WILLIAM GRIMES
Một ngôn ngữ khác” - tác phẩm mới của Francesca Marciano, kể về một thiếu nữ Ý tên Emma si tình tiếng Anh. Sự cuốn hút của thứ tiếng ấy đến từ người bản địa là một cậu bé Anh Quốc hấp dẫn tại khu nghỉ mát ở bãi biển Hy Lạp mà Emma đang sống cùng gia đình. Thế nhưng thật khó tách bạch sự ràng buộc với ham muốn. Phải chăng cậu chính là chiếc vé mở lối cho chị đến với tiếng Anh, hay ngược lại?
William Grimes - Ảnh: internet
Emma lén lút theo dõi đám người Anh Quốc nhỏ bé ấy, dỏng tai nghe ngóng. Chị chăm chú lắng nghe những đĩa nhạc của Joni Mitchell. Chẳng bao lâu, tình yêu ngôn ngữ của chị được đền đáp trọn vẹn: Chị thấy mình có thể nói và hiểu được tiếng Anh. Bị dịch chuyển, chị bước vào một cuộc sống khác.
“Chị không biết mình đã chối bỏ những gì”, người kể chuyện trong tác phẩm của Marciano nhận xét, “nhưng một ngôn ngữ khác chính là chiếc thuyền mà chị dùng để trốn chạy.”
Thời gian gần đây, chiếc thuyền ngôn ngữ đó đã cưu mang rất nhiều nhà văn. Hầu hết họ sáng tác bằng tiếng Anh, bên cạnh có vài người khác sử dụng tiếng Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Nhật Bản hoặc thậm chí Hà Lan, làm giàu và mở rộng thêm nền văn học của nền văn hóa mà họ đang cư trú. Một số đã bỏ lại ngôn ngữ mẹ đẻ của mình sau khi chạy trốn do tình trạng bất ổn chính trị. Những người khác đã dịch chuyển và hòa nhập vào các nền văn hóa mới với tinh thần phiêu lưu, được khuyến khích bởi các phong trào tự do và lý tưởng trong một phần tư thế kỷ đã qua. Isabelle de Courtivron viết trong “Sống trong Dịch thuật: Nhà văn Song ngữ cùng Cá tính và Sáng tạo”: Một cộng đồng văn chương mới đã được hình thành và thúc đẩy, bằng sự “nhập cư, công nghệ, chủ nghĩa hậu thực dân và toàn cầu hóa”, các thế lực hùng mạnh đã “xóa bỏ ranh giới và đẩy mạnh chuyển động đa văn hóa”.
Yiyun Li, tác giả cuốn tiểu thuyết tiếng Anh thứ ba: “Ấm áp hơn Sự cô độc” được nhà xuất bản Random House cho ra mắt vào tháng Hai. Ellen Litman, một người di cư từ Nga có cuốn tiểu thuyết: “Mannequin Girl”, in vào tháng Ba, cho biết: “Tôi không chắc tôi gọi bản thân mình là gì. Đến nay tôi đã sống ở Mỹ nhiều hơn ở Nga, và càng ở đây lâu hơn, tôi càng cách xa hơn với ý niệm về mẫu quốc.”
Marciano, lớn lên ở Rome, đã học tiếng Anh như nhân vật nữ chính của mình là Emma. Hồi còn là thanh niên, chị sống ở New York, và 10 năm lưu trú ở Kenya, chị đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình, “Những quy luật của Hoang dã” bằng tiếng Anh sau một khởi đầu thất bại với tiếng Ý. Hiện tại, tuy sống ở Rome, nhưng tiếng Anh đã trở thành vỏ bọc thứ hai của chị.
“Bạn khám phá không chỉ ngôn từ, mà còn có phát hiện mới về chính mình khi bạn học một ngôn ngữ” - Marciano nói. “Vì tình yêu với tiếng Anh mà hôm nay tôi đã trở thành một con người hoàn toàn khác. Tôi không thể quay đầu trở lại. Tôi đã bị mắc kẹt”.
Hai làn sóng di cư từ Nga, đợt đầu tiên là cuối những năm 1970, đợt thứ hai sau khi Liên Xô sụp đổ, đã mang lại một vụ mùa bội thu tác phẩm của các nhà văn người Nga viết tiếng Anh. Một số người, như Gary Shteyngart, và Boris Fishman, với tác phẩm đầu tay “Một cuộc đời thay thế” được Harper xuất bản vào tháng Sáu, đã đến Hoa Kỳ khi còn nhỏ và học tiếng Anh theo cách mưa dầm thấm lâu. Những người khác, như Litman, Lara Vapnyar, Kseniya Melnik, Olga Grushin và Anya Ulinich, rời Liên Xô ở tuổi thiếu niên hoặc đầu tuổi 20, đủ trễ để phải học ngôn ngữ mới với ý thức nỗ lực cao.
Còn nhà văn Bosnia Aleksandar Hemon được coi là một phù thủy đầy phong cách, được coi là nhận ảnh hưởng nhiều từ Nabokov. Karen Rya, chủ nhiệm khoa của Trường Cao đẳng Nghệ thuật và Khoa học tại Đại học Stetson ở Florida, người đã có nhiều bài viết về văn chương lưu vong Nga cho biết: “Tất cả bọn họ đều viết rất thạo, nhưng ý thức về ngôn ngữ của họ là khác nhau. Ở họ tồn tại sự nhạy cảm của vui đùa và sáng tạo, điều đó tồn tại ở hầu hết các nhà văn xuyên quốc gia”.
Nhà văn Bosnia Aleksandar Hemon, bị mắc kẹt ở Chicago khi chiến tranh nhấn chìm thành phố quê hương Sarajevo của ông, đã tiếp cận với tiếng Anh ở tuổi 27. Vào thời điểm đó, ông kể trong một cuộc phỏng vấn: “Tôi đã nói chuyện như một du khách bập bẹ”. Hôm nay, ông Hemon, tác giả của “Câu hỏi của Bruno” và “Dự án Lazarus” được coi là một phù thủy đầy phong cách ảnh hưởng bởi Nabokov, tự sáng tạo ra tiếng Anh cho chính mình qua các câu văn như “đám mây và chấm mây” với hậu tố -ette mô tả phiên bản nhỏ hơn của tiền tố, hoặc triển khai tính từ đầy kinh ngạc.
Trong Thế vận hội đa ngữ, Trung Quốc cũng đã ra sân với tư thế là một đội rất mạnh. Ha Jin, người di cư từ Trung Quốc sau sự cố Thiên An Môn vào năm 1989, đã giành giải thưởng sách quốc gia 10 năm sau đó với tác phẩm “Chờ đợi”, cuốn tiểu thuyết thứ hai của mình bằng tiếng Anh. Xiaolu Guo, người chuyển đến London vào năm 2002, sử dụng chính chất liệu xoay sở trong việc học tiếng Anh của mình làm tư liệu cho cuốn “Một từ điển Trung - Anh súc tích cho những người đang yêu”, cuốn sách được nêu trong danh sách đề cử rút gọn cho giải thưởng Orange năm 2007.
Có lẽ nổi tiếng nhất đối với người Mỹ là Yiyun Li, người có cuốn tiểu thuyết thứ ba bằng tiếng Anh tựa đề “Tốt hơn cả Cô đơn” được Random House cho ra mắt vào tháng Hai. Li đã đến Hoa Kỳ với vốn tiếng Anh ít ỏi để nghiên cứu Miễn dịch học tại Đại học Iowa. “Có người nói với tôi” thành phố Iowa rất đặc biệt, nơi đấy tất cả mọi người đều đang viết một cuốn tiểu thuyết” chị nói. “Tôi quyết định, O.K., tôi sẽ cố gắng”.
Nadeem Aslam, tác giả của “Khu vườn của Người đàn ông mù lòa”, ghi danh vào một lớp học luyện viết công cộng, sau đó giành được học bổng cho chương trình tốt nghiệp khoa viết của trường Đại học chị theo học. The Paris Review đã chấp nhận truyện ngắn đầu tiên của chị. Ngay sau đó, tờ The New Yorker chịu in tác phẩm thứ hai, rồi Random House cũng ký kết hợp đồng cho hai cuốn sách với chị.
Như nhiều đồng nghiệp sáng tác song ngữ giống mình, Li nêu ưu điểm của việc sáng tác bằng tiếng nước ngoài, rằng: “Nếu bạn là một người bản xứ, mọi thứ như được lập trình sẵn”, chị nói - “Đối với tôi, mỗi khi tôi nói hay viết một cái gì đó, tôi phải quay trở lại và hỏi, “Đây có phải là những gì tôi muốn nói không?”
Một số nhà văn song ngữ cảm thấy mình được giải phóng khỏi ngôn ngữ mẹ đẻ. “Tôi nghĩ mặc dù tôi có ít công cụ hơn khi sử dụng tiếng Ý để viết, nhưng giọng văn của tôi là tự do hơn”, Marciano nói.
Suy nghĩ ấy được cũng được Nancy Huston chia sẻ. Nhà văn này là người Canada định cư lâu dài tại Paris vào đầu những năm 1970 và sáng tác bằng tiếng Pháp. “Tôi nhớ cảm giác phấn khích khi viết lách đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều”, chị nói trong một cuộc phỏng vấn. “Tôi không có những kỷ niệm, những ước mơ và tất cả đống hành lý phải mang theo.” Sau khi cho ra mắt vài tác phẩm đầu tay vào giữa thập niên 80, Huston kết duyên lại với tiếng Anh và đã xuất bản song ngữ từ những năm 1990.
Với Nadeem Aslam - tác giả của “Khu vườn của Người đàn ông mù lòa”, người vật lộn với tiếng Anh khi gia đình ông di cư sang Anh từ Pakistan vì lý do chính trị lúc còn là một thiếu niên, thứ ngôn ngữ mới được thu nhận của ông được xem là một lời chúc phúc lẫn lộn. “Tiếng Anh đối với tôi là một thứ ngôn ngữ của hận thù” - ông nói, “nhưng đồng thời lại là một thứ ngôn ngữ của tình yêu”.
Sức mạnh to lớn của tiếng Anh, được bảo đảm bởi tiềm lực kinh tế lớn mạnh của Mỹ và ảnh hưởng còn lại của Đế chế Anh trước đây, làm cho nó trở thành ngôn ngữ văn chương mặc định. Nhưng không phải mọi dòng sông đều chảy một hướng. Ngoại lệ là rất nhiều. Andrei Makine, một người Nga đến tị nạn chính trị tại Pháp vào năm 1987, đã làm kinh ngạc người Pháp với tác phẩm “Le Testament Français” giành giải Goncourt Prix và hai giải thưởng văn học khác trong năm 1995. Yoko Tawada, một di dân người Nhật sống ở Berlin và viết bằng tiếng Đức, cũng đạt được sự thành công tương tự cho những tác phẩm kỳ lạ, mang màu sắc mơ mộng kiểu như tác phẩm “Nơi châu Âu khởi nguồn”.
“Tất cả sự thú vị của văn chương được sinh ra trong thời điểm khi mà bạn băn khoăn liệu mình có đang gắn bó với một nền văn hóa hay không”, chị nói với tờ The Herald Tawada, Glasgow vào năm 2008 - “Vì vậy, tôi không nghĩ rằng tôi là một ngoại lệ: tôi chỉ đang ở trong một hoàn cảnh đặc biệt, một hoàn cảnh rất văn chương, và nên thơ nữa.”
Trà Kha dịch
(Nguồn: The NewYork Times, 25/4/2014)
(SDB13/06-14)
Triết học đôi khi được hiểu như là “nghệ thuật sống” và quả thật, điều này đúng. Nhưng cũng có những lý do để tin rằng triết học có thể còn là “nghệ thuật chết”.
BORIS CHEKHONIN
Địa điểm là ở khu Tam giác Vàng, những câu chuyện không phải là nói về CIA, những tên gián điệp, những viên chức chính quyền địa phương thối nát hoặc những nhân vật quen thuộc khác. Thời thế đã thay đổi. Băng-cốc đang phát động cuộc chiến chống lại chất na-cô-tic.
L.T.S: Năm 1985 lần đầu tiên ở Pháp độc giả mới biết có một kịch bản văn học của Jean Paul Sartre viết từ 1959 mang tựa đề "Sigmund Freud hay là Bản giao kèo với quỷ sứ". Gần đây báo Văn học Xô viết số 22 tháng 6-1988 đã đăng kịch bản văn học đó kèm với bài viết của giáo sư A.Belkin - tiến sĩ y học, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tâm lý - nội tiết - thuộc Viện tâm thần học MOCKBA. Sau đây Sông Hương xin giới thiệu với độc giả kịch bản J.P.Sartre và bài viết nói trên của giáo sư tiến sĩ A.Belkin.
PANKAJ MISHRA - BENJAMIN MOSER
Ở chuyên mục Bookends hằng tuần, sẽ có hai nhà văn đứng ra giải đáp các vấn đề đặt ra với thế giới sách. Xưa, Ezra Pound từng khích lệ đồng nghiệp: “hãy làm mới”. Tuần này, Pankaj Mishra và Benjamin Moser tranh luận xem ngày nay liệu có bất kỳ sự mới lạ thật sự nào còn lại cho các nhà văn khám phá.
Hơn 50 năm vừa viết văn vừa làm báo đã làm cho nhà văn Graham Greene trở thành một người nói tiếng nói của quần chúng trên thế giới.
LISANDRO OTERO
Cách đây mấy tháng ở Thủ đô Buenos Aires (Argentina) một hội nghị các nhà văn quốc tế đã được tổ chức, để thảo luận về đề tài tiểu thuyết sẽ ra sao vào thế kỷ hai mươi mốt sắp sửa đến.
Sakharov sống trong một tòa nhà đồ sộ và không mấy vui vẻ ở Matxcơva. Tòa nhà do những tù nhân chiến tranh Đức thiết kế và xây dựng trên những công trường đã bị ném bom suốt thời chiến tranh.
PATRICK MODIANO
(Phát biểu ngày 7/12/2014 tại Hàn lâm viện Thuỵ Điển ở Stockholm của Patrick Modiano, Giải Nobel Văn học 2014)
Mọi thông tin liên quan tới người được nhận giải Nobel sẽ chỉ được Viện hàn lâm Thụy Điển tiết lộ sau 50 năm. Giờ đây, sự thật về nhà văn duy nhất từng từ chối giải thưởng văn học danh giá nhất hành tinh đã được công bố.
Nhà văn người Mỹ F. Scott Fitzgerald - tác giả của cuốn tiểu thuyết kinh điển “Gatsby vĩ đại” - đã viết thư tay cho con gái trong ngày đầu năm. Lá thư dành cho một cô bé, nhưng khiến người lớn cũng phải suy nghĩ.
Trong năm nay, một nhà văn vĩ đại của Mỹ Latinh - Gabriel Garcia Marquez - đã qua đời. Ở đất nước Colombia quê hương ông, người ta đang chuẩn bị cho ra mắt hàng loạt tờ tiền có in hình chân dung nhà văn để mọi thế hệ người Colombia đều sẽ biết và nhớ về ông.
NGUYỄN VĂN DŨNG
Thời trai trẻ tôi yêu nước Nga qua tác phẩm Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi. Lớn lên tôi càng yêu nước Nga hơn bởi lịch sử hào hùng và nền văn hóa phong phú với những con người Nga nhân hậu, dễ thương. Nay về già, tôi quyết tâm đi thăm nước Nga cho bằng được. Tất nhiên Moskva là chọn lựa đầu tiên.
TRẦN HUYỀN SÂM
LGT: Giải Goncourt ở Pháp 5/11 vừa qua, đã vinh danh cho bác sĩ, nữ văn sĩ Lydie Salvayre, với tác phẩm Pas Pleurer/ Đừng khóc.
VĨNH THƯ
Trích ý kiến trao đổi về tình hình đổi mới công tác văn học nghệ thuật giữa đoàn cán bộ lãnh đạo văn hóa văn nghệ Việt Nam nghiên cứu học tập tại AOH (Viện hàn lâm khoa học xã hội trực thuộc TW Đảng cộng sản Liên Xô) với Ban thư ký và một số nhà văn Liên Xô.
Interstellar, bộ phim khoa học giả tưởng vừa ra mắt tháng 11 vừa qua của đạo diễn Christopher Nolan về hành trình tìm kiếm một trái đất khác - một ngôi nhà mới cho loài người, đã khiến khán giả trầm trồ, kinh ngạc và cảm động bởi nhiều yếu tố khác nhau: kỹ xảo điện ảnh đỉnh cao, cốt truyện đầy tính khoa học hấp dẫn, thông điệp đáng suy ngẫm về tình yêu và mối quan hệ của con người với Trái đất. Nhưng có lẽ ấn tượng mê hoặc nhất về bộ phim là hình ảnh hố đen (black-hole) và lỗ sâu (worm-hole) giữa vũ trụ mà đoàn làm phim đã mô phỏng - một kết quả tuyệt vời của sự cộng tác giữa khoa học và nghệ thuật.
Khác với mọi lần, năm nay, tin nhà văn Pháp Patrick Modiano được Viện Hàn lâm Thụy Điển chọn trao giải thưởng Nobel Văn học có phần làm cho báo chí, truyền thông ngoài nước Pháp ngỡ ngàng.
Tiến sĩ tâm thần học Brian L. Weiss kể về quá trình điều trị cho một bệnh nhân nhớ được tiền kiếp.
Sử gia kiêm nhà văn Italy Angelo Paratico vừa công bố một nghiên cứu mới gây sửng sốt, cho rằng mẹ danh họa Phục hưng Lenardo da Vinci (1452-1519) có thể là một nô lệ người Trung Quốc.
Theo nghiên cứu mới đây của nhà sử học, tiểu thuyết gia người Italy Angelo Paratico, mẹ của Leonardo da Vinci có thể là một nô lệ người Trung Quốc.