Chúng ta đã nói quá nhiều về sự xuống cấp đạo đức cá nhân và xã hội mà chưa chỉ ra được căn nguyên sâu xa của nó là gì, nằm ở đâu và phải làm gì, tháo gỡ như thế nào… Sức mạnh đến từ nhiều thiết chế xã hội, trong đó có báo chí với vị thế và tầm ảnh hưởng rộng lớn.
Báo chí không chỉ phản ánh mà cần tạo chuyển biến nhận thức của cộng đồng - Nguồn: ITN
“Mưa dầm thấm lâu”
Những năm qua, nhiều bộ, ngành, địa phương đã xây dựng, ban hành các bộ quy tắc về văn hóa ứng xử ở nơi công cộng, trong gia đình, tại công sở. Tuy nhiên, việc thực hiện những quy tắc ứng xử văn hóa hạn chế; vẫn còn những vi phạm gây bức xúc dư luận, bạo lực gia đình, học đường, ứng xử thiếu văn minh, văn hóa, vô cảm... Chính vì vậy, một trong những hoạt động thu hút sự quan tâm trong khuôn khổ Hội Báo toàn quốc 2019 là hội thảo “Vai trò của báo chí trong truyền thông về chuẩn mực văn hóa ứng xử” do Hội Nhà báo Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức. Nhiều ý kiến tại hội thảo khẳng định: Để khắc phục thực trạng hiện nay cần có những giải pháp kịp thời, thường xuyên, lâu dài, trong đó truyền thông trên báo chí đặc biệt quan trọng.
Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam Hồ Quang Lợi nhận định, những năm gần đây, tình trạng văn hóa xuống cấp, trong đó có văn hóa ứng xử trong cộng đồng, xã hội nhiều khi đến mức báo động, đã được báo chí thông tin kịp thời, phân tích, cảnh báo thiết thực. Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn chỉ ra tình trạng cơ quan báo chí, nhà báo thiếu quan tâm đến chuẩn mực văn hóa ứng xử, văn hóa ứng xử, thiếu gương mẫu trong ứng xử văn hóa, thậm chí vi phạm quy tắc, quy định về văn hóa ứng xử… Trong xây dựng văn hóa ứng xử, báo chí nhiều khi chưa có cách tiếp cận tác động hợp lý, hiệu quả trong việc điều chỉnh nhận thức, hành vi của cộng đồng.
Việc tung hô thái quá một sự việc khiến giới trẻ có những ham mê lệch lạc, nhân danh báo chí cổ xúy các hành vi về lâu dài gây tổn hại đến xã hội, vi phạm văn hóa tín ngưỡng do dùng từ “vô tội vạ”... không khó bắt gặp trên báo chí, nhất là báo mạng điện tử. Nêu hàng loạt tác động “xấu” đó, Đại tá Nguyễn Văn Hải - Báo Quân đội Nhân dân cho rằng, muốn truyền thông về văn hóa ứng xử, trước hết mỗi nhà báo, cơ quan báo chí phải là một chuẩn mực văn hóa ứng xử. Nghĩa là, báo chí làm sao phải kiến tạo môi trường thông tin lành mạnh.
Đồng tình với quan điểm này, nhà báo Trần Thị Thanh Thùy, Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội nêu thêm: Xây dựng chuẩn mực văn hóa ứng xử là việc “mưa dầm thấm lâu”, không thể ngắt quãng theo kỳ cuộc. Có như vậy, mới giúp những quy tắc ứng xử ăn sâu, bám rễ chặt chẽ trong đời sống nhân dân.
Bắt đầu từ “cái dễ thấy”
Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhiều biểu hiện, hành vi thiếu văn hóa có chiều hướng lan rộng nhưng không phải bản chất của dân tộc Việt Nam mà do quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, trước sức ép lớn phát triển kinh tế, văn hóa không được chú ý đúng mức. Đó cũng là “căn bệnh” chung của các nền kinh tế mới phát triển. Bởi vậy, xây dựng văn hóa ứng xử là việc làm của cả hệ thống, không phải của riêng báo chí, nhưng báo chí với vị thế và tầm ảnh hưởng rộng lớn, sẽ đóng vai trò nòng cốt. Vai trò ấy thể hiện ở các chuyên mục, bài viết về hành vi ứng xử văn hóa, nhằm vào thứ thiết thực, cụ thể; thể hiện ở sự kết hợp, tham gia của các nhà văn hóa, nhà khoa học, để phân tích, nghiên cứu, truyền thông một cách dễ hiểu, có sức thuyết phục…
Văn hóa là lĩnh vực ai cũng biết, cũng nói được, nhưng làm được và làm tốt rất khó. Chúng ta trách nhiều báo không chuẩn mực, chúng ta nhắc nhà báo phải làm sao xây dựng chuẩn mực văn hóa cho cộng đồng… nhưng thế nào là chuẩn mực văn hóa? Xưa là tam cương - ngũ thường, là công - dung - ngôn - hạnh cụ thể nhưng đã có phần lạc hậu. Đặt vấn đề này, TS Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, TN, TN và NĐ cho rằng, trước khi truyền thông về chuẩn mực văn hóa ứng xử, cần làm rõ và đưa ra được những nội dung cụ thể, những chuẩn mực cụ thể để từ đó cộng đồng, cá nhân đối chiếu, điều chỉnh.
Thực tế, những quy định về chuẩn mực văn hóa ứng xử đã được thể hiện qua các văn bản, nghị quyết, quy định pháp luật… nhưng còn nhiều nội dung khác, không cần văn bản mà ai cũng biết là hạn chế trong ứng xử của người Việt Nam. Chẳng hạn tình trạng chen lấn, lãng phí, không có ý thức giữ gìn vệ sinh công cộng, ồn ào, trễ giờ… Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, trước những điều “dễ thấy” như vậy, báo chí có vai trò không những phản ánh mà cần tạo sự chuyển biến nhận thức của cộng đồng. Như Bác Hồ từng nói, phải làm cho văn hóa thấm sâu vào tâm lý quốc dân, đẩy lùi tâm lý lười biếng, tham nhũng, hủ hóa, xa xỉ... Làm được như thế, phát triển đất nước mới thực sự bền vững, người Việt Nam hôm nay mới thực sự xứng đáng với di sản văn hóa mà tổ tiên để lại.
Theo Thái Minh - ĐBND
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.