con số kinh hoàng. Riêng Mỹ có hơn 678 nghìn ca và Ý, Tây Ban Nha mỗi nước hơn 170 nghìn ca, trong đó số người chết ở Ý đã vượt 22 nghìn…
 
Cùng thời điểm, Việt Nam với 268 ca nhiễm và đang kiểm soát được tình hình dịch bệnh với sự nỗ lực của hệ thống chính trị, được sự hợp tác của toàn dân. 

Nhân loại đang co mình vì lệnh cách ly, phong tỏa ban ra khắp nơi từ Âu - Mỹ sang Á. Học sinh chưa được trở lại trường. Các giải thể thao dừng lại. Nhiều thành phố dừng mọi hoạt động, các đô thị vốn nhộn nhịp và chưa bao giờ yên ắng trở nên hoang vắng mà Tây phương gọi là “ghost city”! Ngay tại TP.HCM, thành phố sôi động nhất cả nước, những ngày này đường sá cũng vắng đến nao lòng. Chợ búa cũng thưa thớt người đi. Tất cả đều sợ hãi trước một con vi-rút gần như vô hình vì nó quá nhỏ bé nhưng lẩn khuất đâu đó trong không khí, từ miệng người này hay người kia. Mà không sợ sao được, một số nước Âu Mỹ đã phải trả gíá đau đớn vì sự ứng phó chậm hay thiếu quyết liệt ban đầu.
 
Vì nỗi sợ ấy mà nhân loại chứng kiến nhiều chuyện mà trước đây chưa bao giờ chúng ta hình dung được. 
 
Văn hóa phương Tây vẫn được ngợi ca là lịch sự, ngăn nắp thì trong đại dịch này đã không giữ được sự bình tĩnh, mà trở nên hỗn loạn vì “sợ”, người ta đã mua đến sạch những cuộn giấy vệ sinh trong các siêu thị. Họ còn giành nhau, thậm chí ẩu đả vì việc ấy. Phải chăng họ chủ quan sau nhiều thế kỷ sống trong phồn vinh và thanh bình, không hề có ý thức phòng chống dịch hay một điều gì bất trắc. Có nơi ai đeo khẩu trang còn bị chế nhạo, kỳ thị, nhất là giới trẻ. Cho đến hôm nay, một số tiểu bang của Mỹ (khoảng 8 tiểu bang) vẫn không cấm ra khỏi nhà và không đeo khẩu trang, thậm chí có công ty cấm nhân viên đeo sợ gây hoang mang.
 
Đại dịch toàn cầu phá vỡ cái “mác” văn minh mà con người đã tự dựng lên. Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách, trong bài viết “Corona - Biến cố của thế kỷ” trên báo Giác Ngộ số 1043 (25-3-2020), nhận xét: “Điều đó cho chúng ta thấy rằng, nếu không xuất phát từ cái tâm có tu tập và đạo đức vốn có thì mọi thứ lịch sự, văn minh đó có vẻ hào nhoáng hơn là giá trị thực, nó được duy trì khi cuộc sống an lành... Những thứ mặt trái luôn tiềm ẩn trong tâm con người chỉ vì chưa có dịp để biểu lộ mà thôi.” 
 
Còn những hệ lụy và những hậu quả khác nữa. Phải kể đến tình trạng thất nghiệp tăng cao. Đã có hàng triệu người thất nghiệp. Người ta dự báo con số lên đến 25 triệu lao động không có việc làm. 
 
Ngay tại Việt Nam, những người bán lẻ, bán vé số, những người làm công, cũng đang trải qua những ngày tháng hết sức khó khăn khi kinh tế suy thoái. Nhiều quốc gia tăng trưởng âm. Mỹ cũng dự báo kinh tế sụt giảm đến 7% năm nay. Còn thị trường chứng khoán cực kỷ ảm đạm khi nhiều chỉ số rơi xuống từ 5 đến 8%.

Khoảng giữa tháng 2-2020, chúng ta còn chứng kiến chỉ số Dow Jones của Mỹ nằm ở khoảng 29.400, những hôm đầu tháng 4 là 21.000. Đó là một sự sụp đổ khoảng 30% trị giá cổ phiếu. Các chỉ số tại thị trường chứng khoán châu Âu cũng thiệt hại tương tự. 
 
Tổng thống Mỹ phải đề xuất một gói cứu trợ khổng lồ đến 2.200 tỷ USD. Các nước khác cũng tùy tình hình mà xuất quỹ, thế giới đang trải qua một cơn suy thoái kinh hoàng. 
 
Rất nhiều công ty sẽ phải đóng cửa hoặc tuyên bố phá sản. Những ngành dịch vụ như du lịch, hàng không, khách sạn hoàn toàn hay gần như đóng băng “vì dịch bệnh”. 
 
Đại dịch cũng khiến người ta “sáng” ra khi phát hiện những “điểm mù” trong nền kinh tế toàn cầu hóa bấy lâu: từ chuyện chuỗi cung ứng dựa quá nhiều vào Trung Quốc, một khi mắt xích đó trục trặc, nhân loại cũng “hắt hơi sổ mũi” theo, cho đến chuyện cả một nền công nghiệp phục vụ y khoa bị bỏ quên vì không ai chuẩn bị cho một cơn dịch nên người ta thiếu máy thở, thiếu khẩu trang và các loại vật tư khác...
 
Hệ thống an sinh xã hội cũng bộc lộ điểm yếu ở cả châu Âu và Mỹ, thiếu giường cho người bệnh, ngay tại Hoa Kỳ hơn 27 triệu người không có bảo hiểm nên rất sợ đi bệnh viện. Điều tưởng như là không thể có đối với quốc gia này! 
 
Nghĩ về Đức Phật và những điều Ngài dạy 
 
- Nguyên lý vô thường 
 
Chúng ta bất ngờ chăng khi có một kỳ nghỉ Tết dài đăng đẵng không hề mong muốn? Hãy nhớ một trong ba nguyên lý trong ba dấu ấn của hiện hữu khi chúng ta học Phật là vô thường. Ai cũng biết rằng, những gì vô thường dẫn đến khổ đau, không như ý. Trong đó quy luật sinh diệt là điều chúng ta cần phải hiểu. Sự sống và cái chết chỉ cách nhau một hơi thở. 
 
Người hôm qua còn khỏe nhưng hôm nay hệ hô hấp bị tấn công chỉ vài ngày sau là qua đời. Chúng ta nghe những con số rùng mình ở New York hiện nay: cứ 2 phút rưỡi lại có một người chết, dài hơn một chút là Ý, Tây Ban Nha và các nước khác... và chúng ta nghiệm ra thân thể từ sinh đến diệt phải trải qua chu kỳ bệnh tật, mà có khi do thiếu nhân duyên như thiếu máy thở, hay thiếu thuốc men, nên đành phải tử vong. Chúng ta quán chiếu thân thể vô thường để không quá luyến ái mà sinh khổ đau. Nên vấn đề không phải là cơn bệnh dịch đang hoành hành, vấn đề là thái độ của con người khi đối đầu với nó. 
 
Nếu bình tâm, giữ gìn vệ sinh theo hướng dẫn, tuân thủ “giãn cách xã hội” (social distancing), rửa tay, đeo khẩu trang... thì chúng ta cũng đã tôn trọng tấm thân này, nói như BS.Đỗ Hồng Ngọc là “ta phải cảm ơn mình”. Vì có cái thân này, ta mới có thể làm những việc khác như cứu giúp đời, phát tâm thiện nguyện trong phạm vi khả năng tài chính hay chuyên môn của mình, đóng góp cho xã hội. Chúng ta trân trọng những người đang hy sinh thời gian, cả sức khỏe trên tuyến đầu chống dịch hiện nay từ các y bác sĩ cho đến những người bảo vệ, lao công trong bệnh viện. Họ đang chiến đấu vì người khác và cho cả xã hội. Đối diện với vô thường, người ta phải biết cách sống. Hãy nhớ con virus không phân biệt đối xử với bất kỳ ai vì giai cấp hay quan điểm chính trị. Chúng ta không có nơi nào để trốn thoát trong cuộc khủng hoảng sức khỏe công cộng này, và vì vậy chúng ta buộc phải đối đầu với những gì đang xảy ra hôm nay.
 
Sam Harris(1), trong tác phẩm “Hãy thức dậy: Hướng dẫn về tâm linh phi tôn giáo”, viết: “Một số người hài lòng giữa thiếu thốn và nguy hiểm, trong khi những người khác thì khốn khổ mặc dù có tất cả sự may mắn trên thế giới. Điều này không có nghĩa là hoàn cảnh bên ngoài không quan trọng. Nhưng đó là tâm trí của bạn, chứ không phải là hoàn cảnh, đó là chính bạn quyết định chất lượng cuộc sống của bạn. Tâm trí của bạn là nền tảng của mọi thứ bạn trải nghiệm và của mọi đóng góp bạn làm cho cuộc sống của người khác. Với thực tế này, nó có ý nghĩa để đào tạo nó”. 
 
Chúng ta nhớ lá thư Thầy hiệu trưởng, ông Domenico Squillace của trường cấp ba Alessandro Volta ở Milano, đã viết cho học sinh có đoạn:
 
“... Không có gì mới dưới ánh mặt trời, thầy muốn nói như thế, nhưng những ngày trường học đóng cửa thầy thấy mình cần phải nói. Nhưng điều thầy muốn nói với các con là hãy giữ bình tĩnh, không để bản thân bị lôi kéo bởi cơn mê sảng tập thể và hãy tiếp tục - với sự đề phòng và thận trọng - để sống một cuộc sống bình thường... Không có lý do gì để vơ vét ở các siêu thị và nhà thuốc, hãy để khẩu trang lại cho những người bệnh, vì chỉ dành cho họ... Bản năng di truyền của chúng ta là khi cảm thấy bị đe dọa bởi một kẻ thù vô hình là nhìn thấy nó ở khắp mọi nơi, điều nguy hiểm nhất là xem đồng loại của chúng ta như một mối đe dọa, hay một kẻ thù tiềm năng. So với các dịch bệnh của thế kỷ mười bốn và mười bảy, hiện nay chúng ta có một nền y học hiện đại, thầy tin tưởng ở sự tiến bộ, sự chính xác của nó, chúng ta hãy sử dụng suy nghĩ hợp lý để giữ gìn tài sản quý giá nhất mà chúng ta sở hữu, cấu trúc xã hội và tình nhân loại”.
 
Nếu chúng ta không thể làm điều đó, thì có nghĩa là dịch bệnh sẽ thực sự chiến thắng!(2) 
Chúng ta hiểu Đức Phật đã dạy sự thật về nỗi khổ - bất như ý thì trong dịch bệnh, chúng ta vừa phải lo bản thân mang bệnh vừa phải sợ xa lìa người thân trong những cảnh khổ của chia lìa trong yêu thương cũng như các nỗi đau về thể xác khi lâm bệnh tật...
 
Có đương đầu với dịch bệnh, chúng ta mới thấy quý sức khỏe. Sức khỏe mới thực sự là vốn liếng lớn nhất của đời người. Nếu không có thân thể khỏe mạnh, thì dù có cả núi vàng biển bạc, chúng ta cũng chẳng vui vẻ gì. Có ai đó nói rằng: “Một lần dịch bệnh giúp chúng ta hiểu ra rằng… chiếc giường đắt nhất thế gian là giường bệnh, thần dược quý giá nhất thế gian chính là sức khỏe”! 
 
Không đau yếu là một trong những niềm vui tối thượng như có bạn trung hậu, như trong phẩm Niết-bàn:
 
 Không bệnh lợi tối thượng,
 Biết được tiền tối thượng 
Thành tín đối với nhau 
 Là bà con tối thượng 
 Niết-bàn, lạc tối thượng 
(3)  
 
- Nguyên lý duyên sinh 
 
Stephen Bachelor(4) từng có nhận định về Đức Phật, Ngài “không phải là một người chỉ biết sống ẩn dật thiền định trong chốn rừng sâu, Đức Phật đã thường xuyên du hành đến các làng xã, thị trấn tiếp xúc và hướng dẫn lối sống cho dân chúng ở nhiều địa phương. Ngài là vị đạo sư đầu tiên và quan trọng nhất, trong lịch sử nhân loại, vượt qua lối sống của một chính khách. Ngài luôn quan tâm tìm cách giúp cho xã hội vận hành và phát triển, nghĩ ra các nguyên tắc sống dựa trên quy luật tự nhiên khách quan và môi trường nơi Ngài sống.
 
Phật cũng đã chỉ dạy cho chúng ta phải nhận thức và hướng những hy vọng chúng ta vượt qua mọi tin tưởng thần bí. Ngài thường từ chối giải quyết sự việc theo phỏng đoán siêu hình, thay vào đó Ngài chỉ hướng cho mọi người cần chú ý tôn trọng đến nhân quả nghiệp báu, chú ý đến thay đổi hành vi hiện tại. Việc thực hành chuyển hóa thân tâm không chỉ dành cho những thời khắc tốt xấu, mà cho tất cả mọi khoảnh khắc thời gian, kể cả những lúc khó khăn nhất. Đây là lý do tại sao các nhà tư tưởng Phật giáo rất quan tâm đến tình hình trong giai đoạn hiện nay". 
 
Thời Phật sống và cả những thế kỷ sau, con người luôn tôn trọng và bảo vệ rừng núi, sông suối. Cả cuộc đời của Ngài như hòa vào đời sống thiên nhiên.
 
Rất tiếc, con người đã không còn tôn trọng thiên nhiên như những người xưa, như thông điệp mà Ngài đã dạy lưu lại trong kinh, luật. 
 
Con người đã khai thác cạn kiệt tài nguyên, tàn phá núi rừng, chặn nguồn làm thủy điện, hy sinh hạ du, tàn phá thượng nguồn, lợi bất cập hại. Kết quả là con người hủy hoại chính ngôi nhà của mình: Trái đất. Cuộc sống đô thị phải hứng chịu mọi loại ô nhiễm từ bầu khí quyển đến nguồn nước và cả tiếng ồn. Chỉ trong 2 tháng sau thời điểm phát khởi Covid-19, mức độ ô nhiễm đã giảm từ 20-30%. Còn thực phẩm từ nuôi trồng đến thương phẩm, con người dùng quá nhiều hóa chất từ trồng trọt đến ủ chín. Có người đã nói thẳng: “Tất cả mọi thứ ô nhiễm này đều xuất phát từ ô nhiễm tâm.”(5) Kể từ sau “biến cố Vũ Hán - Trung Quốc”, con người bắt đầu “dừng lại” sau thời gian dài cứ đuổi bắt ảo ảnh của hạnh phúc. Dù chỉ một thời gian ngắn thôi mà sức sống trên mặt đất đã mạnh mẽ hơn. Nhưng ai biết được sau này khi con người trở lại với công cuộc khai phá như trước. 
 
- Chúng ta hiểu nghĩa duyên sinh, duyên khởi trong giáo lý Phật
 
John Donne viết “Cái chết của bất kỳ ai cũng gây nên hao tổn trong tôi vì tôi thuộc về loài người. Đừng hỏi rằng chuông nguyện hồn ai, chuông nguyện hồn bạn đó!”(6). Ông cũng nhấn mạnh con người không phải là một hải đảo tự thân, mỗi con người là một mảnh của đại lục. Điều đó không có gì mới nếu ta hiểu giáo lý duyên khởi “cái này có nên cái kia có…”, chúng ta hành động thế nào thì môi trường và thiên nhiên đáp trả chúng ta như vậy. Có ai thắc mắc vì sao Đà Lạt nóng lên nhiều hay Phú Quốc bị ngập nước, TP.HCM bị triều cường triền miên?, v.v…
 
Môi trường chúng ta sống là cộng biểu tất cả mọi người, nhưng chính bản thân ta cũng là cộng biểu, dù ta có biệt nghiệp của riêng mình. Cộng nghiệp luôn có trong ta vì ta có tất cả tính chất môi trường mình đang sống, thế nên phải thấy đóng góp tốt cho y báo là thay đổi biệt nghiệp của mình.
 
“Bạn nên biết rằng, mọi chúng sanh trên cuộc đời, dù là cây cỏ, con kiến, con cá… đều có vai trò bình đẳng cho sự tồn tại trong một trật tự của vũ trụ, không một ai được sự ưu đãi đặc biệt trong quy luật đó. Vạn vật sinh ra trong tự nhiên để nương tựa vào nhau, cùng sanh cùng diệt cộng hưởng nhau, không thừa không thiếu trong một mắt xích dây chuyền. Hủy hoại một mắt xích cũng là hủy hoại chính mình. Con người cũng chỉ là một mắt xích bình đẳng trong chuỗi trật tự đó....!(7).
 
Người ta có thể nêu ra hàng loạt nguyên nhân theo sự suy đoán chủ quan của mình, nào là do thói quen ăn thịt động vật, cụ thể loài dơi hay rắn…, nào là do phòng thí nghiệm để “sổng” ra con virus ấy theo thuyết âm mưu là có kẻ “chế tạo” ra nó… Cho đến nay vẫn không ai biết nguyên nhân thực sự. Nhưng nguyên nhân chính là chúng ta đã không thấu suốt ý nghĩa của tương tức, tương sinh giữa con người với nhau và giữa con người với thiên nhiên hay môi trường.
 
- Nguyên lý về lòng từ bi 
 
Trong hoàn cảnh nào thì con người cũng cần đến sự tương trợ như hiện nay. Liên bang Nga hay các nước cũng đang hỗ trợ Mỹ và Ý hay một số nước đang gặp khó khăn, gác sang một bên những bất đồng trong chính kiến hay những khác biệt về văn hóa.
 
bacsi.jpg
Cuộc chiến đầy hi sinh nhưng cũng lóe lên những hình ảnh đẹp của đội ngũ y-bác sĩ
 
Nói như ngài Dalai Lama thứ XIV, tôn giáo tốt nhất là tôn giáo về lòng yêu thương; Phật giáo hay các tôn giáo khác cũng chỉ như cà-phê hay nước trà, trong khi nguyên liệu chính là nước, lòng từ bi. Nếu thiếu lòng từ, mọi chuyện đều không có ý nghĩa vì chỉ mang tính chất nghi lễ phù phiếm. Chỉ có lòng yêu thương mới gắn bó con người trên thế gian này. 
 
Muốn như thế, hãy quán chiếu lòng mình vì phải “... sát khuẩn tự tâm cho thanh tịnh”.
 
Phương tiện sát khuẩn tâm phải chăng là chánh niệm như nhà tâm lý trị liệu Mark Epstein viết, việc ứng dụng thực hành chánh niệm hiện nay trong phục vụ trị liệu tâm lý mang giá trị thực tiễn cao và là sự phát triển sáng suốt. Chính chánh niệm, đựợc xem là một kỹ thuật trị liệu tâm lý có hiệu năng cao đã bị bỏ lỡ, một điểm quan trọng được thiết kế để dạy cho mọi người biết tuân thủ về sự tồn tại của kiếp sống đã được Đức Phật ứng dụng và trở thành phương tiện quan trọng nhằm giúp chúng ta vượt qua mọi đau khổ trong đời sống.(8) 
 
Đức Phật cũng đã dạy ta về lý nhân quả. Trong vật lý, luật lực và phản lực là không thể loại trừ. Điều đó cũng đúng trong mối quan hệ giữa người với người. Nếu ta hành động với lòng tốt, ta sẽ nhận lại lòng tốt. Nếu ta hành động với ác ý, ta sẽ nhận lại điều ác ý. “Làm dữ bởi ta, mà nhiễm ô cũng bởi ta; làm lành bởi ta, mà thanh tịnh cũng bởi ta. Tịnh hay không tịnh đều bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được”.(9) Nếu chúng ta có chánh niệm, có khả năng tiếp xúc sâu sắc với những mầu nhiệm thì Tịnh độ có mặt trong ta. Khi nhìn sâu, chúng ta biết rằng hạnh phúc không thể có được nếu không có hiểu biết và thương yêu. 
 
Đức Dalai Lama thứ XIV khi nhận định về đại dịch viêm hô hấp cấp do virus Corona chủng mới gây ra(10)đã nói:“Mặc dù tình hình có khó khăn đến đâu, chúng ta nên dùng kỹ thuật công nghệ và tài khéo léo của con người với quyết tâm và can đảm vượt qua những vấn đề chúng ta đang đương đầu. Đối mặt với những mối đe dọa cho sức khỏe và hạnh phúc, bỗng dưng chúng ta cảm thấy sợ hãi và lo lắng. Tuy nhiên, tôi lấy làm an ủi lớn lao theo lời khuyên trí tuệ để quán sát những vấn đề trước chúng ta: Nếu việc gì có thể làm được - thì hãy làm, không cần lo lắng; Nếu không làm gì được nữa, lo lắng sẽ không giúp ích gì”.
 
Những điều Phật dạy nghìn xưa, hôm nay vẫn là ngọn đuốc soi đường cho chúng ta và những ai muốn sống và làm theo những nguyên lý và cũng là chân lý ấy! 

Theo Nguyên Cẩn - GN

_________
(1) Sam Harris, Waking Uo: A Guide to Spirituality without Religion, Simon & Schuster, 2014
(2)https://www.dire.it/…/426499-coronavirus-la-lettera-del-p…/…(Bản dịch của Trương Văn Dân )
(3) Pháp cú, 204
(4) Bachelor, Stephen, Confession of a Buddhist Atheist, random House, 2010 (Lời thú tội của một người không tin Phật giáo)
(5) Thích Phước Tiến, Bài học nghiêm khắc từ Covid-19, http:// phatgiao.org.vn 
(6) John Donne, “Meditation XVII“, http:// wikiquote.org 
(7) Thích Phước Tiến, ibid
(8) Mark Epstein, What is real mindfulness? http://healyourlife.com
(9) Pháp cú 161    
(10) Thông điệp đặc biệt từ Đạt-lai Lạt-ma, http://vn.sputniknews.com

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.

  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.