Cuộc chiến đấu nhằm bảo vệ đảo Cồn Cỏ trong những năm chống Mỹ

14:58 19/10/2009
TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.

Minh họa: Ngô Lan Hương

Mục tiêu của địch là muốn huỷ diệt Vĩnh Linh mà trước hết là huỷ diệt Thị trấn Hồ Xá nơi trung tâm văn hoá, chính trị tiêu biểu cho 10 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Vĩnh Linh, hòng làm tê liệt cả khu vực; đánh phá nơi tập kết chân hàng để chi viện cho miền Nam; đánh phá huỷ diệt hoặc chiếm bằng được đảo Cồn Cỏ. Nếu chiếm được đảo, địch sẽ dễ dàng cắt đứt đường tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam; đồng thời dùng Cồn Cỏ làm bàn đạp chiếm đánh Vĩnh Linh lúc có điều kiện v.v...

Lúc 14 giờ 30 ngày 8/2/1965, 82 lần chiếc máy bay chia thành 14 tốp với F4H bay tầng trên do Mỹ chỉ huy và AD6 tầng dưới do nguỵ chỉ huy bắn phá khu vực Vĩnh Linh. Cụ thể là đánh vào Sư đoàn 341, Xí nghiệp Lê Thế Hiếu, xí nghiệp chè hương Bến Hải, Đài anh hùng, Trường cấp 3 Hồ Xá, đã giết chết Lê Duy Minh, một thầy giáo giỏi toán ở miền Bắc và 8 học sinh cấp III, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại mảnh đất nhỏ hẹp Vĩnh Linh.

Từ tháng 3 đến tháng 6/1965 Mỹ huy động 615 lần tốp, 1421 lần chiếc đánh phá nhiều mục tiêu ở Vĩnh Linh rất ác liệt, đặc biệt là đảo Cồn Cỏ cứ 2 ngày đánh phá 1 lần. Trong 18 lần tàu chiến bắn phá vào đất liền thì có 6 lần đánh phá vào đảo Cồn Cỏ.

Đảo sống là nhờ có đất liền. Từ vũ khí, lương thực, thực phẩm, nước ngọt đều nhờ vào đất liền tiếp tế ra. Từ tháng 5/1965 trở đi trên đảo khá nguy ngập: gạo ăn đã cạn, đạn bắn phải tính từng viên, nước ngọt thiếu thốn. Sau trận đánh phá đầu tiên, một quả bom rơi trúng bể chứa nước mưa, đảo hết sạch nước ngọt. Bộ đội ta phải chặt chuối rừng vắt lấy nước uống. Trong lúc đó địch cho tàu chiến vây quanh bịt kín mọi lối ra vào giữa đảo với đất liền. Địch hy vọng trong một thời gian ngắn đội quân nhỏ bé trên đảo không đầu hàng cũng phải chết gục vì đói khát.

Đầu tháng 6/1965 Đảng uỷ khu vực phát đi lời kêu gọi “Tất cả vì đảo”, phát động toàn bộ Đảng bộ quân dân Vĩnh Linh quyết tâm giữ đảo đến cùng. Được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị động viên, giúp đỡ, Vĩnh Linh rộ lên một phong trào sôi nổi trong Đảng, Đoàn thanh niên, lực lượng vũ trang. Ở đảo nêu khẩu hiệu “Còn đất liền còn đảo”. Đất liền đáp lại “Còn đảo còn đất liền”. Có hàng ngàn lá đơn gửi lên xã, lên khu vực xin đi tiếp tế đảo. Trong đó có những lá đơn viết bằng máu hoặc của các cụ già 70, 80 tuổi xin được ra đảo cùng thanh niên.

Giữa tháng 6/1965 trở đi, nhiều đoàn thuyền chở vũ khí, lương thực, nước ngọt rời bến ra tiếp tế cho đảo. Có những chuyến đi trót lọt nhưng có nhiều chuyến bị tàu chiến địch bắn đuổi, bao vây, có người, có thuyền không trở về. Con đường mở ra bao thử thách, hy sinh. Ban đêm tàu địch dàn hàng ngang nã đại bác vào bờ, bắn pháo sáng. Ban ngày chúng cho máy bay trinh sát thám thính từ sáng đến chiều, hễ thấy thuyền và người trên biển là chúng gọi máy bay phản lực đến bắn phá.

Lúc này thuyền gỗ trở thành phương tiện chủ yếu và lợi hại nhất trong việc tiếp tế đảo. Vì thuyền nhỏ dễ luồn lách cơ động. Để bảo vệ lực lượng tiếp tế cho đảo, một số hoả lực của ta được trên điều ra gần sát bờ biển, đồng thời trang bị vũ khí, huấn luyện cách đánh cho những người đi biển, ta cũng tổ chức hợp đồng tác chiến giữa pháo mặt đất và pháo ở đảo với những dân quân tiếp tế đảo.

Trong những người đi tiếp tế đảo có nhiều cụ già dày dạn trong nghề đi biển thường được giao làm thuyền trưởng hoặc cố vấn.

Cụ Quy ở Vĩnh Quang tiếp tế đảo từ đầu đến cuối, thuyền cụ có 14 người, đã có 6 hy sinh trên biển. Ở xã Vĩnh Quang trong 2 tháng của năm 1967 có 150 cán bộ, dân quân, xã viên ra đi, khi trở về chỉ còn một nửa. Thanh niên Nguyễn Quang Soa xã Vĩnh Thái từ năm 1965 đến 1968 có 58 lần đi tiếp tế đảo, 54 lần gặp tàu chiến địch vây đuổi bắn phá nhưng thuyền anh vẫn vượt qua, đưa hàng tới đích. Tiêu biểu hơn cả là Lê Văn Ban (xã Vĩnh Giang) là một thuyền trưởng gan góc, đầy mưu trí. Có lần thuyền Ban bị địch bắn đuổi, vừa phải chống chọi với gió bão thuyền anh bị trôi dạt về phía Nam. Lê Văn Ban bình tĩnh cử người lên bộ bắt liên lạc với cơ sở ta. Sáng hôm sau cùng với du kích địa phương tổ chức đánh địch chống càn quét thắng lợi anh lại đưa thuyền trở về Bắc an toàn. Anh được Quốc hội, Chính phủ tặng thưởng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.

Hàng ngàn tấn vũ khí pháo 85 ly, cao xạ pháo 14,5 ly, lương thực, vật dụng đã được đất liền chuyển ra đảo, làm cho các chiến sĩ ở đảo đỡ thiếu thốn và đủ sức chiến đấu liên tục 2 - 3 năm trời. Nhưng cái giá phải trả cho mỗi viên đạn, mỗi bát gạo phải đổi bằng máu.

Trước những hành động và tình cảm của đất liền, cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ đã gan góc kiên cường bám giữ đảo, bắn hạ 48 chiếc máy bay Mỹ, trong đó có 29 chiếc rơi tại chỗ; có ngày rơi 4 chiếc; có lần chỉ trong 2 giờ bắn rơi 3 chiếc; bắn cháy 17 hải thuyền của địch. Cồn Cỏ vinh dự được Quốc hội, Hồ Chủ tịch 2 lần tuyên dương là đơn vị anh hùng và 3 cá nhân được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang: Thái Văn A, Nguyễn Tăng Mật, Cao Văn Khang. Toàn đảo được Bác tặng 2 câu thơ:

            Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận
            Đánh cho tan xác giặc Huê Kỳ”.

Trước sự đánh phá ác liệt của không quân, tàu chiến địch, Đảng uỷ khu vực, Đảng uỷ các xã buổi đầu chưa đánh giá hết tinh thần dám xả thân bảo vệ đảo của quần chúng nên có phần lo ngại không đủ số người cần thiết cho những chuyến hàng ra tiếp tế đảo. Có ngờ đâu, sau ba tuần lễ phát động, đã có hàng ngàn lá đơn tình nguyện gửi lên cấp trên xin đi tiếp tế giữ đảo.

Số được Đảng uỷ và xã đội bố trí đi thì hết sức phấn khởi thoả mãn nguyện vọng, nhưng vì nhu cầu có hạn mà người tình nguyện đi quá đông, hơn nữa theo phương án chỉ đạo của ta là phải ăn chắc, không ồ ạt, tránh thương vong không cần thiết, do đó có nhiều người qua 9, 10 lần chưa được đi đâm ra thắc mắc có những suy diễn mông lung, mơ hồ. Có người tự nghĩ rằng quá khứ bản thân có tham gia ngụy quân, hoặc gia đình có tham gia bóc lột, hoặc vì có sai phạm khuyết điểm gì mà cấp trên không tin, không cho đi. Sau nhiều lần đả thông, giải thích họ vẫn không thông, thậm chí kéo dài 5 - 7 tháng trời, có trường hợp 2-3 năm sau vẫn không hết thắc mắc, cho rằng bản thân không được cấp trên tin tưởng.

Nghịch lý với buổi đầu sợ không có đủ người đi, phải làm đủ liều lượng công tác tư tưởng, nhưng trên thực tế, do nhiều người muốn đi mà không được đi, nên việc giải quyết công tác tư tưởng cho người không được đi còn khó khăn gấp bội. Bất ngờ thú vị này cũng là minh chứng sinh động nhất về lòng yêu nước, tinh thần quả cảm, dám xả thân vì nước, vì đồng đội của những người dân Vĩnh Linh trong cuộc chiến không cân sức với quân thù.

Huế - Vĩnh Linh 8/2004
T.K.H
(190/12-04)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

  • LÊ KHAI           Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ.  Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.

  • HÀ KHÁNH LINH            Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.

  • NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.

  • PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước  vào đời.

  • NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

  • TRẦN HOÀI                  Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...

  • LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.

  • NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.

  • TỐ HỮU        Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời

  • VÕ MẠNH LẬP            Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                         Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.

  • NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.

  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).