Chân dung Đặng Huy Trứ - Ảnh: bee.net.vn
Vì thế, quan niệm văn chương thường như những hạt bụi vàng được tiềm ẩn trong sáng tác. Nhiệm vụ của hậu sinh chúng ta là phải biết đào xới lên những gì ẩn mật sâu lắng ấy, để hiểu rõ giá trị đích thực trong mạch ngầm truyền thống của cha ông. Quan niệm văn chương của Đặng Huy Trứ (1825 - 1874) phần nào chịu sự quy định bởi tính chất chung của quan niệm cổ điển. Tuy nhiên, ông là một nhà văn hóa lớn, nhà tư tưởng tiến bộ, nên quan niệm văn chương của ông có những yếu tố mới mẻ, độc đáo. Đặng Huy Trứ là một nhà sáng tác chứ không phải là một lý luận văn học. Thế nhưng qua sáng tạo nghệ thuật, ông cũng đã hình thành cho mình một hệ thống lý luận khá hoàn chỉnh. Vì thế, trước tác của Đặng Huy Trứ là cơ sở để chúng ta tìm hiểu quan niệm văn chương của ông. Qua tác phẩm, cho phép chúng ta hiểu được thái độ, cách nhìn của Đặng Huy Trứ về văn chương. Quan niệm văn chương của Đặng Huy Trứ được thể hiện trên nhiều mặt. Ông đã từng bàn đến bản chất, chức năng và ý nghĩa của thơ ca; thơ ca với cái đẹp và sự sáng tạo nghệ thuật. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến phương diện: Thơ ca - một món ăn tinh thần kỳ diệu (thực chất, đó là sức cảm hóa của thơ ca, ý nghĩa của thơ ca đối với đời sống tinh thần). Đây là một vấn đề lý luận khá lý thú, đã được Đặng Huy Trứ bày tỏ một cách sâu sắc qua các tác phẩm của mình. Thơ thực sự có tính chất linh diệu (mặc dù nó luôn nằm giữa "khả giải" và "bất khả giải". Từ đời Lê, Nguyễn Hành đã nhận thức rằng: "Tiếng kêu não nùng của con cuốc, cuối cùng là lơ lửng trên cành cây mà thôi; ta kêu bằng văn chương chữ nghĩa đến quyển sách cũng là tột cùng. Nó sẽ có âm thanh đặc biệt. Ai là người nghe thấy được, lại có thể hòa theo được để nối tiếp quyển sách này mà kêu lên" (Từ trong di sản - tr.103). Thơ, vì thế luôn đồng hành với cuộc sống, với tâm linh con người. Đặng Huy Trứ và các học giả xưa không những bàn sâu mà còn bàn hay về "món ăn tinh thần" làm "no lòng người" (chữ của Đặng Huy Trứ). Theo Đặng Huy Trứ, ý nghĩa và sức sống của thơ là ở sự lay động tâm hồn và cảm hóa lòng người. Từ chỗ so sánh thơ với họa, Đặng Huy Trứ đã bộc lộ quan niệm về thơ rất độc đáo: "tranh để nuôi con mắt, thơ để nuôi tấm lòng" (TP - tr. 442)*. Quả vậy, hội họa là hình tượng vô ngôn, nó cảm hóa ta bằng màu sắc, đường nét, hình khối, nó là vật thể im lặng không biết thổn thức. Còn thơ, thơ biết nói, biết lên tiếng. Viên Mai, nhà lý luận cổ điển Trung Quốc cũng cho rằng: "Cái gọi là thơ thì gốc rễ là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả của nó là ý nghĩa. Không ai nghe âm thanh mà không phản ứng, không ai giao tiếp với tình cảm mà không cảm hóa" (Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc - tr.160). Từ cái gốc tình cảm - sức sống mãnh liệt của thơ, Đặng Huy Trứ đi đến khẳng định đặc trưng của văn chương. Và ông đưa thơ lên tuyệt đỉnh của sự kỳ diệu: "Ôi, làm cảm động lòng người chẳng có gì hay bằng thơ" (Tựa tập thơ và tranh vẽ 48 người con có hiếu). Sức mạnh của thơ, sự chinh phục tâm hồn của thơ rõ ràng đã được Đặng Huy Trứ nhận thức một cách sâu sắc. Ý tưởng này của Đặng Huy Trứ về sau sẽ gặp gỡ với Tản Đà - một người có tâm huyết nồng cháy về thơ. "Thơ ca có cái năng lực khiến được người, nó ảnh hưởng trong chín châu ngoài bể... Thơ làm cho con người không quen ai mà yêu, không biết ai mà nhớ, không chỉ non thề bể mà nặng vì non nước" (Những kiến giải về thơ hồi đầu thế kỷ - Tạp chí vặn học, Số 12, 1996). Điều gì khiến cho thơ có khả năng chinh phục lòng người đến vậy? Phải chăng, nhân loại đã đặt lên đối vai nhà thơ một nhiệm vụ cao quý: "cứu rỗi linh hồn" và biến cải cuộc đời bằng cái đẹp? Ngọt ngào và cay đắng chính là ngọn lửa để nung cháy tâm hồn nhà thơ và bạn đọc. Từ đây, Đặng Huy Trứ ý thức rằng: chính thơ và bắt nguồn từ thơ nó sẽ mang đến cho con người nguồn tri thức vô tận cho bản thân, niềm kiêu hãnh, bền vững cho nước nhà. Ông nói: "Nước ta bền vững muôn phúc, văn hiến trăm năm, các bậc thánh hiền nối nhau đề cao thi giáo. Từ khi thành giang sơn đến nay, thơ mà các bậc danh nho đức lớn, nổi tiếng ở đời ngâm vịnh thì đứa trẻ nhỏ cũng thuộc lòng, sự thịnh vượng của thi giáo là nguồn gốc vậy" (TP - tr.125). Theo Đặng Huy Trứ, thơ ca là nguồn suối dào dạt để nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách con người. Thơ từ lòng người và tìm đến con người, tìm đến thế giới của CHÂN - THIỆN - MỸ, làm cho con người - Người hơn. Ông cho rằng: Thơ là phép giữ đạo nhà, là phép tắc đối nhân xử thế trong gia tộc và xã hội. Ông tự bộc bạch: "Lúc nhỏ, cha được ông nội là Trang Khải dạy bảo, nhắc nhở đều là lời hay, việc tốt của người xưa, khi buông sách ra thì những điều nghe được là những lời nói phải, những điều trông thấy là việc làm hay" (TP - tr. 458). Từ nhận thức trên, Đặng Huy Trứ xem thơ là người bạn, là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày: Thanh thiên bạch nhật cùng tâm sự / Gió mát trăng thanh ấy bạn bầu (TP-tr.177). Trong gian nan thử thách, trong buồn đau của cuộc đời, giữa những nhân tình thế thái, thơ ca đã trở thành người bạn tri âm để giãi bày tâm sự, nâng đỡ tâm hồn. Không biết từ bao giờ, thơ ca đã trở thành người kết duyên với thi nhân: Duyên xưa gắn bạn tâm đồng / Tinh thần bất tử vẫn ngời sách đây / Từng chương bút xóa lòa mây / ... Nghiến răng trong mọng ngùi thương cõi bờ (TP - tr. 402). Đối với Đặng Huy Trứ, thơ ca đã trở thành một nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của ông: "Tôi vón thích thơ đã trở thành thói quen, khi sang Quảng Đông đã không tiếc tiền bỏ ra sưu tầm thơ hay xếp thành 10 bộ, ngày đêm xem và thuê người chép lại" (TP - tr. 424). Rất tiếc, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa tìm thấy 10 bộ sách này do ông sưu tập. Với niềm say mê, yêu thích trên, Đặng Huy Trứ xem sách là một vật quý hơn châu báu, vàng ngọc. Thơ văn đã trở thành một phương thức sống, một chìa khóa kỳ diệu để mở cửa cho tâm hồn bốn phương lộng gió: "Bốn bức tường là sách, những vật báu của nhà Nho". Xưa, Trần Toại, đời Lý - Trần cũng nhận thức như vậy! "Xưa nay có cái gì mà cuối cùng không thành đất. Sau khi chết, chỉ có thơ là khả dĩ hơn vàng" (Thơ văn Lý Trần - Tạp chí văn học, Số 5 - 1974). Tất nhiên, một số nhà nho khác đi ngược lại quan điểm này. Với họ: "Văn chương chung số phận mục nát với muôn loài". Trần Thái Tông cho rằng: "Dẫu rằng văn chương tài thế, dù cho tài mạo khuynh thành, cuối cùng nào có khác chi, rút cuộc cũng đồng một duộc - khóa hư lục - phô thuyết sắc thần" (Quan niệm văn học thời Lý - Trần - Tạp chí văn học, Số 6 - 1974). Trần Minh Tông đến phút lâm chung, sai bề tôi mang những bản chép thơ chế ngự ra đốt đi và nói rằng: "Vật đáng tiếc còn không thể tiếc được, tiếc làm chi cái thứ ấy". Ở đây, Trần Thái Tông và Trần Minh Tông chịu ảnh hưởng quan niệm "sắc, không", xem văn chương rút cuộc cũng không thể thoát khỏi vòng "sinh, diệt". Đây là một quan niệm văn chương mang tính tiêu cực. Đặng Huy Trứ và các tác giả sau này đã vượt qua hạn chế ấy. Ông luôn tỏ ra trân trọng và quý mến văn chương, thấy được sức sống bền vững và tính "muôn đời" của văn chương. Với lẽ trên, Đặng Huy Trứ xem thơ là món làm no lòng người, có thể ví như những món ăn cao lương mỹ vị khác. Trong bài "Nhị vị tập", Đặng Huy Trứ thể hiện niềm yêu thích ấy một cách di dỏm, đầy thú vị. Ông xem cách nấu nướng và thưởng thức những món ăn cũng như cách thưởng thức và sáng tạo thơ ca: "Tôi vốn mê cuốn "Tạc phi am tập", ví như mâm có nhiều món rau thịt đủ cả, nhưng đọc sách này có khi quên cả ăn. Chỉ hận ở nhà không trữ được cuốn nào, mà mượn thì phải trả. Kẻ đi xin dấm quanh hàng xóm mà chẳng ai cho thường than rằng, nêm canh mà chẳng có muối và mỡ" (Tựa cuốn "Nhị vị tập" khắc in lần thứ 2 - TP - tr.508). Cầm cuốn sách trên tay, ông vui mừng và ví: "Chẳng khác nào đứng trước cửa hàng thịt mà nghĩ đến chuyện sắp được mời ăn" và có sách bên cạnh thì "cơ hồ không thiết đến mùi thịt nữa". Sỡ dĩ có được cảm xúc và niềm say mê trên, bởi Đặng Huy Trứ nhận thấy rằng, thơ ca là chiếc cầu đưa con người đến bến bờ của hạnh phúc: "Cuốn sách Học vấn tân sở dĩ làm ra...bởi nó là cánh cửa để đi đến mục đích cuối cùng của bến bờ khát vọng". Muốn tạo ra những tác phẩm văn học kỳ diệu, tác động sâu xa đến đời sống thẩm mỹ của con người, theo Đặng Huy Trứ, người nghệ sĩ phải thông qua khổ luyện, phải lao tâm, khổ tứ bằng chính máu huyết của mình. Ông ý thức rất rõ vấn đề sáng tạo trong nghệ thuật: Làm được câu thơ năm chữ, vặt đứt mấy hàng râu; thậm chí phải "Dụng phá nhất kinh tâm" (Khiến tim nát cả một đời). Làm thơ phải khổ luyện và gian truân như vậy, nên : "Ngâm một câu, vịnh một câu đều là tâm huyết cả". Thông qua cái đẹp và sự sáng tạo nghệ thuật, văn học có thể trở thành món ăn tinh thần kỳ diệu, làm say lòng người. Đặng Huy Trứ đã thấy rõ sức lay động tâm hồn và cảm hóa lòng người của thơ ca. Văn học, nhất là thơ ca có khả năng bồi đắp thêm đời sống tinh thần cho con người, hướng cảm xúc và tâm hồn chúng ta đến sự thanh cao, tao nhã. Đặng Huy Trứ đã không ngừng sáng tạo, truyền bá những tác phẩm thơ ca có ích cho đời. Hơn 1200 bài thơ của ông đều có sức chinh phục, cảm hóa sâu sắc lòng người. Mỗi tác phẩm của Đặng Huy Trứ đều toát lên tinh thần nhân đạo đáng quý. Thơ ông: "Lời lời là gấm vóc, ý ý là nghĩa nhân" (Vũ Đình Liên - một trong những người tham gia dịch thơ Đặng Huy Trứ). Và như có ý kiến nhận xét: "Tinh tế cao xa mà gần gũi, bay bổng mà thiết thực, duyên dáng - tình tứ mà vẫn trong sáng làu làu như gương soi, gợi mở bao la mà vẫn cô đọng, hàm súc" (Hoàng Công Khanh - Tính chất trữ tình trong thơ Đặng Huy Trứ). Xuất phát từ một quan điểm nghệ thuật chân chính, với Đặng Huy Trứ, văn chương không chỉ để cảm hóa lòng người, biến cải cuộc đời, mà còn góp phần tích cực vào sự phát triển đi lên của xã hội. Để những mong sao đất nước này: "Cúi không thẹn với đất, ngửa không thẹn với trời"; nhằm: "thoát khỏi nỗi nhục không bằng người" - như ông từng đớn đau, trăn trở... Mặc dù không có mặt trong vườn tinh hoa của "Từ trong di sản" **, nhưng qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Đặng Huy Trứ có thể sánh với gương mặt của Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu... Đi sâu vào trước tác của ông, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng: Đặng Huy Trứ là một tác gia xuất sắc không những về sáng tác mà cả về mặt lý luận! Văn chương ông không những mang nặng tính nhân văn mà còn thấm nhuần chất lý luận. Tiềm ẩn trong những sáng tác, Đặng Huy Trứ đã để lại cho đời một quan niệm sâu sắc, độc đáo về bản chất, chức năng, mục đích của văn chương (đặc biệt là thơ). Quan niệm ấy được đúc kết từ thực tiễn sáng tác và máu huyết trong cuộc đời hoạt động của ông. Vì thế, nó càng trở nên sâu sắc, nhuần nhuyễn và "xanh tươi" hơn. Đặng Huy Trứ là một nhà thơ lớn của văn học Việt nam thế kỷ XIX; một danh nhân văn hóa lớn của đất Thuận Hóa - Huế. T.H.S (136/06-00) ---------------------------------------- (1) PhạmTuấn Khánh (Chủ biên) - Đặng Huy Trứ - Con người và tác phẩm - NXB Thành phố Hồ Chí minh - 1990. (2) Trần Thanh Mại - Vài nét trong quan niệm văn học của Lê Quý Đôn - Tạp chí Văn học, số 4 - 1960. (3) Phương Lựu - Viên Mai và lý luận thơ cổ Trung Quốc -Tạp chí Văn học, số 1-1973. (4) Đỗ Văn Hỷ - Cái hay trong thơ xưa dưới con mắt của nhà thơ xưa - Tạp chí Văn học, Số 4-1983. (5) Trần Nghĩa - Quan niệm văn học thời Lý - Trần - Tạp chí Văn học , số 6 - 1974. (6) Trần Mạnh Tiến - Những biến giải về thơ hồi đầu thế kỷ - Tạp chí văn học, số 12 - 1996. (7) Nguyễn Minh Tấn (Chủ biên) - Từ trong di sản - NXB Tác phẩm mới - Hà Nội, 1981. * Đặng Huy Trứ - Con người và tác phẩm - NXB - Thành phố Hồ Chí Minh, 1990. ** Cuốn sách tập hợp những ý kiến người xưa bàn về văn chương. |
HÀ VĂN THỊNH Nhân dịp “Kỷ niệm 50 năm Đại học Huế (ĐHH) Xây dựng và Phát triển”, ĐHH xuất bản Tạp chí Khoa học, số đặc biệt – 36, 4.2007.
NGÔ ĐỨC TIẾNNăm 1959, nhân dịp vào thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, đến gian trưng bày hiện vật và hình ảnh đồng chí Phan Đăng Lưu, đồng chí Lê Duẩn phát biểu: “Đồng chí Phan Đăng Lưu là một trí thức cách mạng tiêu biểu”.
NGUYỄN KHẮC MAITháng 3 –1907, một số sĩ phu có tư tưởng tiến bộ của Việt Nam đã khởi xướng thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội với mục đích “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” hô hào xây dựng đời sống mới mà giải pháp then chốt là mở trường học, nâng dân trí, học hỏi những bài học hoàn toàn mới mẻ về dân chủ, dân quyền, dân sinh, dân trí, cả về sản xuất kinh doanh, xây dựng lối sống văn minh của cá nhân và cộng đồng.
HỒ THẾ HÀ Thật lâu, mới được đọc tập nghiên cứu - phê bình văn học hay và thú vị. Hay và thú vị vì nó làm thỏa mãn nhận thức của người đọc về những vấn đề văn chương, học thuật. Đó là tập Văn chương - Những cuộc truy tìm(1) của Đỗ Ngọc Yên.
ĐOÀN TRỌNG HUY
Huy Cận có một quãng đời quan trọng ở Huế. Đó là mười năm từ 1929 đến 1939. Thời gian này, cậu thiếu niên 10 tuổi hoàn thành cấp tiểu học, học lên ban thành chung, sau đó hết bậc tú tài vào 19 tuổi. Rồi chàng thanh niên ấy tiếp tục về học bậc đại học ở Hà Nội.
NGUYỄN KHẮC THẠCHTrước hết phải thừa nhận rằng, từ ngày có quỹ hỗ trợ sáng tạo tác phẩm, công trình Văn học Nghệ thuật cho các Hội địa phương thì các hoạt động nghề nghiệp ở đây có phần có sinh khí hơn. Nhiều tác phẩm, công trình cá nhân cũng như tập thể được công bố một phần nhờ sự kích hoạt từ quỹ này.
THẠCH QUỲTrước hết, tôi xin liệt kê đơn thuần về tuổi tác các nhà văn.
TÙNG ĐIỂNLTS: “Phấn đấu để có nhiều tác phẩm tốt hơn nữa” là chủ đề cuộc tập huấn và hội thảo của các Hội Văn học Nghệ thuật khu vực miền Trung và Tây Nguyên tại thành phố Nha Trang đầu tháng 7 vừa qua. Tuy nhiên, ngoài nội dung đó, các đại biểu còn thảo luận, đánh giá hiệu quả sử dụng quỹ hỗ trợ sáng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật trong mấy năm gần đây.Nhiều ý kiến thẳng thắn, tâm huyết, nhiều tham luận sâu sắc chân thành đã được trình bày tại Hội nghị.Sông Hương xin trích đăng một phần nội dung trên trong giới hạn của chuyên mục này.
PHẠM PHÚ PHONGMột đặc điểm tương đối phổ biến của các tác giả sáng tác ở miền Nam trước đây là hầu hết các nhà văn đều là những nhà văn hoá, tác phẩm của họ không chỉ thể hiện sự am hiểu đến tường tận các lĩnh vực văn hoá, mà trong một đời văn lực lưỡng của mình, họ không chỉ sáng tác văn chương mà còn sưu tầm, dịch thuật, khảo cứu nhiều lĩnh vực văn hoá như lịch sử, địa lý, địa chí, ngôn ngữ, dân tộc học, văn học và văn hoá dân gian, như các tác giả từng toả bóng một thời là Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Chánh Sắt, Đông Hồ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Xuân, Sơn Nam... trong đó có Bình Nguyên Lộc.
PHAN KHÔILời dẫn Bài mà tôi giới thiệu dưới đây thuộc một giai đoạn làm báo của Phan Khôi còn ít người biết, − giai đoạn ông làm báo trên đất Thần Kinh, tức thành phố Huế ngày nay, những năm 1935-1937; khi ấy Huế đang là kinh đô của triều Nguyễn, của nước Đại Nam, nhưng chỉ là một trung tâm vào loại nhỏ xét về báo chí truyền thông trong toàn cõi Đông Dương thời ấy.
PHONG LÊÔng là người cùng thế hệ, hoặc là cùng hoạt động với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Như Phong... Cùng với họ, ông có truyện trên Tiểu thuyết thứ Bảy và Trung Bắc chủ nhật trong những năm 1941-1945. Cùng hoạt động trong Hội Văn hóa cứu quốc đầu Cách mạng tháng Tám, và tham gia xây dựng văn nghệ kháng chiến, làm tờ Tạp chí Văn nghệ số 1 - tiền thân của tất cả các cơ quan ngôn luận của Hội Văn nghệ và Hội Nhà văn Việt Nam.
TRẦN VĂN SÁNGCó thể nói, học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết, là học tập cách viết và cách lập luận chặt chẽ qua từng câu chữ, mỗi trang văn chính luận. Những văn bản: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Tuyên truyền”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Tuyên ngôn Độc lập” luôn là những áng văn mẫu mực về phong cách ngôn ngữ ngắn gọn, chắc chắn, dễ hiểu, chính xác và giàu cảm xúc.
TRẦN THỊ MAI NHÂNNgười ta kể rằng, ở Ấn Độ, trong cái nhộn nhịp của cuộc sống, con người thường nghe văng vẳng tiếng gọi: “Hãy chở ta sang bờ bên kia”. Đó là tiếng gọi của con người khi “cảm thấy rằng mình còn chưa đến đích” (Tagore).
HOÀNG THỊ BÍCH HỒNGKhái niệm “Lạ hoá” (estrangemet) xuất hiện trong những năm 20 của thế kỷ XX gắn với trường phái hình thức Nga. Theo Shklovski thì nhận thức của con người luôn có xu hướng tự động hoá để giảm bớt năng lượng tư duy, “người ta thường dùng những từ quen thuộc đến sờn mòn”(1).
VÕ THỊ THU HƯỜNGTrời đất bao la mênh mông, ẩn chứa thật nhiều những bí mật mà con người chúng ta không ngừng khám phá mỗi ngày và cũng đã đạt được rất nhiều thành tựu mới mẻ và kỳ lạ.
TZVETAN TODOROV Lời dẫnNền văn chương đang lâm nguy (La littérature en péril)(1), đó là tựa đề cho cuốn sách mới nhất, vừa được xuất bản ở Pháp của nhà lý luận văn học nổi tiếng: Tzvetan Todorov - đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa cấu trúc, tác giả của nhiều công trình khoa học tầm cỡ.
LẠI NGUYÊN ÂN 1. Phạm trù chủ nghĩa cá nhân (individualisme) của tư tưởng phương Tây được Phan Khôi (1887-1959) đề cập từ cuối những năm 1920 đầu những năm 1930, khi mà một trong những đề tài thu hút ngòi bút viết báo của ông chính là vấn đề thời sự của đời sống văn hoá tư tưởng đương thời: trạng thái và số phận của những tư tưởng cổ truyền phương Đông trước một xu thế đang diễn ra trên chính phương Đông, được gọi là xu hướng “Âu hoá”.
HỒ THẾ HÀPhân tâm học ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc nhận thức những vấn đề thầm kín, vi diệu nhất của tâm sinh lý con người. Nó trở thành khoa học phân tích tâm lý chiều sâu của mọi hành vi trong đời sống ý thức và vô thức của mỗi cá thể người.
TRẦN THỊ THANH NHỊ “Tôi bị thôi thúc bởi một thứ khao khát hiểu biết có liên quan đến những quan hệ giữa người với người hơn là với các đối tượng tự nhiên.”(Sigmun Freud)
TZVETAN TODOROV(Cuộc tranh luận văn học giữa George Sand và Gustave Flaubert - qua đánh giá của Tzvetan Todorov)